Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

bờ kia- phần 7

0 bình luận ♦ 1.01.2015

Nếu Kiều biết chuyện ông Đại Tá đã điện thoại hẹn đến thăm gia đình Thiện thì chắc nàng bớt ngạc nhiên về thái độ lạnh lùng dửng dưng của bà mẹ. Bà nghi Kiều là người tiền đạo đi dò đường cho ông Đại Tá, quan sát ‘‘địch tình’’ và báo cáo để ông ta xác định động thái của mình. Với nghiệp vụ chuyên môn, ông đã tóm được lý lịch nhà Đặng Vũ, biết quá trình hoạt động và sự thăng tiến của ông thân sinh ra Thiện, và suy nghĩ đắn đo về vụ đánh quả làm sao cho ‘‘hai bên cùng có lợi’’. Hôm ông điện thoại, người bắt máy là ông thân sinh ra Thiện. Sau khi lan man kể chuyện ‘”quân sử” chống nổi dậy ở đền Ngọc Trần, ông đề cập đến việc bắt Thiện ra sao, Thiện phản ứng hung bạo đến độ cắn hai chiến sĩ công an, một suýt đứt ngón tay, còn một thì bị một miếng vào bắp chân hiện vẩn chống nạng mới đi được. Rõ ràng ông luận tội Thiện là chống người thi hành công vụ, thậm chí cả tội có hành động ‘‘lật đổ’’, chuyện dĩ nhiên không phải nhỏ. Nghe Đại Tá kể, ông thân sinh ra Thiện cứ ậm ừ, có nói thì độc một câu, ‘‘tôi nghe đây’’, miệng chép chép như khi xỉa răng.

– Thưa anh, cậu Thiện chúng tôi chỉ tạm giam, hồ sơ để trắng chờ cứu xét. Chúng tôi tất nhiên phải tham khảo anh, tìm phương hướng giải quyết tối ưu…Dù sao, trong hàng ngũ ta, làm gì cũng phải có tình có lý!

Ông thân sinh Thiện lúc ấy mới nói:

– Vâng, cám ơn anh. Tôi vô phúc sinh ra một thằng khùng. Nói thật, tôi đã từ nó rồi, nhà này chỉ có mẹ nó là có giữ liên lạc với nó. Phần tôi, tôi coi tôi vô can, anh có cần chuyện trò với nhà tôi thì cứ hẹn. Lúc này tôi rất bận, tí nữa phải đi họp ở Tuyên Giáo để sửa soạn đề cương về chính sách Tuyên Truyền Thông Tin thời Internet, sau phải về các tỉnh phổ biến, vậy anh thông cảm…

Nghe đến đó, Đại Tá hiểu ngay ông ra oai và đá banh sang cho vợ. Ông vô can thì mới bảo đảm là không có ‘‘thiệt hại song le’’ mà những đối thủ của ông trong guồng quyền lực có thể gây ra với mục đích hất cẳng ông. Thế là Đại Tá vâng vâng dạ dạ rồi lấy hẹn đến thăm ‘‘gia đình ta’’.

Hôm ấy là chủ nhật, một hôm trời đột nhiên trở lạnh, hai ngày sau khi Kiều đến mang láp-tốp gửi bà thân sinh ra Thiện. Đại Tá diện thường phục, mặc côm-plê xám, sơ-mi hồng, cà vạt đỏ, và gọi taxi chứ không dùng xe công vụ. Bấm chuông, hai con Béc-giê xồ ra, nhưng đích thân bà thân sinh ra Thiện quát chó, rồi chính bà ra mở cổng, mời:

– Thưa anh, hân hạnh…Mời anh vào! Anh khéo mặc, cà vạt đỏ trên nền hồng thật là nổi, trẻ trung lắm!

Đại Tá lùi xa ngắm bà thân sinh ra Thiện, giọng thân mật:

– Chào chị, nhìn chị ngờ ngợ như bà chị ruột em…Thôi, mình cứ coi nhau như trong gia đình, cho em được làm em nhé!

