- Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới - https://damau.org -

bờ kia- phần 2


*

Ú ớ khi có ai đó lay nhẹ vào tay, Chà mắt nhắm mắt mở, thấy Án đô Vương Trịnh Bồng đang cúi xuống, nhỏ nhẹ như ngày Vương bị Bằng trung công Nguyễn Hữu Chỉnh truy bức:

– Trưa mai khi họ bắt ta, mi nhớ đừng manh động bằng võ lực mà tạo nghiệp dữ. Chớ nói gì, chỉ nghe và mỉm cười là đúng như ta nguyện ước. Dặn đám tùy tùng thuộc hạ cũng hành xử như vậy, may mới sống…

Thời đó, Trịnh Bồng trốn khỏi Thăng Long để tránh phải kế nghiệp Chúa thay Trịnh Tông. Khi cái cuộc lập Cán phế Tông nhà Chúa kết thúc bằng loạn Kiêu Binh thì Bồng được triệu về kế nghiệp, tiếng có nhưng thực quyền thì không. Bằng trung công Nguyễn Hữu Chỉnh được vua Lê vời về dẹp nạn tiếm quyền, Bồng chạy đi lánh nạn. Giữ chức Chưởng quản Vệ quân, Chà tuân lời Bồng ra lệnh buông khí giới, nhất nhất ai nói gì hay chửi sao cũng chỉ một mực mỉm miệng cười.

Trịnh Bồng nhỏ nhẹ:

– Thời này khó hơn cả thời Lê tàn Trịnh mạt khi xưa! Trước còn có cái đạo lý phong kiến nó làm rào cản cho sự vô nhân. Ngày nay hiện đại nên tiền và quyền thế chỗ tất tật, vô cảm là khí giới phòng thân cho mọi sinh linh. Khôn ắt không sống, dại tất nhiên chết, bọn thứ dân biết thì ngắc ngoải, sống không ra sống, chết chẳng ra chết! Mi phải đánh cược đời mình, tìm cái sống trong cõi chết này, nghe rõ chưa!

Nói xong, Bồng vẫy tay như đánh thức Chà, rồi biến mất.

Ngồi bật dậy, Chà ngước mắt nhìn ra phên cửa có ai vừa mở. Bên ngoài, trời đầy sao. Sao giăng khắp cây cỏ, nhấp nhánh đánh nhịp cho côn trùng rỉ rả, chốc chốc có tiếng ộp oạp ễnh ương điểm vào như đại hồ cầm trong một tấu khúc jazz. Châm đèn, Chà loay hoay đun nước pha trà. Sư dậy, ra ngồi cạnh.

– Tôi đã đi đề nghị hợp đồng với Saigon-Tourism và Sinh-Caphê. Nếu cái Bà Mệnh phụ có báo cáo bọn an ninh, mình có thể khai là Chùa Lọ định làm công tác du lịch văn hóa. Tiện, tôi cũng tìm địa điểm chùa Tàu và chùa Nhật trên phố Hiến…Văn hóa Việt mà!

– Thí chủ khéo nghĩ thật! Sư đáp, trầm ngâm.

– Phải thủ thân cho kỹ, trong khi ta vẫn cứ thúc đẩy chuyện sang bờ…Duy một điều tôi thưa với thày, chỉ tiền công đức của chùa thì hụt, hụt nhiều lắm. Tôi đi khảo giá tre đực dài 10 thước đến 20 thước, hiếm nên đắt vô cùng. Đúng là có thực mới vực được đạo. Không tiền thì chẳng làm chi được!

Sư trầm ngâm, tay lần tràng.

– Tôi nghĩ Bà Mệnh phụ thì có vẻ có khả năng, nhưng thực chưa biết bà ấy là ai và mưu tính gì. Có lẽ cái nút gỡ đầu tiên là hỏi cô đồng đền Ngọc Trần!

Sư vẫn gật gù không đáp. Chà bực mình, thốt:

– Nhìn Sư cứ ba phải như Đạt Hải thiền sư Trịnh Bồng khi xưa…

Sư nói, giọng như dỗi:

– Eo ôi, ta chẳng có cái gốc gác nhà Chúa đâu! Cha mẹ ta nghèo nên ta bị bỏ đói, sắp chết thì sư ông chùa Thày cứu cho sống. Ta qui y trước tiên vì đói bụng, sau dần dần ngộ ra, đúng hạ tầng dạ dày là cơ sở xây dựng thượng tầng tâm linh, hà hà…

– Thày dạy tôi nay nên thế nào?

– Nhà Phật có ba chữ Bi – Trí – Dũng thôi! Sư lại cười. Thí chủ thừa Dũng, còn Trí thế nào thì chưa thấy nói ra trong công việc sang Bờ Kia…

Chà ngần ngừ, sau quyết định thổ lộ những gì Chà chưa biết làm thế nào cho thoả đáng. Bờ Kia là dương bản của Bên Này, mà Bên Này là thứ âm bản tăm tối không còn chút ánh sáng hy vọng. Bờ Kia hẳn là đối cực của Bên Này, nhưng Bờ Kia cụ thể là sao, sinh hoạt thế nào, môi trường thiên nhiên cho cả sinh lẫn thảo vật có phù hợp với cư dân Bên Này không? Tất cả là những ẩn số Chà cố tìm hiểu nhưng thực hư thế nào thì chẳng có cơ sở gì để xác quyết.

Sư bảo:

– Cứ cho điều kiện thiên nhiên của Bờ Kia cũng chẳng khác xa Bên Này, ta dự trù khả năng vật chất tương tự như ta biết, Cái chính là tuyển chọn cho Bờ Kia những con người bản chất khác với những con người Bên Này!

