Trang chính » Dịch Thuật, Học Thuật, Sang Việt ngữ, Tôn Giáo Email bài này

Thấy và Tin (4/5)


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 19.03.2009

 

[TIẾP THEO]

IV.

Phương cách phổ biến nhất để hòa giải giữa tôn giáo và khoa học là xác định rằng chúng khác nhau nhưng bổ sung lẫn nhau các phương cách để am hiểu thế giới. Nghĩa là, tôn giáo và khoa học mang lại những “chân lý” khác nhau mà, nếu sử dụng chung, sẽ trả lời được mọi câu hỏi về chính chúng ta và vũ trụ. Giberson giải thích:

“Tôi lo ngại rằng tiến trình khoa học đã mê mẩn chúng ta vào lối suy nghĩ rằng không có gì khác hơn trên thế gian ngoài những điều chúng ta có thể hiểu được… Khoa học có lẽ đã đạt được hầu hết những gì từ khuôn mẫu vật chất. Sự chuyển động của vật chất vốn đã được mô tả vô cùng tao nhã bởi Newton và những đồ đệ của ông, có thể cũng không phải là phương cách hay nhất để hiểu được thế giới… Dù rằng, tôi nghĩ có những phương pháp mà chúng ta có thể bắt đầu nhìn vào sự sáng tạo và hiểu rằng quan điểm khoa học không phải là toàn thiện cả. Khoa học cung cấp một phần nhận thức dù rất mạnh mẽ nhưng không hề trả lời được tất cả mọi câu hỏi.”

Thường thường những câu hỏi được xem như nằm ngoài khoa học bao gồm những điều về ý nghĩa, mục đích và đạo đức. Trong một trong những tác phẩm cuối cùng của mình, Rocks of Ages: Science and Religion in the Fullness of Life (Đá của những thời đại: Khoa học và tôn giáo trong sự viên mãn của đời sống), Stephen Jay Gould gọi sự hòa giải này là NOMA, “thẩm quyền không chồng chéo” (non-overlapping magisteria): “Khoa học cố gắng để minh chứng bằng tư liệu cái đặc tính thực của thế giới tự nhiên và phát triển những lý thuyết nhằm phối hợp và giải thích những sự thực này. Ở mặt khác, tôn giáo có tác dụng trong một tầm quan trọng tương tự, nhưng khác biệt hoàn toàn, các lãnh vực của mục đích nhân loại, các giá trị và ý nghĩa — những chủ đề mà lãnh vực căn cứ vào sự thực của khoa học có thể tỏa sáng, nhưng không bao giờ có thể giải quyết được.” Gould trình bày điều này không phải như một quan điểm không tưởng, mà là một diển đạt thực về lý do tại sao các lãnh vực của khoa học và tôn giáo không thể chồng chéo lên nhau. Như một giải pháp cho sự phức tạp của chúng ta, điều này thực là không tốt. Trong tinh thần của chủ thuyết đa nguyên nó đã bỏ qua đi những xung khắc hiển nhiên giữa tôn giáo và khoa học. Gould đã giải cứu ý tưởng của ông bằng cách xác định lại các ý nghĩa của mình — lại các trò tiểu xảo cũ —vứt bỏ chủ thuyết sáng thế như thể một “tôn giáo không chính đáng” và xác định các nguồn thế tục của đạo lý, ý nghĩa và các giá trị như một “tôn giáo chính thống.”

Giải pháp NOMA (Thẩm quyền không chồng chéo) đổ vỡ vì những lý do khác. Mặc cho các khẳng định ngược lại của Gould, hiện tượng siêu nhiên không thể vượt hoàn toàn ra ngoài khoa học. Tất cả các nhà khoa học có thể nghĩ đến một số nhận xét có thể thuyết phục họ về sự hiện hữu của Thượng Đế hay các quyền lực siêu nhiên. Trong lá thư gởi nhà sinh vật học Mỹ Asa Gray, Darwin ghi nhận:

“Câu hỏi của ngài là cái gì có thể thuyết phục tôi về sự Thiết Kế là một câu hóc búa. Nếu tôi nhìn thấy một thiên thần hiện xuống dạy chúng ta điều tốt, và tôi bị thuyết phục bởi những người khác nhìn thấy thiên thần ấy rằng tôi đã không mất trí, tôi nên tin vào sự thiết kế. Nếu tôi có thể bị thuyết phục hoàn toàn là đời sống và tâm hồn đã ở trong một phương cách không ai biết, một chức năng của một lực khác không có trọng lượng, tôi nên tin như thế. Nếu con người được tạo bởi đồng và sắt và không có cách nào liên hệ được với bất cứ sinh vật nào từng sống, có lẽ tôi nên tin. Nhưng đây là truyện trẻ con.”

Tương tự, nếu có một Jesus chín trăm bộ cao xuất hiện trước cư dân thành phố Nữu Ước , như thể ông đã từng xuất hiện với nhà truyền giáo Oral Robert ở Oklahoma, và sự hiện hình này được ghi chép lại một cách thuyết phục, hầu hết các nhà khoa học tất sẽ quỳ sụp xuống mà đọc kinh tin kính Chúa.

Quả thực là các nhà khoa học có cần đến sự nương tựa vào các giải thích về thiên nhiên có tính thiên về vật chất, nhưng điều quan trọng cần phải hiểu là đây không phải là một thứ bổn phận khôn ngoan đặt định trước. Ðúng hơn đấy là chiến lược tốt nhất đã từng liên hệ từ những chứng nghiệm vững vàng lâu dài của chúng ta với thiên nhiên. Ðã có thời gian Thượng Đế là một phần của khoa học. Newton đã từng tưởng rằng các khảo cứu của mình về vật lý sẽ giúp xác định được lối đi trên thiên đàng của Thượng Đế. Linnaeus cũng thế, nhà thực vật học Thụy Điển đã từng phát minh ra sơ đồ hiện tại của chúng ta để hệ thống hóa các loài. Nhưng trải qua nhiều trăm năm khảo cứu chúng ta đã hiểu được rằng cái ý tưởng “Thượng Đế đã thực hiện điều ấy” đã chưa từng thúc đẩy sự hiểu biết của chúng ta về thiên nhiên thêm được một mảy may nào, vì thế mà chúng ta đã từ bỏ ý tưởng đó. Ðầu những năm 1800, nhà toán học Pháp Laplace trình lên vua Napoléon một bản sao công trình đồ sộ gồm năm bộ về thái dương hệ, mang tên Mechanique Celeste. Biết được những nghiên cứu của ông không chứa đựng điều gì nhắc nhở về Thượng Đế, vua Napoléon quở trách ông, “Ngài Laplace, họ cho tôi biết rằng ngài đã soạn bộ sách vĩ đại về hệ thống vũ trụ mà không hề nhắc gì đến đấng sáng tạo nên vũ trụ.” Laplace trả lời, thẳng thắn và nổi tiếng rằng, “Je n’avais pas besoin de cette hypothese-la,” (“Tôi không hề cần đến cái giả thuyết đó.”) Và các nhà khoa học đã thực không cần đến từ dạo ấy.

Trong một lỗi thông thường, Giberson đã lẫn lộn giữa chủ tâm có tính duy thực nghiệm của khoa học với sự ủy thác tuyệt đối cho tư tưởng duy thực nghiệm. Ông cho rằng, “Nếu diện mạo của Jesus hiện ra trên núi Rushmore với chữ ký của Thượng Đế bên dưới, các nhà địa chất vẫn còn phải giải thích hiện tượng đáng chú ý này như một phó phẩm không chắc có thực của những sự ăn mòn hoặc do kiến tạo nên mà có.” Vô nghĩa. Có quá nhiều hiện tượng khiến nảy sinh ra bóng ma của Thượng Đế hoặc các lực siêu nhiên khác: đức tin có thể chữa khỏi bệnh mù, bệnh ung thư, khiến người chết có thể sống lại, chúng ta có thể tìm được những trình tự DNA đầy đủ ý nghĩa để có thể chỉ dùng một yếu tố thông minh mang cấy vào hệ thống gene của mình sẽ có nhiều thiên thần hiện ra trên bầu trời. Sự kiện về những việc như thế chưa bao giờ được ghi nhận một cách khoa học khiến chúng ta có thêm tin tưởng rằng mình hợp lý khi bám vào những giải thích tự nhiên về thiên nhiên. Và cũng giải thích tại sao rất nhiều khoa học gia, đã biết loại bỏ Thương Đế như những lời giải thích cũng như một khả năng có thể giải thích được.