Bà chị cười ngay:

– Thế thì còn gì bằng…

Ông em liền hểnh hệch:

– Thế gì còn gì bằng, nhất bà chị rồi…

Câu chuyện ‘‘gia đình’’ là hỏi đáp về tình cảnh tư riêng, nhưng ai nói mặc ai, chẳng ai tin ai. Thực chất, hai bên sửa soạn trận địa với những tuyến phòng ngự, chỗ tiến chỗ lùi, những cái bẫy thiết lập qua những câu nói ân tình lắm khi cảm động đến ứa nước mắt. Chẳng hạn: ‘‘Chị chỉ có mình nó, nhưng cháu không mấy bình thường, hơi bị tâm thần, có những hành vi gần như mất kiểm soát, Được cái bụng dạ nó tốt, thương người, nhưng dại lắm chú ạ!’’ Chẳng hạn: ‘‘ Dẫu em công tác lâu năm, một vợ ba con nhưng lương lậu ba cọc ba đồng, lắm lúc cuối tháng là phải chạy vạy từng bữa…’’. Chẳng hạn: ‘‘Bây giờ ông nhà tôi không coi nó như con, bỏ mặc một mình chị…Cũng như chú, công nhân viên nhà nước thì lương chỉ 8 triệu, bổng lộc trong công tác tư tưởng đâu có như chuyện xây dựng cầu đường, hay đóng tầu, hay dầu hỏa khí đốt, bô xít Tây Nguyên. Lộc lâu lâu một lần, thường dịp Tết, là tiền từ các báo, các nhà xuất bản văn học, nhưng chỉ đủ để ăn cháo, loãng như cháo lá đa…’’ Đại Tá thở hắt ra: ‘‘Chặc chặc, tình hình nhà mình cũng như nhà em thôi, nhưng em phải đèo bồng mấy chục nhân viên dưới quyền, tìm cái cho chúng nó đủ ăn, chị ạ!’’.

Trên cơ sở của tuyến phòng ngự, cuộc mặc cả chị – em cụ thể hơn nhiều. Có một khoản hợp đồng nằm ngoài dự đoán của chị khi cậu em thỏ thẻ:

– Kèm vào những thứ vật chất như chị em ta bàn, em có một nhu cầu khác…

– Nhu cầu gì?

– Nhu cầu trí tuệ. Em biết là trường nơi anh đào tạo cán bộ chính trị có những lớp tập huấn ngắn ngày, có thể học tại chức. Gì chứ hiểu biết đối với em quan trọng như…con ngươi tròng mắt. Em chỉ xin anh lưu tâm khi em làm đơn xin, anh chấp nhận là em có dịp sáng mắt sáng lòng!

– Được thôi, để chị nói với anh. Ông ấy thường thì khó tính lắm, đòi điều kiện này nọ, nhất là về trình độ thì cứ nằng nặc phải có cấp 3 trở lên!

– Chịu, em chỉ mới vừa xong cấp 2, làm thế nào đây?

Bà chị mặt xịu xuống, giọng nghiêm và buồn như khi tụng kinh Phật:

– Để chị xem anh có thể châm chước thế nào…

Bụng bảo dạ, chắc cậu em đang có đường thăng quan tiến chức cần đến thị chứng trình độ, bà chị liền mạnh dạn nói, giọng nửa đùa nửa thật:

– Này, thế thì cái khoản kia em giảm ít nhiều cho chị, có qua có lại mà…Chị cũng vào bước đường cùng vì cái thằng nghịch tử đó rồi!

Nói tới đoạn này, bà chị đưa khăn tay lên chấm nước mắt. Ông em bùi ngùi đứng lên, hẹn sẽ trả lời sau. Bà chị tiễn ông em ra cổng, khẩn khoản:

– Em cho chị lên trại nhận cháu ra chứ?

– Hà? Có nên không chị?

Bà chị lúc đó thân mật nắm tay ông em, nhẹ giọng:

– Lên thấy cháu tận mắt thì chỉ là cốt cho ‘‘người thật việc thật’’, có chi mà không nên!

