- Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới - https://damau.org -

Quyển sách trên hoang đảo – 1

 

clip_image002Tuần san Télérama hiện diện trong đời sống dân Pháp từ 1947. Chuyên mục Thư viện Tuyệt hảo (Bibliothèque Idéale) trong số báo ra ngày 18 tháng 3-2009, đặt câu hỏi: “Mười quyển sách si mê nhất?” Và trả lời: “Tiết lộ của một trăm nhà văn Pháp ngữ.”

Dẫn nhập của Télérama vắn tắt: “Không nhằm đưa ra một danh sách các kiệt tác không thể chối cãi, nhưng giúp bạn đọc biết đến, bằng lối đi riêng, vào tủ sách thân mật kín đáo của các nhà văn, với những tác phẩm được lưu trữ, gìn giữ, đã truyền cảm hứng làm nên văn nghiệp.”

Lướt qua các trang kế tiếp, ghi nhận đầu tiên là các văn gia Pháp chuộng các tác giả xưa: Molière, Shakespeare, Cervantès, Diderot, Mme de La Fayette, Balzac… rồi đến các đền đài Dostoïevski, Proust, Beckett, Kafka, Borgès, James Joyce… đến các thành trì Stendhal, Flaubert, Faulkner, Camus, Thomas Mann, Klaus Mann, Céline, Henry Miller, Nabokov, Steinbeck, Salinger… rồi là các quán ăn Charles Dickens, Jean Giono, Jean Genet, Hemingway, Scott Fitzgerald, Musil… Phái nữ, Virginia Woolf chiếm đầu bảng. Tên Woolf lập đi lập lại rồi mới đến Nathalie Sarraute, Marguerite Duras, Carson McCullers… Hiển nhiên, vì văn Woolf đẹp vô ngần mà truyền thống văn chương Pháp trọng cú pháp, phải hành văn trước đã rồi hẳn bàn đến nội dung. Susan Minot, Edgar Allan Poe ít được nhắc đến. Alice Munro không một lần. Ngạc nhiên lớn, là những thánh đường Jean Paul Sartre, St.Exupéry, Alain Robbe-Grillet hay những ngôi đền mang tên Sigmund Freud gần như vắng bóng. Các văn hào trong sách giáo khoa như George Sand, Émile Zola càng bị tẩy chay. Nếu Nietzsche, Pascal với Heiddeger đứng đầu môn triết, Georges Bataille và Roland Barthes ngự trị phê bình. Còn thi sĩ? Các thi tập gối đầu của 100 văn gia Pháp vẫn là Homère, Beaudelaire, Chateaubriand, Rimbaud, Verlaine, Lautréamont, Marina Tsvétaïeva, Stéphane Mallarmé… những giá trị bất biến. (Hoàn toàn không thấy Paul Valéry mà Mai Thảo với Thanh Tâm Tuyền yêu quý, riêng Jacques Prévert chỉ được nhắc 2 lần). Còn Nam Mỹ? Gabriel García Márquez xuất hiện cùng khắp.

Rút ra gì từ tiết lậu của những nhà văn Pháp chuyên nghiệp mà trong danh sách có cả Prix Nobel Patrick Modiano?

1- Cảm thụ của họ rất xưa, gần như chưa bước sang thế kỷ 21. Hay vì tất cả đã theo lời khuyên của André Aciman: Nên đọc sách xưa, vì chỉ sách xưa mới có văn phong. ?

2- Thể truyện ngắn với thi ca không phải là sách gối đầu giường, mà hầu hết là truyện dài. Các bậc thầy truyện ngắn Guy de Maupassant, Anton Tchékhov hay Cortázar phải nhường nấc thang yêu mến cho Céline, Claude Simon hoặc Márquez.