Điều này đem chúng ta đến nguyên nhân thứ hai tại sao giải thích của Gould không hợp lý. Thực ra cũng là điều tốt khi ông ta trình bày rằng tôn giáo không hề khẳng định gì về thiên nhiên nhưng căn cứ vào thực tế, điều này không đúng. Trong hàng ngàn giáo phái trên hành tinh này, chỉ có một số ít không bám vào hoặc không có những khẳng định có tính kinh nghiệm về thế giới chung quanh. Đây là một số những khẳng định ấy: Jesus hạ sinh ra từ sự đồng trinh, sau khi bị đóng đinh chết, người đã sống lại. Sau khi bà Mary chết đi, thân xác bà được chuyển đến thiên đàng. Đấng tiên tri Mohammed thăng thiên bằng một con ngựa trắng. Sau khi chết, mọi người sẽ được tái sinh dưới một hình dạng khác. Thượng Đế Brahma hiện ra từ một bông sen mọc ra từ rốn của thần Vishnu, và đã sáng tạo ra vũ trụ theo lệnh của thần Vishnu. Thượng Đế luôn lắng nghe và thoả mãn những lời cầu nguyện. Loài động vật có vú dưới biển sinh ra từ ngón tay bị đứt của Thượng Đế Inuit Sedna. Mình sẽ được khỏe mạnh và hạnh phúc nếu chịu gởi tiền bạc cho bộ truyền giáo của Creflo Dollar.

Đó là những phát biểu võ đoán. Để hiểu những gì người có đức tin thực sự tin, hãy nghĩ đến việc hơn 60 phần trăm người Mỹ tin vào các phép lạ, tin vào sự sản sinh trinh nguyên của Jesus, tính thiêng liêng và sự sống lại của người (Giberson và Miller ở trong số những người tin này), sự tồn tại của linh hồn sau khi thể xác chết đi và sự hiện hữu của quỷ Satan cùng địa ngục. Hãy bỏ đi những gì mà các nhà thần học tự do khẳng định, hầu hết chúng ta không phải là những người theo thần luận hay theo thuyết nhất thể. Và nếu bạn nghĩ rằng người Mỹ coi thánh kinh chỉ như là một tập thơ ẩn dụ, tôi xin mời bạn đến viếng một nhà thờ ở thành phố Wasilla (bang Alaska) hoặc ở phía nam Chicago.

Nhiều niềm tin tôn giáo có thể được thử nghiệm một cách khoa học, tối thiểu là trong nguyên tắc. Đặc biệt là việc chữa bệnh bằng đức tin thích hợp với những thử nghiệm khoa học này. Nhưng nhiều lần thử nghiệm đã thất bại. Sau khi nhìn thấy những thứ bị vứt bỏ lại bởi những du khách đến viếng Lourdes, Anatole France đã nói những câu rất đáng chú ý, “Tất cả là những gậy, nạng chống, không hề có mắt giả, chân gỗ hay tóc giả!” Nếu Thiên chúa có thể chữa được bệnh ung thư, tại sao ngài lại bất lực trước những kiếm khuyết về tứ chi và thị giác? Những nghiên cứu khoa học gần đây về những người cầu nguyện giúp — khi người đau bệnh không hể biết là mình được ai cầu nguyện giùm — đã không cho thấy một bằng chứng nhỏ nào về sự hiệu quả của nó. Ngay cả khi chúng ta đã thực hiện vô số những chứng minh khoa học về các phép lạ, và mặc dù yêu cầu của Vatican là phải có hai phép lạ được minh chứng mỗi khi phong thánh cho ai. Những thánh tích, như tấm vải liệm Turin, thực ra chỉ là một thứ giả mạo khôn khéo. Không hề có những chứng cứ rõ ràng nào về sự việc có ai đó đã nói được điều gì ra từ bên trong mộ huyệt. Thế còn những phép lạ “căn bản” từ thời cổ đại, những phép nghe như đã được thực hiện bởi Chúa Jesus, Ðức Phật hay thánh Mohammed thì sao? Chúng ta không hề hiện diện ở đó khi những điều ấy xảy ra, do đó không thể kiểm tra được. Nhưng tối thiểu chúng ta có thể áp dụng những tiêu chuẩn tương tự cho những điều này khi xét đến những khẳng định khác từ kinh thánh và kinh Koran.