*

Chiếc xe LandRover – bà mẹ Thiện gọi là ‘’xe lăn 4 bánh’’ – trượt trên mặt đường toàn bùn. Anh tài nghiến răng xoay tay lái, xe nhích dần rồi vượt được quãng giốc, từ từ tiến vào Trại mang độc một con số, số 17. Cán bộ trại có vẻ ngạc nhiên. Quan trên nào thình lình đến? Chắc để kiểm tra kiểm sát gì đó? Lãnh đạo làm việc như ma chơi, khi ẩn khi hiện, biết đường nào mà lo được chuyện tiếp rước lề lối. Anh Trung Úy chỉ huy giơ tay ngang trán chào, lẩm bẩm ‘’ Đ.m… đéo báo mà cứ xông vào như chỗ không người!’’

Sáng sớm Đại Tá tư lệnh an ninh huyện đã đến ‘’làm việc’’ với ban lãnh đạo trại, dặn sửa soạn hồ sơ Đặng Vũ Thiện bị tình nghi chống lại nhân viên thi hành công vụ. Khi xe ngừng bánh, Đại Tá bước ra nói nhỏ vào tai viên Trung Úy rồi đi về phía xe, ân cần mỉm cười. Ngoài mẹ Thiện, còn Kiều mà bà liên lạc qua điện thoại báo tin. Kiều khẩn khoản xin được cùng lên trại tạm giam Anh-giáo.

Được gọi lên phòng khách của trại, Anh-giáo ngạc nhiên thấy mẹ và Kiều đã ngồi cạnh vị Đại Tá. Anh-giáo lẳng lặng bước tới. Bà mẹ đứng lên, tay nắm lấy tay con, lắc lắc:

– Giời ơi là giời, làm gì mà tội tình thế hở con!

Anh-giáo nhìn Kiều, ánh mắt dò hỏi, khẽ gỡ tay ra. Đại Tá nhìn thẳng vào mắt Anh-giáo, nghiêm nghị:

– Cơ quan an ninh huyện đã điều tra, không thấy có sai phạm gì đáng kể, chỉ cảnh cáo lưu ý can phạm nên lánh xa những nơi có biểu tình, hoặc khiếu kiện đông người, dễ bị bọn xấu lợi dụng phá phách…

Ông Đại Tá tiếp tục nói, nhưng Anh-giáo nhìn đâu đâu, miệng nhếch lên cười tủm. Cụt hứng, Đại Tá khà một tiếng, quay sang bà mẹ:

– Xin chị ký nhận giấy bảo lãnh người bị tạm giam đây…

Ký kết xong, mọi người lục tục đi ra. Đại Tá khẽ kéo tay cho bà mẹ lui ra sau, khẽ hỏi: ‘‘Chị nhắc anh chuyện em xin đi tập huấn chưa?’’ Bà mẹ gật. Lên xe, Đại Tá giúi vào tay bà hồ sơ kẹp mấy cái giấy, bảo nhỏ: ‘‘Chị về cứ đốt đi, vậy là trắng chuyện!’’ Bà mẹ nắm tay Đại Tá thì thào cám ơn.

Phạm nhân vừa thoát tội ngồi cạnh mẹ băng sau, chồm lên trước hỏi Kiều: ‘‘Cái láp-tốp đâu?’’ Kiều đáp em đã đưa gửi bà. Anh-giáo thở ra. Bà mẹ mặt sa xầm, nhìn xa xăm, giọng dỗi: ‘‘Toi mất trăm triệu đấy, con ơi là con! Đúng là oan gia! ’’

Anh-giáo trước sau vẫn lầm lì, nhắm mắt như ngủ.