3- Phái Hiện sinh chỉ có Camus lọt vào mắt xanh của các văn gia hôm nay, Les Mots của Sartre xuất hiện đúng 2 lần. Phái Tân Tiểu thuyết có Nathalie Sarraute nhưng tiểu thuyết Ghen của Robbe-Grillet được duy nhất một nhà văn đương đại yêu thích. Viên hạt trai Hoàng tử bé của St. Exupéry rơi vào quên lãng. Với tiểu thuyết Nga, không phải Pasternak hay Soljenitsyne, mà Dostoïevski. Tiểu thuyết Tây Ban Nha: Cervantès ngự trị vĩnh cửu. Tiểu thuyết Hoa Kỳ: Faulkner thống lĩnh. Tiểu thuyết Pháp: Vẫn Stendhal và Flaubert với hiện tượng Marcel Proust: trong 100 văn gia Pháp, hết 35 xem Proust là sách gồi đầu giường! Văn học Đức ngữ: Rainer Maria Rilke[ với Thomas Bernhard đẩy lùi Goethe và Brecht vào trong bóng mờ. Á châu thấp thoáng nét bút của Kenzaburo Oé, Nam Phi đậm hơn với Coetzee. Nếu các tên tuổi Kundera, Murakami, Cao Hành Kiện, Mặc Ngôn như thứ trang sức đã hết mùa, thánh tổ nữ quyền Simone de Beauvoir chỉ được nhắc tên vỏn vẹn có 2 lần.

Còn nhà văn Việt? Phạm Thị Hoài viết: Tôi sẽ không chọn Alice Munro nếu bị lưu đày ra một hòn đảo vắng mà chỉ được đem theo một cuốn sách.

Đến lúc chúng ta cũng cần một “lối đi riêng, vào tủ sách thân mật kín đáo của các nhà văn.”

 

Nếu bị lưu đày ra hoang đảo, và chỉ được đem theo một quyển sách duy nhất, không cho phép đem sách của chính mình và bất kỳ thể loại, ngôn ngữ, kẻ đi đày sẽ đem theo quyển sách nào? Vì sao?

 

(*) https://www.telerama.fr/livre/100-ecrivains-francais-devoilent-leurs-10-livres-preferes,40786.php

 

oOo

 

 

 

