- Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới - https://damau.org -

Cách Mạng Thi Ca Thế Giới

 

revolution graffiti

Thơ bế tắc? Thi ca thế giới sa sút người thưởng ngoạn? Thơ Anh ngữ, nổi bật từ giữa thế kỷ 20, dẫn đầu lý thuyết, thực hành, tác giả và tác phẩm, vậy mà Jonathan Yardley, nhà phê bình văn chương của Washington Post, viết, “Thi ca Hoa Kỳ đương đại được đọc bởi người làm thơ, bởi các học viên sáng tác và các sinh viên theo ngành văn chương, hầu như chẳng còn ai nữa.” (Số báo mùa xuân 1995). Joseph Epstein, chủ biên The American Scholar (Học Giả Hoa Kỳ) hỏi, “Ai đã giết chết thơ?”

Câu hỏi dẫn đến hành trình suy nghĩ về thơ. Đúng hơn, suy nghĩ về thơ là từ trí tuệ hướng ra thơ. Những kết quả của suy nghĩ đó đưa thơ đến chốn lâm nguy. Vì vậy, những suy nghĩ đó cần được xét lại. Vì sự sinh tồn của thơ, bản thân suy nghĩ cần tự giác, tự phản ảnh, tự nhận thức. Nghĩa là, cần “nghĩ về nghĩ về thơ.”

Nghĩ Về Thơ Sắp Đến

Nghĩ về thơ là việc thường xuyên, trở thành tự nhiên cho người làm thơ, nhưng nghĩ về “nghĩ về thơ” dành riêng cho những ai nghi ngờ, muốn suy xét lại cơ bản, cấu trúc và sáng tạo của thi ca.

Nghĩ về “nghĩ về thơ” dành riêng cho những tác giả không thỏa thuận với thơ đương thời hoặc những tác giả ngưng làm thơ vì không thể tiếp tục làm thơ vắng mặt sáng tạo, những bài thơ rập khuôn hoặc biến dạng theo các kiểu mẫu được ngưỡng mộ trong quá khứ.

Thơ sở dĩ hấp dẫn và được xem là một nghệ thuật cao kỳ vì: 1- Chia sẻ tâm sự và trí tuệ, 2- một cách thi vị có thẩm mỹ. Thơ sẽ không còn hấp lực nếu không thể chia sẻ điều gì mới lạ, hay đẹp, mà cứ nhai lại những gì “thơ đã qua” một cách nhàm chán. Thơ sẽ không còn gợi cảm, lôi cuốn, nếu tiếp tục trình bày những thẩm mỹ quen thuộc, trở nên tầm thường. Con cóc trong hang. Con cóc ngồi đó. Con cóc nhảy ra. Con cóc ngồi đó. Con cóc nhảy vô. Đó là lý do tại sao bài thơ con cóc trở thành biểu tượng cho thơ dở. Khi một bài thơ ra đời, chỉ cần đặt câu hỏi về sự lập lại, bắt chước của nó, sẽ biết ngay giá trị của nó là gì. Trong quan điểm văn học, một bài thơ được đánh giá bằng hai câu hỏi: 1- Đã vay mượn gì nơi ngân khố và kho hàng thi ca? 2- Đã sáng tạo được gì khác biệt?

Nghĩ về nghĩ về thơ trong đầu thế kỷ 21 là một thách đố không đủ dữ kiện để giải đáp, một thử thách không bảo đảm có thể chứng minh, một hiểu biết dù thành công hoặc thất bại, vẫn tràn ngập những phần thưởng. Đó là niềm vui của nhận thức, thắp lên ngọn đèn, đả thông đôi điều chưa minh bạch, trong bóng đen.

Đi sâu vào nghi ngờ, vào đến tận cùng sẽ gặp câu hỏi căn bản nhất: Thơ là gì? Có lẽ, cho đến nay, không còn mấy ai quan tâm về câu hỏi tầm thường, hầu như không cần trả lời. Nhưng trong trường hợp “Thơ sắp đến” là gì? sẽ bắt đầu một thiên sách khác, mở ra những con đường mới đi đến những nơi chưa có tên gọi. Thơ đã qua là gì? Có hàng triệu trang sách trả lời dọc theo lịch sử thi ca. Nếu chỉ tìm kiếm trong kiến thức đang có để định nghĩa thơ sắp đến, chắc chắn sẽ lập lại những mô tả căn cước cũ của thơ.