Cũng như Giberson, Miller chối bỏ việc diễn giải kinh thánh theo nghĩa đen. Sau khi thảo luận những hồ sơ về sự hóa thạch, ông cho rằng, “Một nội dung theo nghĩa đen của Kinh Sáng Thế không hề có giá trị khoa học,” và kết luận rằng, “Thần học không hề và không thể giả vờ như có khoa học tính, nhưng thần học có thể tự yêu cầu mình phải phù hợp và thân thiết với khoa học.” Nhưng điều này dẫn đến một câu hỏi hắc búa. Tại sao lại chối bỏ chuyện sáng tạo và con thuyền Noah bởi vì ta đã có hiểu biết về những loài vật có liên quan, nhưng lại chấp nhận chuyện sản sinh trinh nguyên và sự sống lại của Chúa Jesus, vốn đối với khoa học đều là kỳ quặc như nhau? Sau cùng, khảo cứu về sinh vật học đề nghị thừa nhận sự bất khả của người nữ sinh sản vô tính, hoặc bất cứ ai có thể sống lại ba ngày sau khi chết đi. Rõ ràng là Miller và Giberson, cùng nhiều người Mỹ khác, có một số quan điểm thần học vốn không “thích hợp với khoa học.”

Vậy thì, bản chất của “chân lý tôn giáo” vốn phải bổ sung được cho “chân lý khoa học” là gì? Ðiều đầu tiên ta nên hỏi là phải chăng, và trong ý nghĩa nào, những quyết đoán của tôn giáo là “những chân lý.” Chân lý có thể kéo theo cái khả năng của gian dối, do đó chúng ta nên có một phương cách để biết nếu như các chân lý tôn giáo là sai. Nhưng, không như các chân lý khoa học, chân lý tôn giáo đem đến từng người, từng giáo phái đều khác biệt. Và chúng ta đều biết tất cả những mâu thuẫn rõ rệt giữa các “chân lý” của các đức tin khác nhau. Kitô giáo khẳng định không mập mờ tính thiêng liêng của Jesus, cùng nhiều quyết đoán rằng con đường cứu rỗi dứt khoát tùy thuộc vào sự chấp nhận chân lý này, trong khi đó kinh Koran công khai huỵch toẹt là bất cứ ai nhìn nhận tính thiêng liêng của Jesus sẽ sa xuống địa ngục tất. Những khẳng định này không thể cả hai cùng “đúng,” tối thiểu trong cách thức không yêu cầu đến những vặn vẹo của tri thức.

Các khẳng định về bản chất của Thượng Đế cũng khác biệt tùy theo đức tin. Thí dụ như Giberson giải thích rằng, “Trong nhiều thế kỷ, phản ánh bản chất Thượng Đế của Kitô giáo đã đề cao nhiều đức tính của Thượng đế: công lý, yêu thương, lòng thiện, tính thiêng liêng, ân sủng và nhiều nhiều nữa.” Nhưng đối với các đức tin khác, Thượng Đế lại có tính trả thù, như Yahweh trong kinh Cựu Ước chẳng hạn. Người Do Thái không thể nào tưởng tượng được một Thương Đế bằng xương bằng thịt như thánh kinh tạo nên. Ấn Độ giáo, giống như người Hy Lạp cổ đại, chấp nhận nhiều thượng đế với nhiều đức tính khác nhau. Ðối với người theo thuyết hữu thần, Thượng Đế là không tình cảm, trong khi nhiều nhà thần học trong tất cả các đức tin độc thần lại khẳng định là chúng ta không thể biết gì về tính cách của Thượng Đế. vậy thì cái nào trong những tính cách hóa này là đúng? Bất cứ điều nào được mời chào là một “chân lý” phải có một phương pháp để bị chứng minh là sai — một phương pháp không hề lệ thuộc vào các phát giác có tính cá nhân. Sau cùng, hàng nghìn người đã có những phát giác đầy ảo tưởng về “chân lý” với những hậu quả kinh hoàng.