clip_image004

Trương Vũ: Nếu bị đày ra một hoang đảo, ý nghĩ đầu tiên là phải làm cách nào thoát khỏi hoang đảo. Bằng luật pháp? Tôi sẽ mang theo một cuốn sách luật liên quan đến trường hợp lưu đày của tôi để nghiên cứu, để sẽ dùng đến khi có cơ hội. Không tin vào luật pháp? Tôi sẽ mang theo một cuốn chỉ nam về mưu sinh thoát hiểm. Nhưng nếu tự biết mình già quá rồi, yếu lắm rồi, nên đầu hàng số mệnh, tôi mang theo Thánh Kinh nếu tin vào ơn cứu rỗi, hay mang theo cuốn Kinh A Di Đà để trì tụng mỗi ngày nơi hoang đảo để mong một ngày nào đó sẽ được về cõi Tây Phương Tịnh Độ, Tuy nhiên, những cách ứng xử này, dù gần với thực tế, thiếu chất văn chương. Vậy, tôi sẽ mang theo một tác phẩm văn học. Khổ nổi, tôi tin rằng tác phẩm văn học, bao gồm triết học, dù giá trị thế mấy nếu cứ đọc liền tù tì suốt ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, sẽ tới lúc chán ngấy, sẽ quăng nó đi. Nhưng, vì phải chọn một cuốn, tôi chọn: Kim Các Tự (The Temple of the Golden Pavilion) của Yukio Mishima. Có ba lý do chính khiên tôi không ngừng suy ngẫm về tác phẫm này. Thứ nhất, đây là một tiểu thuyết hay, hư cấu tài tình từ một biến cố thật, đặt trên nền tảng của một thứ tình yêu vừa khốc liệt, tàn bạo, vừa có vẻ như bệnh hoạn, về cái đẹp. Lý do thứ hai liên quan đến tác giả. Yukio Mishima là một nhà văn lớn của Nhật, tác phẩm văn học của ông lớn, ông lại có một ý nghĩ độc đáo là biến chính cuộc đời mình cũng thành một tác phẩm lớn, cũng với một đam mê khốc liệt và tàn bạo. Nhưng, tác phẩm này cùng với cách kết thúc của nó lại rất tệ. Thứ ba, và đây là lý do chính, tiểu thuyết Kim Các Tự có đề cập đến công án Thiền thứ mười bốn của Vô Môn Quan: Thiền Sư Nam Tuyền giết mèo. Công án Thiền không thể diễn đạt tận cùng bằng ngôn ngữ bình thường nhưng có thể làm người nghe “bừng tỉnh”. Nói theo Thiền Tông, là đốn ngộ. Tôi không thật sự hiểu vì lý do sâu xa nào, hay chỉ từ tiềm thức, Yukio Mishima đưa công án vào truyện. Nhưng chính sự hiện diện của công án trong Kim Các Tự khiến tôi quyết định mang nó ra hoang đảo. Tôi sẽ đọc Kim Các Tự thường xuyên, đụng đi đụng lại cái công án này. Và, nếu chẳng được gì cả, tôi sẽ cố gắng thiền định mỗi ngày. Tôi sẽ thiền định dưới bóng mát của cây. Tôi sẽ ngồi trên một tảng đá lớn nào, nhìn ra biển bao la, và… thiền định. Thiền định sẽ trở thành một thứ bất khả ly, kể cả khi đúng khi ngồi, khi ăn, khi uống… Tôi sẽ đưa công án vào Thiền, hay, tống khứ nó ra khỏi Thiền. Có thể, như thế, tôi vẫn không bừng tỉnh được. Nhưng, biết đâu, một lúc nào đó bất chợt, tôi “được”, Chẳng hạn, biết đâu, nơi hoang đảo, vào một lúc nào đó, tôi bị cọp rượt chạy tóe khói. Nếu may mắn, tôi leo kịp lên cây, hú vía, và…tôi “bừng tỉnh”. Cũng có thể, tôi chạy không kịp, bị cọp vồ, và vào đúng cái sát na cuối đời đó, tôi “bừng tỉnh”. Một khi đã “bừng tỉnh”, hay nói cách khác, đã đốn ngộ, thì cái “hoang đảo” có nghĩa gì đâu. Lúc đó, chắc tôi sẽ thật sự cảm nhận, một cách sâu sắc, như một Thiền sư đã đốn ngộ, ý nghĩa hai câu cuối trong bài Lô Sơn của Tô Đông Pha. Không đến Lô Sơn hay đến Lô Sơn, không ra hoang đảo hay ra hoang đảo, cũng thế thôi.

  Đến rồi về lại không gì lạ
Mù tỏa Lô Sơn sóng Triết Giang

 

 

 

 

clip_image006

Nguyễn Hoàng Diệu Thủy: Tôi sẽ mang theo tập truyện ngắn của Stefan Zweig, người chưa bao giờ làm tôi thôi ngạc nhiên về khả miêu tả những chuyển động tinh vi đến thế trong tâm hồn con người. Tôi cảm giác Zweig có lòng say mê con người đến độ kỳ lạ. Mỗi con người, với Zweig, là một thế giới sâu thẳm, bất ngờ, không lặp lại và bởi thế đem cho ông niềm hứng thú vô biên. Zweig có khả năng dẫn dụ bằng giọng văn miên man, hơi cổ điển, tốc độ chậm nhưng mạnh mẽ. Zweig là “nhiều trong một”: nhà văn, nhà báo, thám tử, nhà tâm lý, bác sĩ thần kinh. Đọng lại trong các thiên truyện của Zweig là lòng thương xót con người vô hạn. Đọc Zweig dù buồn tê tái nhưng sau hết có cảm giác được xoa dịu, được an ủi vô cùng, tưởng như những nỗi đau của chính ta cũng được ông tìm đến và thấu hiểu. Khi đọc một tác giả, tôi hay mường tượng ra ấn tượng màu sắc nào mà tác giả ấy đã để lại trong tôi. Nếu Kafka là màu đen, thì Zweig sẽ là màu xám, thứ màu buồn bã nhưng không tuyệt vọng, và nếu quyến luyến đủ lâu, sẽ nhận ra ở nó sự vững chắc, cân bằng pha lẫn nỗi dịu dàng khôn xiết. Tính hiện sinh của Zweig có lẽ là ở chỗ này. Vì vậy nếu bị bỏ đơn côi trên đảo hoang, trong một tình thế ngặt nghèo, còn gì hơn là đọc Zweig?