Có thể nhận thấy bóng dáng thơ sắp đến là gì, sau khi biết rõ thơ đã qua là gì. Có thể đưa ra một tiền đề rõ rệt, một giả thiết, một tâm thức về sự sinh tồn của thơ. “Thơ mai sau sẽ là những gì vay mượn và những gì khác biệt với thơ đang có.” Những cụm từ cần phải giải thích là “vay mượn”, “khác biệt”, và “thơ đang có.” Câu định nghĩa này loại bỏ một số ý tưởng, nghệ thuật và kỹ thuật làm thơ “không còn tác dụng” cho thơ tương lai.

Khái Niệm “Đã Qua” Và “Sắp Đến”

1- Phân tích theo thi ca, thơ đã qua là thơ không còn thuyết phục lòng tin của giới văn học có trình độ thưởng ngoạn cao về giá trị nghệ thuật thơ trong đương thời và mai sau. Thơ đã qua là thơ dĩ vãng, không còn khả năng thỏa mãn những đòi hỏi của một nền văn chương đang phát triển và tâm thức của con người thời đại. Thơ đã qua mang bản sắc lập lại, dễ hiểu, bình dân, cung ứng cho số đông có mức độ thưởng thức trung bình. Trong khi, thơ sắp đến là thơ ngày mai. Không phải ngược lại mà tiếp nối thơ đã qua với những gì khác hơn, sẽ tìm thấy để tái định giá, mở rộng, đào sâu, và gia tăng phẩm chất thi ca.

Phân định theo lịch sử văn học sẽ không có ranh giới minh bạch. Sẽ không rõ khi nào thơ đã qua chấm dứt và thơ sắp đến bắt đầu. Đã là nối tiếp, tất yếu, hai loại thơ có chung một giai đoạn chồng chất, hòa hợp với nhau, nhưng vẫn khó xác định giai đoạn theo ngày tháng. Chỉ có thể nói rằng: Thơ đã qua yếu dần vào cuối thế kỷ 20 và thơ sắp đến hiện thân rõ dần vào đầu thế kỷ 21.

2- Phân tích theo luận lý, đã qua và sắp đến thuộc về ý niệm thời gian. Đã qua là quá khứ. Sắp đến là tương lai. Mức phân chia là hiện tại. Hiện tại là biểu tượng cho “bây giờ” mang tính thay đổi, luôn luôn di động về hướng tương lai. Nói chính xác hơn, hiện tại là “ngay bây giờ”.

Bản chất của ‘ngay bây giờ’ là vừa gõ xong chữ “bây giờ”, nó đã là quá khứ. Vì vậy hiện tại di động nhanh chóng không có khả năng xác định ranh giới, chỉ là một ý thức ảo. Diễn trình là quá khứ nuốt dần tương lai. Thơ đã qua nuốt dần thơ sắp đến. Nghĩa là, thơ sắp đến vừa xuất hiện đã là thơ đã qua. Thơ sắp đến hoàn toàn cư ngụ trong dự tưởng, suy đoán, và lòng tin.

3- Phân tích theo tâm lý, thời gian vật lý và thời gian tâm lý khác nhau. Thời gian tâm lý tùy thuộc mỗi người trong mỗi bối cảnh và mỗi đời sống. Thời gian tâm lý của mỗi tác giả khác nhau. Thơ đã qua, thơ sắp đến, chẳng những khác nhau về thời điểm, mà còn khác nhau về bản chất, phẩm chất, thể loại, giá trị và tiêu chuẩn sáng tác, tùy thuộc vào cá tính, sở học, sở kiến của mỗi nhà thơ.

Qua những phân tích trên, khái niệm trừu tượng về thơ đã qua và thơ sắp đến tuy hiện hữu nhưng không cụ thể. Tuy có lý thuyết nhưng thực hành sẽ đa dạng và không minh bạch như một điều kiện chung. Chỉ có thể thỏa thuận: Căn cước của thơ là biến số, luôn luôn thay đổi theo thời đại, theo văn chương, theo sự phát triển tâm trí của con người. Nghĩ về “nghĩ về thơ” là hành động truy tầm, khai phá thêm bản sắc thơ tương lai. Vì tính di động mong manh của hiện tại, thơ tương lai gọi là thơ sắp đến. Trong trường hợp thơ sắp đến quá khác biệt với thơ đã qua, có thể xem là kết quả của một cuộc cách mạng.