*

Ngoái ra sau thấy Anh-giáo, Kiều bắt chước, cũng cố ngủ sau gần nửa ngày đi hơn trăm cây số trên con đường đầy ổ trâu ổ gà. Mơ màng, nàng nhìn thấy chính mình và chẳng hiểu động cơ nào khiến đời nàng bỗng dưng thành thứ phim truyện nhiều kỳ trên truyền hình VTV. Kiều thành tài tử, người dong dỏng, tóc húi cao, không xấu không đẹp nhưng khá có duyên, khi cười một bên má lúm đồng tiền. Nói, giọng nàng nửa bắc nửa nam, nếu không hỏi mà đoán già đón non thì ngỡ là dân xưa tập kết. Nhưng không, nàng sinh ra sau Giải Phóng ba năm, gần bến Ninh Kiều, thị xã Cần Thơ. Cha nàng mới là dân tập kết, phục viên sau 75, nhưng khi chiến tranh biên giới với Campuchia thì bị tái động viên. Mẹ nàng, Bắc chay, người Hưng Yên, thích xưng mình là con gái Hà Nội gốc. Nàng lên ba thì cha tử trận nghe đâu ở Kampong Thon, chết được thăng đại úy. Lương tử mẹ nàng lãnh ăn đâu được năm ngày là cạn. Nhưng thật may, bà nội không theo ông ra bắc, có hai mẫu đất hương hỏa. Khi qua đời, vì thương thằng con độc nhất anh dũng hy sinh cho đất nước, bà để mẹ con nàng thừa kế hai mẫu đất. Chẳng biết trồng trọt nên mẹ cho nông dân thuê, đến cuối vụ lấy một phần thu hoạch. Nhưng thế là địa tô, là ‘’bóc lột’’, giai cấp địa chủ ngo ngoe ngóc đầu, như rắn. Đội tiên phong công nông kiếm chuyện, rao giảng chính sách xây dựng nông trường, đất đai là sở hữu toàn dân, và cứ thế đẩy lùi mẹ con nàng từ mặt lộ vào tuốt luốt bên trong, cho phép dựng một cái nhà chòi được lợp mái. Lên sáu, nàng đi học, mỗi lần lội bộ 3 cây số mới tới được trường, đường thì đường ruộng lầy lội, mất gần 2 giờ. Nhưng nàng nằng nặc đi mỗi ngày, chẳng phải vì yêu chữ nghĩa mà là thích cùng bạn đồng lớp vỗ tay hát bài ‘’ Như có Bác Hồ trong ngày vui Đại Thắng’’ hay bài ‘’ Đêm qua em mơ gặp Bác Hồ’’. Tuy nhiên, đến khi lên tám, nàng cũng biết đọc biết viết.

Thời đó ngăn sông cấm chợ, đi từ chỗ này sang chỗ khác mà đem hơn 2,3 kilô gạo là bị bắt. Dân Sài Gòn phải ăn độn bobo, nhưng dân ăn được gì cứ ăn, nghị quyết thì thế mà làm, cấm hỏi. Với chính sách hộ khẩu, muốn đi khỏi địa phương là chuyện khó hơn lên trời. Mẹ con nàng chạy chọt xin lên Sài Gòn vì có họ hàng sẵn lòng cưu mang, nhưng bị mắng là phản cách mạng. Và với chính sách mỗi người dân là một người công an, mẹ con nàng đi đâu cũng bị dòm ngó. Đến năm 1987, chao ôi, đổi mới, đổi mới hay là chết. Tất nhiên, vì cứ không thay cũ thì dân đã ngắc ngoải rồi, chết sẽ là tất yếu thôi!

Thời cơ đến, hai mẹ con lếch thếch đi Sài Gòn, dĩ nhiên vẫn phải ở chui nhưng dù sao cũng còn đỡ hơn sống trong cái nhà chòi gió thốc vô tội vạ đủ hai mùa mưa nắng. Hai năm mẹ tảo tần, chạy chợ, buôn thuốc tây và rồi gặp người làng, quyết định tái giá. Dượng là cán bộ kinh tài, tháo vát, lời ăn tiếng nói ngọt ngào. Vả lại, mẹ chưa đến nỗi già, góa bụa cũng 6,7 năm, và nói như dượng, thủ tiết như thế là vượt thời đại Hồ Chí Minh. Ngày đám cưới, người làng có hàng mấy chục người, ai nấy dzô dzô chúc tụng cho đúng thủ tục miền Nam thành đồng. Năm ấy Kiều mười lăm, tự nhủ sẽ coi dượng như cha đẻ, nhắm học xong cấp ba sẽ xin đi làm nhằm giúp đỡ gia đình. Hai năm sau, nhân một dịp mẹ đi vắng, dượng làm như say, tưởng Kiều là mẹ, cứ thế đè xuống làm cái việc Kiều từ đó kinh tởm. Những cơn ác mộng ùn ùn kéo về làm giông làm gió mỗi đêm khiến Kiều rạc người, mất hết sinh khí. Cực chẳng đã, khi kể cho mẹ nghe về cái sự cố ‘‘khốn nạn’’ ấy, mẹ Kiều đánh và cấm nói lại, kêu là Kiều dối trá nhằm chia rẽ dượng với mẹ. Giơ chiếc gậy tròn to bằng cánh tay quật xuống, mẹ rít ‘‘Ai bảo mà mày rắp tâm phá hoại hạnh phúc gia đình tao?’’ Dượng sau này chẳng cần giả say, hưởng theo nhu cầu, đúng khẩu hiệu, theo sát chính sách. Có lẽ đoán được, ngày cũng như đêm, có dịp là mẹ khiêu khích cho chồng giải thoát sinh dục, cách làm ông ta kiệt sức hòng để Kiều yên. Và đến lượt ông ta mặt mũi nhợt nhạt, vừa nói lắp bắp vừa thở hào hển, thấy mặt mẹ là giơ tay như ngụy đầu hàng quân ta trên màn hình VTV.