clip_image008

Đỗ Hoàng Diệu: Một mình giữa hoang đảo? Tôi đã nghĩ đến Tuyển tập Hồ Chí Minh hay Văn kiện Đảng Toàn tập, hoặc sách hồi ký, lịch sử do nhà Sự Thật xuất bản. Vì sao? Chúng khôi hài. “Sự thật” trong nhấp nháy.

Nhưng thời gian trên hoang đảo, có thể là những giờ khắc cuối cùng được hít thở hơi nhân gian, ngắm bầu trời vời vợi, đọc chữ của con người. Không thể phí khoảnh khắc ấy cho văn bản biếm họa với cái cười giễu cợt.

Tôi lại băn khoăn giữa Âm thanh và Cuồng nộ của Faulkner với Đỉnh Gió hú của Emily Brontë. Về mặt văn chương, tôi thích Faulkner hơn, nhưng câu chuyện được kể trong Đỉnh Gió hú có sức quyến rũ kỳ lạ một đàn bà như tôi. Câu chuyện tình yêu bạo cuồng, đôi lúc thành điên loạn trên mỏm đất có khi giáp cổng trời có khi gần miệng vực sâu.

Rồi, tôi mê Đỉnh Gió hú, tôi mang theo. Đọc xong, sẽ đọc lại, đọc lại, đọc lại giết thời gian. Không được, tôi không thể đọc đi đọc lại cuốn sách ấy. Câu chuyện đã được phơi bày ngay từ lần đọc đầu tiên còn gì.

Vậy nên, Âm thanh và Cuồng nộ là lựa chọn cuối cùng của tôi. Mỗi lần đọc nó, tôi tìm ra một bất ngờ. Chỉ một thôi, đừng nhiều, để lần sau còn tìm tiếp. Cứ thế, cứ thế, hoang đảo thành đất liền, thành nước Mỹ, thành Việt Nam, thành ngôi nhà ấu thơ, thành trại điên…



clip_image010

Ban Mai: Bị lưu đày ra hoang đảo, bạn đem theo 1 cuốn sách gì? một giả định thú vị.

Tôi từng có những chuyến đi xa trên những hòn đảo trong 1, 2 ngày rồi trở về, nên lúc đó chỉ là những chuyến du ngoạn thư giản, tôi chỉ thích ngắm nhìn thiên nhiên, nằm vùi trên cát nhìn những dãi mây đủ màu sắc thay đổi liên tục trên bầu trời trong những buổi sáng tinh mơ khi mặt trời sắp lên hay khi hoàng hôn buông xuống, tha hồ ngắm cây cỏ hoa lá trên đảo hoang, rồi trở về.

Bị lưu đày trên đảo trong một thời gian dài lại là một vấn đề hoàn toàn khác.