“Nghĩ về thơ sắp đến” là một diễn trình khai phá: Theo dấu những vết tích của thơ đã qua, tuyển chọn những đặc sắc và đặc thù trong thơ thế giới, tìm kiếm tín hiệu thơ sắp đến, từ những thực tế cụ thể đó, ráp lại thành chiều hướng hoặc chân dung thơ tương lai. Rồi thực nghiệm. Chỉ có thực hành mới mới có thể vẽ môi mắt mày râu trên một khuôn mặt giả định. (*)

Khái Niệm Cách Mạng Thơ

Bản chất thơ thay đổi, đã được xem là nguyên lý. Nội tại của thơ thay đổi một cách tự nhiên và tự động theo kết quả phát triển của nhân sinh. Những lý do để thi ca thay đổi chỉ mang tính lịch sử, là những cái cớ để định danh và định giá thơ. Những lý do bên ngoài có khi lớn có khi nhỏ. Những lý do lớn có khả năng ăn nhịp với bản chất thay đổi tạo nên cuộc cách mạng thi ca. Ví dụ như cuộc cách mạng thi ca tại Anh Quốc vào cuối thế kỷ 13; cuộc cách mạng văn xuôi ở Châu Mỹ Latin trong thập niên 1960-70.

Nhận xét chung, thơ thế giới đang đi vào ngõ cụt. Nếu cứ như thơ hôm qua, thơ đang có, thơ ngày mai sẽ bị thu hẹp từ phạm vi độc giả, sáng tác, cho đến văn học. Nếu không có thay đổi, thơ ngày mai sẽ trở thành một loại nghệ thuật mang tính bảo tàng. Thơ mất khả năng cạnh tranh với các nghệ thuật giải trí đương đại rất hiệu quả và phù hợp với nhịp sống. Tinh hoa của thơ ở mức độ cao nhất có khả năng làm sáng đẹp tâm tư đang mất dần công hiệu khi con người đuổi rượt, chìm sâu theo tâm trí khoa học, niềm tin văn hóa duy vật và đam mê duy vật thực tế.

Quan điểm về sinh tồn cho thấy trải qua bao nhiêu thế kỷ cho đến hôm nay, thơ vẫn tồn tại. Nghĩa là, thơ là một trong những nhu cầu cần thiết cho hiện sinh, nếu không, đã bị diệt vong như khủng long. Lập luận này cho văn học thế giới một niềm hy vọng, thi ca sẽ chuyển mình trong một thay đổi lớn để thoát ra tình trạng tàn lụn. Thơ thế giới bị thúc đẩy hướng về cuộc cách mạng.

Một cuộc cách mạng phức tạp về bản sắc thơ nhưng thay đổi nhiều hơn, lớn hơn, vì bị ảnh hưởng của xã hội văn minh phát triển lũy thừa trong thời đại điện tử (digimodernism). Nói một cách chi tiết, những thành phần cơ bản cấu tạo thơ, những yếu tố và cá tính của thơ, đều có thể là đối tượng của cách mạng. Có lẽ, cuộc cách mạng này không thuần túy văn học, văn hóa, mà có sự thỏa thuận với kỹ thuật điện tử và nhịp sống tin tưởng vào khoa học văn minh.

“Make it new” (làm mới) tuyên ngôn danh tiếng của Ezra Pound (1885-1972) tiền phong cho cuộc cách mạng văn học chung và thi ca dưới thời chủ nghĩa hiện đại, đến nay vẫn còn hữu hiệu nhưng có lẽ thiếu. “Làm mới thơ” không chưa đủ. “Làm mới thơ lần nữa” không chưa đủ. Làm mới để tồn tại và phát triển giá trị sinh tồn. Nếu thơ bị khai trừ, bị diệt chủng, dù mới chỉ vô ích.

Quan Điểm Khi Nào Cách Mạng?

Khi nào cuộc cách mạng thi ca thế giới bắt đầu? Một câu hỏi quan trọng sau khi nhận xét những thông tin nghi vấn về một cuộc cách mạng sẽ xảy ra. Câu trả lời sẽ là một dự đoán dựa trên những sự kiện thực tế trong hiện tại và quá khứ, dựa trên một số nguyên lý chung có hiệu quả, và dựa trên khuynh hướng tiên đoán một chiều.