Có lẽ những gì ta muốn nói về “những chân lý tôn giáo” là “những chân lý đạo đức,” tựa như “Ngươi không được phạm tội ngoại tình.” Những lề luật này không phải là các đối tượng cho các kiểm tra có tính chứng nghiệm, nhưng chúng không hề xứng hợp với các cảm giác hợp lý của chúng ta về sự sai hoặc đúng. Nhưng hầu như đối với mỗi chân lý như thế này luôn có điều khác được tin tưởng với sự chân thành tương tự, như “Kẻ nào ngoại tình đáng bị ném đá đến chết.” Lời quả quyết này xuất hiện không phải chỉ trong luật đạo của Hồi Giáo, nhưng cả trong Cựu Ước nữa. (Nhân tiện ở đây, xin nói rằng, có lẽ là sai lầm khi gọi những chân lý này là tôn giáo. Khởi đi từ Plato, các triết gia đã lập luận một cách thuyết phục là luân lý của chúng ta không đến từ tôn giáo, mà từ nền đạo đức thế tục vốn phát triển trong các sinh vật thông minh có năng lực giao tế xã hội được đưa vào tôn giáo để tiện trích dẫn.)

Vậy thì, cuối cùng, có một khác biệt căn bản giữa các chân lý khoa học và các chân lý tôn giáo tuỳ cách hiểu của mình. Sự khác biệt nằm trong việc mình trả lời như thế nào cho một câu hỏi: làm thế nào mình có thể biết nếu như mình sai ? Ðồng nghiệp của Darwin, Thomas Huxley bình luận rằng, “Khoa học hệ thống hoá các hiểu biết thông thường, trong khi nhiều lý thuyết đẹp đẽ bị giết chết đi chỉ từ một sự thực xấu xí.” Như đối với bất kỳ lý thuyết khoa học nào, có tiềm năng là nhiều sự thực xấu xí có thể giết chết chủ thuyết Darwin. Hai sự thực đó có thể là sự hình dạng kề bên của xương hóa thạch người và xương hóa thạnh khủng long, và sự hiện hữu của những mô phỏng trong một loài này chỉ giúp ích cho một loài khác hơn nữa. Vì chưa từng có những thực tế như thế xảy ra, chúng ta vẫn còn tiếp tục nhìn nhận thuyết tiến hóa là đúng. Ngược lại, các niềm tin tôn giáo thì miễn nhiễm với các thực tế xấu xí kiểu ấy. Thậm chí, chúng còn tiếp tục tồn tại trước những thực tại xấu xí, như sự bất lực của những lời cầu nguyện. Không có cách thức nào để phán xử những xung khắc giữa các chân lý tôn giáo như ta có thể làm được với các giải thích khoa học đối chọi nhau. Hầu hết các nhà khoa học có thể cho mình biết những nhận định nào đã có thể thuyết phục họ tin vào sự hiện hữu của Thượng Đế, nhưng tôi chưa từng gặp một người có đạo nào có thể bảo tôi về những gì có thể giúp bác bỏ niềm tin ấy. Và cái gì đã khiến thuyết phục được mọi người để từ bỏ đi niềm tin về thần thánh của mình, như Giberson từng khẳng định, điều tốt lành, sự yêu thương và công chính? Nếu lò thiêu Holocaust không thể thuyết phục được, chắc là không ai có thể thuyết phục được cả.

[TIẾP THEO]

.

bài đã đăng của Jerry A. Coyne


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)