Tôi nghĩ rằng trong tình huống đau buồn và bất lực đó, cuốn sách Thần thoại Hy Lạp là lựa chọn của tôi. Tôi nhớ tháng 4 năm 1975 gia đình tôi di tản vào Sài Gòn, tôi được gửi đến ở nhà ông Tám trong một con hẻm ở Bà Quẹo, sát một ngôi chùa. Đang sống thanh bình êm ấm với gia đình tại thành phố biển Quy Nhơn, đột nhiên bị rơi vào 1 tình huống tiến thoái lưỡng nan ở Sài Gòn. Lúc ấy tôi còn nhỏ nên không có việc gì làm, 1 tháng ở nơi đó hàng ngày tôi đi ra đi vào, và cứ ngồi một mình dưới gốc cây trứng cá trong sân chùa nhìn thạch sùng leo lên leo xuống ở trên cây. Tôi đã may mắn thoát khỏi nỗi cô đơn buồn bả bằng cuốn Thần thoại Hy Lạp trong tủ sách của ông Tám, và nó đã giúp tôi thoát khỏi cuộc sống thực tại, cuốn sách dày với nhiều truyện lý thú, những câu truyện của các vị thần đã nâng tâm hồn tôi rất nhiều, nó đem những xúc cảm thẩm mỹ về một thế giới huyền ảo, kích thích trí tượng tượng giúp tôi hướng vào những ước mơ đẹp đẽ, thấy yêu cuộc đời hơn.

Và tôi nghĩ, không có gì tuyệt vời hơn khi bị lưu đày ra hoang đảo, tìm quên thực tại bằng cách đắm chìm vào thế giới thần tiên của các vị Thần, để lấy lại năng lượng tích cực cho mình, cho những ngày dài đơn độc ở chốn này.



clip_image012

Ngô Nguyên Dũng: Câu hỏi này tôi đã “bị” người bản xứ chất vấn vài lần rồi, và tôi không khỏi lúng túng. Theo tôi hiểu, khi một ai “bị lưu đày”, có nghĩa là trước đó họ đã phạm tội gì đó và bị kết án “lưu đày ra hoang đảo”. Vì vậy, chuyện ăn ở đã có người lo, dẫu không đầy đủ. Chỉ thiếu mỗi thực phẩm tinh thần. Chỉ một quyển sách? Thôi, có còn hơn không. Cá nhân tôi không có đủ trình độ ngoại ngữ để đọc và cảm thông trọn vẹn tâm tư cùng những chuyên chở của tác giả trong một nguyên bản tiểu thuyết được viết bằng tiếng nước ngoài, ngoại trừ những tác phẩm tiếng Đức, là thứ ngôn ngữ mà tôi thành thạo sau tiếng Việt. Có quyển, đọc cũng thấy hay, cũng thấy rung động, nhưng không giống với những rung động khi tôi đọc một quyển tiểu thuyết được viết bằng tiếng Việt, của một tác giả Việt nam. Bởi lẽ, Đức ngữ không phải là tiếng mẹ đẻ của tôi. Tôi có đọc, nhưng không mấy thích những bản dịch sang tiếng Đức. Và nhất là những bản dịch sang Việt ngữ. Thấy lấn cấn sao ấy!

Vì lẽ đó tôi sẽ đem theo Vòng Tay Học Trò của Nguyễn thị Hoàng, quyển tiểu thuyết mà tôi đã đọc lần đầu trước đây hơn nửa thế kỷ ở Sài gòn. Sau này có dịp đọc lại ở ngoài nước, tôi vẫn thấy thích. Vì vậy, tôi nghĩ mình có thể đọc đi đọc lại quyển sách này trên một đảo hoang cho tới khi hết hạn lưu đày. Được về lại nhà, chuyện đọc tính sau. Đơn giản vậy thôi.



clip_image014

Hoàng Hưng: Văn xuôi, một cuốn Anh em nhà Karamazov của Dostoïevski. Nó là “đột phá khẩu” vào cõi sâu thẳm của tâm hồn con người, nhất là con người hiện đại, với mỗi nhân vật là một mặt. Thơ, không cần mang. Vì Thơ ta yêu thì đã nằm lòng rồi, kể cả những bài thơ của người khác và những câu thơ sắp “vụt hiện”…




clip_image016

Ý Nhi: Lần nọ, tôi quyết định rời nhà ít lâu. Tôi lên chuyến tàu đêm về H, sớm hôm sau đáp ca-nô ra thành phố biển rồi từ đó, theo tàu chở rau củ, đến đảo TC. Đảo vắng, yên tĩnh và yên ổn. Tôi đi loanh quanh cả buổi chiều rồi ngồi lại ngoài biển, khi mặt trời lặn. Tự nhiên, tôi nhớ tới câu nói của Hoàng tử bé: “một ngày nọ, tôi đã nhìn mặt trời lặn liên tiếp bốn mươi ba lần… Lúc người ta buồn quá đỗi, người ta yêu dấu cảnh mặt trời lặn xiết bao.” Tôi cũng đang buồn quá đỗi.