Nếu tình hình thế giới thay đổi lớn, nếu chiến tranh thứ ba xảy ra, nếu khoa học khám phá đôi điều vĩ đại … những ví dụ tiêu biểu trên sẽ làm khuynh hướng tiên đoán thay đổi.

Nguyên lý về sự tiến bộ của nhân loại và nguyên lý chung cho sự phát triển trong xã hội, được sử dụng như nguyên lý hướng dẫn lập luận về thời điểm cách mạng thành hình. Tài liệu cung ứng là những sự kiện đang xảy ra trong thí ca đương đại.

Nguyên lý: Sự tiến bộ và phát triển luôn luôn đi từng giai đoạn theo thời gian nhưng không cùng chiều. Bất kỳ lực phát triển nào cũng phát sinh lực ngăn cản. Cả hai xuất hiện một lượt. Tạo ra ba hiệu ứng:

1- Nếu lực phát triển mạnh hơn, sẽ tiếp tục tiến tới, chậm hay nhanh tùy thuộc vào lực cản mạnh hay nhẹ.

2- Nếu lực cản có khả năng chận đứng, sẽ đẩy lực phát triển lúc tiến lúc lùi. Giai đoạn giằng co này gọi là giai đoạn mâu thuẫn, nếu có sức đấu tranh giữa cũ và mới, giữa truyền thống và hiện đại, giữa mức độ khác biệt của giá trị và niềm tin. Còn gọi là lực cải thiện nếu có sự điều chỉnh, tái xét, mài giũa những khía cạnh cực đoan, quá độ, hoặc sai lầm của lực phát triển.

3- Nếu lực cản mạnh hơn, trở thành lực chủ động, xung đột với lực phát triển, tạo ra một chiều hướng khác, lực này bắt đầu cho lực phát triển mới. Nguyên lý này xảy ra trong thiên nhiên, vật lý, hóa học, tâm lý, cảm xúc, tư duy… khắp nơi trong vũ trụ và lịch sử nhân loại.

Lập luận: Lực phát động văn chương của phong trào hậu hiện đại từ giữa thế kỷ 20 là lực cải thiện những khía cạnh quá độ trong văn học của chủ nghĩa hiện đại, tạo được thành tích lớn trong gần 50 năm. Phong trào này chấm dứt vào cuối thế kỷ 20.

Chủ nghĩa hiện đại cách tân thơ truyền thống ở Âu Châu từ giữa thế kỷ 19, ảnh hưởng hầu hết các nền văn học khác, trong phong thái mở rộng, đào sâu phẩm chất và giá trị nghệ thuật thơ. Gọi là lực phát triển chung. Rồi chủ trương của phong trào hậu hiện đại tạo ra lực xung đột, hầu hết mâu thuẫn với lực phát triển thi ca của chủ nghĩa hiện đại, tạo ra hiệu ứng thứ 3: Một lực phát triển mới là kết quả do lực đẩy chung của chủ nghĩa hiện đại và phong trào hậu hiện đại tạo thành. Tạm gọi là lực phát triển thơ 21.

Lực phát triển này xuất hiện trong sức đẩy của tiến bộ điện tử, xã hội thay đổi, và một số những nhà thơ tiền phong chủ trương truy tầm những khuynh hướng sáng tác mới. Giá trị và phẩm chất của thơ vào cuối thế kỷ 20 đã mòn mỏi, lập lại, không lối thoát, thể hiện qua nghệ thuật tái lập và tái dụng thịnh hành trong thập niên 70-80. Khi niềm tin vào giá trị cũ đã lỏng lẻo, tự nhiên nhu cầu tìm kiếm giá trị mới: bổ túc, cải thiện hoặc biến đổi, tự động xuất hiện.

Lực phát triển 21 gặp sức cản trở từ vài phong trào phục hưng, hoài cổ của một số nhà thơ không thỏa thuận với các khuynh hướng tiền phong. Hai phong trào được diễn giải như hai ví dụ thực tế là phong trào nghệ thuật Stuckist và khuynh hướng thơ Tân Hình Thức (Neo/New Formalism).