Kiều ngậm tăm cho đến khi bị những cơn tức thở đến ngất đi. Vào nhà thương, Trường cử cô giáo phụ trách lớp đến thăm. Cô giáo biết ra cớ sự, báo cáo với trường xin can thiệp. Ban giám đốc bảo, chuyện gia đình người ta, đề nghị thông báo lên Phường nơi gia đình Kiều cư trú. Phường nắm thông tin, liền truyền lệnh xuống thôn, rồi khóm văn hóa, thúc đẩy điều tra một sự vụ hơi bị thiếu văn hoá. Khi ra khỏi nhà thương, Kiều quay về nhà, cắn răng tát vào mặt dượng, quát:

– Mày không bằng con chó!

Rồi Kiều bỏ ra đi. Đứa con gái 17 tuổi làm gì để sống? Bưng bê : lương và tiền boa, triệu bẩy đến hơn hai triệu, ăn và trả tiền thuê chiếu ngủ chung phòng với 2 đứa con gái khác khéo là vừa đủ. Muốn có boa hậu, phải để cho khách ‘‘tự do’’. Điều này ‘‘tất yếu’’ nhưng chẳng phải kiểu tự do là tất yếu theo kinh sách Mác-Lê mà là cung cách ‘‘bốc hốt’’ tiền trao cháo múc của thị trường có định hướng khoái trá chủ nghĩa.

Từ bưng bê đến lên gái gọi chỉ là một bước quá độ. Kiều chửi, mất cha nó trinh tiết, còn đéo gì nữa mà phải giữ! Tình trạng buông thả sớm muộn cũng dẫn đến xì-ke ma túy nhằm mục đích quên, quên hết, quên luôn cả cái ý định tự kết liễu đời mình mà ban đầu ám ảnh Kiều. Thật lạ, khi tỉnh giấc lúc tàn canh, Kiều ôm quyển Đoạn Trường Tân Thanh đọc đi đọc lại đến thuộc nằm lòng. Hận đời, nàng hận vì mình không còn cha để chuộc, bán thân chẳng biết là để cho ai và vì gì. Cuối cùng, thôi, vị nghệ thuật vậy. Và nàng tập những ngón tâm lý chiến trong sắc dục, kiểu rên rỉ, cắn vai, cào cấu, kêu nữa đi, hoặc khóc nức lên và lấy tay che mặt vì không có lấy một giọt nước mắt nào…Nàng trả thù lũ đàn ông qua cái nghệ thuật đó, khiến chúng bỏ con mất vợ, và cuối trận thì móc túi chi trả cho cái nghệ thuật chẳng phải ai cũng đạt được. Khi có kẻ tình si đến ngu muội, nàng lạnh lùng bảo, anh à, nơi nào có nghệ thuật làm tình thì nơi đó vắng tình yêu đích thực. Riêng nàng, xác thịt là chuyện nàng ghê tởm, sau chung đụng nàng tắm rửa cho thật sạch và kỳ cọ nhiều khi đến bật máu.

*

bài đã đăng của Nam Dao


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)