Suốt 3 ngày trên đảo, tôi cầm cuốn Thao thức của A. Kron – cuốn sách duy nhất tôi mang theo – đi lang thang qua những khu nhà đơn sơ của ngư dân, những rừng phi lao xao xác gió, những bờ cát bạc trắng. Và, buổi chiều thì khoanh tay bó gối nhìn cái khối lửa ấy dần lặn xuống biển. Tôi tự hỏi, vì sao không phải A. Kron mà là Saint-Exupéry vào lúc này. Có phải, vì tôi cũng đang làm một cuộc viễn du (ngắn ngủi), đang tìm cách rời xa “hành tinh” của mình, rời xa nỗi lo âu, cay đắng, buồn khổ của mình…

Câu hỏi của anh khiến tôi nhớ lại câu chuyện cũ ấy. Nhưng đó chỉ là một chuyến giang hồ vặt, còn lúc này, là một cuộc lưu đày cơ mà. Lựa chọn những thứ thiết yếu nhất cho đời sống là việc dễ dàng nhưng lựa chọn sách, lại là cuốn sách duy nhất, thực sự là việc khó khăn, một điều kiện có phần ép uổng.

Có những cuốn sách ta chỉ đọc một lần, có những cuốn sách ta đọc vài ba lần và có một số cuốn sách ta muốn đọc, có thể đọc rất nhiều lần, trong những thời điểm, những cảnh huống khác nhau. Tôi loay hoay một lúc với Khuôn mặt người khác của Kobo Abe, Đời nhẹ khôn kham của M. Kundera, Truyện ngắn Bunin, Trần trụi với văn chương của P. Auster, Phố những cửa hiẹu u tối của P. Modiano, Thao thức của A. Kron, Alexis Zorba của N. Kazantzaki …trước khi chọn Hoàng tử bé.

Hoàng tử bé là tác phẩm tôi đọc nhiều lần nhất, thường là trong những khi có chuyện không vui, có chuyện bất ưng. Tôi không hiểu vì sao câu chuyện rất buồn này lại là niềm an ủi cho mình. Tôi đã đọc ở đâu đó, câu này: nhiều khi, chính những dòng thơ về nỗi thất vọng của Joseph Brodsky đã giúp người khác vượt qua giây phút tuyệt vọng. Mọi sự là như thế chăng.

Ở ngoài hoang đảo kia, chắc tôi sẽ gặp một con cáo, nó sẽ bảo với tôi rằng: hãy nhìn mọi việc không phải bằng mắt mà bằng trái tim của mình. Và, một con rắn màu vàng rất độc nữa. Nhưng tôi sẽ không để nó cắn vào chân mình… Và rồi, biết đâu, trong một chuyến Bay đêm, chàng phi công buồn nhất trong số những phi công trên trái đất này, sẽ đáp xuống vì phi cơ của chàng bất ngờ trục trặc…

clip_image018

Trịnh Y Thư: It’s funny. Câu hỏi bạn đưa ra, chính tôi đã tự hỏi và tự trả lời trong một bài viết cách đây khá lâu, và xuất hiện trong tập tạp bút Chỉ là đồ chơi, xuất bản năm 2012. Tôi chỉ việc lục lại bài cũ, cut & paste rồi gửi nguyên con cho bạn đây:

Nếu bị đày ra một hoang đảo và chỉ được phép đem theo một cuốn sách duy nhất để đọc trong lúc nhàn rỗi – ở hoang đảo một mình đương nhiên là nhàn rỗi – tôi sẽ không đắn đo suy nghĩ cầm theo tập thơ của nữ sĩ Cổ Nguyệt Đường Xuân Hương. Tại sao? Bạn có thể hỏi tôi như thế và tôi xin trả lời là, mặc dù thơ của nữ sĩ họ Hồ có thể không trác tuyệt, không “nâng tâm hồn lên” như thơ của nhiều thi sĩ khác nhưng ngồi một mình trên hoang đảo, hết ngày này qua ngày khác, trong vô vọng, chỉ có thơ của bà với phong cách vừa thanh vừa tục, vừa nghiêm túc vừa đùa bỡn, mỗi lần đọc lại đều thấy có cái gì mới mẻ lấp lánh ló dạng từ giữa những câu thơ, giữa những con chữ, mới giúp tôi quên thời gian nặng nề, chậm chạp trôi qua. Bởi tôi sẽ không bao giờ chán đọc thơ bà trong bất kỳ cảnh huống nào. Bởi thơ của các thi sĩ khác, trác tuyệt hơn đấy, trí tuệ hơn đấy, gợi cảm hơn đấy, nhưng đọc qua một lần đã thấy “ngan ngán”, phải đợi thời gian khá lâu, cả tuần, thậm chí cả tháng trời, đọc lại mới thấy thú vị, mới có thể tiếp tục đọc, và ví bằng như thế chắc tôi sẽ chết vì buồn chán mất thôi.

Ở đây tôi chỉ muốn nói thêm một điều: trước khi cầm tập thơ lên thuyền ra khơi, tôi xin xé bỏ lại đất liền tất cả những trang sách người đời bàn luận, thẩm định, phê phán, khen chê… thơ bà trong suốt hơn thế kỷ qua.



clip_image020

Phạm Thị Hoài:  Hoang đảo thực ra không phải là môi trường lý tưởng để đọc sách. Đọc ngược hẳn với tập yoga. Một đằng là rút ra, một đằng là cho vào. Ra đảo, chỉ tập yoga là hợp lý. Nhưng đọc khá gần với yêu. Có những cuốn sách bao nhiêu người thèm muốn và ta cũng khao khát, tay chỉ rờ vào gáy nó, mũi chỉ chạm nhẹ hít hà mùi giấy mực là ngực đã đánh trống, nhưng càng đọc lòng càng nguội lạnh, càng đọc càng thấy nó với mình chẳng liên quan gì, cố ép chẳng qua là tự lừa dối. Có những cuốn khiến ta bối rối, chẳng biết thế là yêu hay là không yêu. Có những cuốn ta phải lòng ngay từ dấu phẩy đầu tiên, vừa đọc vừa cầu xin nó đừng kết thúc. Có những cuốn ta từng gắn bó tha thiết, tưởng số phận là đây, định mệnh là đây, một thời gian sau gặp lại chỉ thấy nhạt phèo, thậm chí muốn độn thổ vì tự ngượng với mình. Có những khi ta lên cơn thèm, sách nào cũng được, cốt là thỏa ham muốn. Có những khi trái tim ta đông cứng, tưởng chẳng còn rung động nổi trước trang sách nào. Cũng như những cuộc tình phần lớn là dang dở, đa số các cuộc đọc trong đời ta là dở dang. Cũng như không một mối tình duy nhất nào đi suốt được một đời người, không một cuốn sách hay bộ sách duy nhất nào có thể theo trọn một đời đọc. Tôi dự định trước khi chết sẽ đọc hết Ulysses mà tôi bỏ dở đều đặn, bắt đầu từ đúng 40 năm trước, rồi 30 năm, 20 năm, 10 năm trước, năm nay cũng thế, như một nghi lễ lẩn thẩn. Nhưng không có gì đảm bảo dự định đó sẽ thành công và nếu thành thì tôi có hạnh phúc không. Cũng như trong tình yêu, hạnh phúc trong đọc sách chỉ là một lời hứa.

(Còn tiếp 2 kỳ)

bài đã đăng của Trần Vũ