Stuckist là một phong trào thế giới, sáng lập năm 1999 bởi Billy Childish và Charles Thompson. Về mặt thi ca, họ phê phán nghệ thuật sáng tác thơ theo những khuynh hướng đa số thuộc về phong trào hậu hiện đại. Họ cổ động phục hồi phần lớn giá trị thi ca trong chủ nghĩa hiện đại. Đây là một phong trào mang tính phục hưng, có thực lực, bao gồm gần 240 nhóm hiện diện trên hơn 52 quốc gia. Gần 20 năm hoạt động, tác dụng của Stuckist không lớn, ảnh hưởng nhiều về mặt sinh hoạt văn thơ hơn là phẩm chất và giá trị. Những nhà thơ đại diện cho phong trào chưa phải là những nhà thơ nổi bật so với các nhà thơ tiền phong. Qua mạng lưới những thành viên gia nhập tuy ghi tên nhưng hoạt động rời rạc. Có lẽ, bản chất sáng tác là “một mình,” không thích hợp đoàn nhóm.

Neo Formalism, Tân Hình Thức, chỉ là một phong trào nhỏ tại Hoa Kỳ, xuất hiện vào cuối thế kỷ 20. Phản ứng trước sự bành trướng của thơ tự do, họ cổ động quay về với nhịp điệu, vần và sự đối xứng của khổ thơ. Những nhà thơ đại diện Tân Hình Thức bao gồm Charles Martin, Brad Leithauser, Timothy Steele, Molly Peacock, Phillis Levin, Marilyn Hacker, Mark Jarman, Danna Gioia .… Đại biểu là tác phẩm tổ hợp Rebel Angels:” 25 Poets of the New Formalism,” 1996, thực hiện bởi Jarman và David Mason. Họ viết: “Không có gì ngạc nhiên khi sự phát triển quan trọng nhất trong dòng thi ca Hoa Kỳ gần đây là sự hồi sinh của nhịp và vần, cũng như tính tường thuật [tính truyện trong thơ], giữa một số lượng lớn nhà thơ trẻ, sau giai đoạn những yếu tố cơ bản [nhịp và vần] bị lấn áp.”

Phong trào Tân Hình Thức về nguồn nhịp và vần trong thơ phát triển mạnh vào thập niên 90 rồi dần dần giảm sút. Như nhận định của N.S. Thompson trong P.N. Review số Tháng11/12 năm 2003: “Trong lúc những phong trào cần một số lượng văn bản hay để gây hứng thú, nhưng vẫn cần được hỗ trợ bởi những nghệ sĩ thành danh. Suy xét lại, dường như phong trào này (Tân Hình Thức] ít phần cách mạng thơ mà nhiều hơn về phần vận động thị trường.” (Form and Funtion, Hình Thể và Chức Năng.)

Stuckist và Neo Formalism là hai phong trào thơ phục hưng và hoài cổ đi ngược lại sự tiến bộ. Khuynh hướng chung của nhân loại là tiến lên. Phải có lý do hết sức quan trọng hoặc những sự kiện đặc biệt xảy ra, mới tạo được thế dừng lại hoặc thối lui. Cho đến nay, 2018, cả hai phong trào đều không đủ lực ngăn cản lực phát triển 21. Cả hai thiếu tác phẩm giá trị để chứng minh và thiếu những thi sĩ nổi bật để bảo đảm năng lực kéo dài và tiến triển của phong trào.

Theo lập luận trên, lực cản trở chỉ làm chậm lại, nếu không có phong trào nào khác đối nghịch với khuynh hướng lực phát triển 21, thì lực này sẽ tiếp tục mỗi ngày mỗi lớn, tạo nên cuộc cách mạng.

Có thể kết luận rằng, khi lực ngăn cản thất thế, tàn rụi, đó là lúc cách mạng thi ca 21 phất khởi.

Rồi nếu như…

Cách mạng thi ca không xảy ra. Thơ cứ lềnh bềnh trôi nổi, càng lúc càng ít độc giả. Khó mà mô tả sự sinh tồn của thơ ra sao nhưng chắc chắn không lạc quan. Nghệ thuật thi ca sẽ bị những nghệ thuật tân thời, hợp thời, dồn ép vào vị trí như nghệ thuật hát chèo, nghệ thuật hát Bộ …. Đến một lúc, chỉ còn là đối tượng của khoa cổ văn. Danh từ thi sĩ sẽ trở thành tử ngữ.

Hai viễn cảnh cho thấy hai định mệnh đối nghịch của thi ca thế giới. Tuy nhiên, định mệnh thuộc về tương lai và chỉ là tên gọi của kết quả do hành động hôm nay và ngày mai tạo thành. Nếu quả thật thi sĩ là nòi giống thông minh và có tài năng thật sự, tự động định mệnh tốt đẹp sẽ xảy đến. Đúng như Karl Marx đã nói, không ai có thể ngăn cản bánh xe lịch sử. Có điều, cũng không ai có thể biết bánh xe lăn về đâu và ai đang lăn nó.

(Trích: Tín Hiệu Thơ Sắp Đến.)

GHI (*)

[Thơ của những thi sĩ như Mark Levine, Karen Volkman, D.A. Powell, Peter Gizzi, Juliana Spahr, Joshua Clover, Kevin Young, Trace Morris, Myung Mi Kim, Stacy Doris, Susan Wheeler, Mark Nowak, Kenneth Goldsmith, tuy được tuyển chọn vào American Poets in the 21st Century: The New Poetics do Claudia Rankine và Lisa Sewell thực hiện, Weslyan University Press, 2007, mang đến một số thi pháp mới lạ, nhưng vẫn còn trong vòng thử nghiệm. Có thể sử dụng như một số tín hiệu tiên tri cho thơ sắp đến với sự dè dặt của ý thức kiểm chứng.

Những tạp chí văn học của các đại học và những mạng lưới văn chương mang tính toàn cầu như: https:// www.worldliteraturetoday.org/;http://www.ou.edu/wlt; http: // www.litshowcase.org/…v…v… có thể sử dụng trong cùng một mục đích.

Tuyển tập The Pip Anthology of World Poetry of the 21st Century, Volume 10 do Douglas Messerli thực hiện năm 2017 do Green Integer ấn hành, hầu hết đã chọn 46 thi sĩ tài danh quen thuộc trong thế kỷ 20. Thi pháp và những khám phá về thơ của họ, phần lớn đã được trình bày qua luận văn, sách vở trong những thập niên vừa rồi. Có thể sử dụng như một số dấu vết của thơ đã qua. Phần còn lại của những Volumes khác trong bộ sách The Pip Anthology of World Poetry, có thể sử dụng theo dõi dấu tích của thơ thế giới trong quá khứ.

Vài tác phẩm quan trọng như Contemporay American Poetry do A. Poulin, Michael Waters thực hiện. The Ecco Anthology of the International Poetry do Ilya Kaminsky và Susan Harris thực hiện, ấn hành bởi HarperCollins Publisher, 2010. A Companion to Twentieth Century Poetry do Neil Roberts thực hiện, ấn hành bởi Blackwell Publishing, 2003. The News from Poems do Jeffrey Gray và Ann Keniston thực hiện, ấn hành bởi University of Michigan Press, 2016. …v…v…

(Trong phần tham khảo, có liệt kê một số những tác phẩm tiêu biểu khác về tiểu luận, tổ hợp, tuyển chọn thơ toàn cầu hoặc thơ trong từng vùng lục địa, có thể dùng để lần dò căn cước của thơ đã qua và tín hiệu thơ sắp đến.)]

bài đã đăng của Ngu Yên


1 Comment (Open | Close)

1 Comment To "Cách Mạng Thi Ca Thế Giới"

#1 Comment By black raccoon On 9 February 2019 @ 10:17 pm

Thi ca là chiếc ghế 3 chân… rưỡi.

Nghĩa là nó khập… khình. Chứ nếu nó đã an vị vững như bàn thạch thì còn gì là thi ca. Đọc một bài thơ xong không có cảm giác hứng khởi khai mở thì vô vị.

Người Ả Rập tìm cách cắt hỏng một đường chỉ trong tấm thảm vừa dệt xong vì họ cho rằng chỉ có Thượng Đế mới an vị hoàn hảo. Kinh Dịch chấm dứt bằng quẻ Vị Tế nghĩa là vẫn chưa xong. Còn bỏ ngỏ.

Người viết ca khúc hay là anh ta đã để lại một khoảng trống trong ca khúc đó. Và người đời sau khi đàn lại hoặc hát lại, người ta sẽ thấy đầy cảm hứng để chơi lại (mới) cũng nốt nhạc và lời ca đó.

Since it must be long past dinner,
The one they ate quickly,
Happy that your small portion
Went to the three-legged dog.

(The Writings of the Mystics by Charles Simic)

Kể từ khi bữa ăn tối xa xưa trong quá khứ,
Bữa ăn đó người ta chén thật nhanh,
Thỏa thuê về khẩu phần của bạn
Được dành cho chú chó-ba chân khập khình.