– Chẳng hạn khác thì khác ra sao? Chà hỏi.

Sư ngẫm nghĩ một lát rồi nhỏ nhẹ:

– Chẳng hạn có sao nói vậy, không ngậm miệng ăn tiền, cầu an…Tệ hơn thế, nói một đàng, nghĩ một nẻo, như con thò lò hai mặt nói vậy mà chẳng phải vậy, hành xử nghịch ngôn, việc làm không khớp lời nói, thậm chí ngược lại khi chuốc được lợi! Một xã hội như vậy chẳng còn ai tin được ai!

Sư thở ra, miệng lẩm bẩm Nam Mô, nói như chỉ cho mình nghe:

– Ngôn ngữ thành ra khí giới dùng để lươn lẹo đánh lừa, không còn là công cụ nhân loại xưa nay xử dụng để giao hảo và hợp quần! Một xã hội như vậy tất sẽ tan rã…

Chà nhìn sư, gặng:

– Như thế là chỉ vì bất tín, chẳng ai tin ai. Khi xửa khi xưa, cụ Ức Trai dạy, Tín là chữ hàng đầu để bảo quốc hộ dân! Nhưng nay, toi toàn bộ rồi, chẳng còn gì ngoài ba cái nghị quyết và dăm khẩu hiệu!

Sư khà một tiếng, thầm hỏi, nhưng tại sao mọi người lại lươn lẹo bất tín? Dễ hiểu nhất là coi đó như phương cách mọi cá nhân tự vệ giữa họ với nhau. Nhưng như vậy thì tức có cái gì đó đe dọa khiến họ khiếp sợ. Sợ gì? Thánh thần không dạy dối trá, tức không phải sợ thánh thần. Vậy dối trá vì sợ là sợ những thế lực ma quỉ. Nó vô hình, ở mọi nơi, lúc nào cũng lơ lửng như gươm treo trên cổ, đe dọa bản thân, gia đình, đời này cho đến đời sau. Oái oăm thay, chính con người dựng ra những thế lực này, giắt tay nhau cùng bước những bước hững hụt hoang tưởng dựa trên những đại danh từ như công bằng, bác ái, hạnh phúc trong một xã hội không có người bóc lột người! Và rồi để những thế lực này khai sinh ra những con người chỉ còn hình dạng méo mó, tất cả tha hóa tâm thần, cứ thế rối mù loanh quanh lòng vòng như những con cù xoay tít trong cõi nhân sinh!

Sư vuốt mặt, tay lần tràng, lát sau chậm rãi:

– Thí chủ không tin Bà Mệnh phụ chính là vì sợ bọn Nội mật viên, chuyện tất nhiên thôi! Bất tín vì sợ, sợ người, và vì không tin ở mình nên càng ngày càng sợ!

Chà giơ tay lên gãi đầu:

– Hừm, ai là người không sợ? Nhưng sợ mà tê liệt thì là chết như con giun bị xéo, chỉ biết quằn lên!

Sư im bặt, mắt nhắm lại, thầm nhủ ‘‘ Thiện tai! ta chớ phạm khẩu nghiệp rao giảng !’’. Lát sau, Chà rủ sư mai lên đền Ngọc Trần miệt kế cận Ba Vì thăm dò tin Bà Mệnh phụ. Và nhất là tìm hiểu làm sao cô Đồng lại bảo bà ta đến chùa Lọ xin cứu hộ là có quí nhơn phò trợ.

Suy nghĩ một chặp, Sư khoác tay từ chối nhưng không nói lý do.

*

Tìm suốt nửa ngày Chà mới đến được đền Ngọc Trần. Đền nằm trên một quả đồi tròn như nậm rượu tráng men xanh. Dưới chân đồi, hơn chục nhà mái ngói đỏ bao quanh một cái hồ nước trong văn vắt lung linh dưới nắng. Lúc nào cũng tấp nập, tiếng nhạc bát âm lẫn trong tiếng xênh phách trống chiêng khiến cảnh giới trần gian này cứ như lúc nào cũng là lễ hội. Và thế giới ngoài kia, với những con người vật lộn kiếm cái ăn cái mặc, chỉ là ảo ảnh.

Đền mang tên bà thứ phi của Lê Lợi, người đuổi giặc Minh rồi lên ngôi hiệu là Lê Thái Tổ. Truyện đồn Ngọc Trần là mẹ thế tử Nguyên Long, tức vua Lê Thái Tôn sau này kế nghiệp. Khi vượt sông Ác, thuyền quân không sao sang được, Thủy thần hiện ra đòi phải tế sống một phụ nữ có nhan sắc thì mới cho qua sông. Khi đó, Nguyên Long mới đầy năm, nhưng Ngọc Trần đã có thai. Bà bắt Lê Lợi thề trước mặt tướng lĩnh ba quân rằng bà tự nguyện hy sinh thì Lợi để Nguyên Long kế vị khi công cuộc kháng giặc xâm lăng thành công. Lợi chép miệng rồi thề sau khi khạc nhổ rồi văng tục liên hồi. Ngọc Trần quyên sinh, nhẩy xuống nước chết nhưng lạ là xác không bao giờ nổi lên, chẳng biết trôi giạt về đâu. Thuyền quân sang sông thuận buồm mát mái, tiếp viện cho nghĩa quân đang bị vây khổn. Kháng chiến thành công, Lợi lên ngôi trị vì, giữ lời phế Tư Tề là con trưởng, lập con thứ Nguyên Long. Xưng là Lê Thái Tôn, Nguyên Long kế vị nhưng chỉ dăm năm sau chết ở vườn Vải nhà Nguyễn Trãi khiến vị này bị bọn quyền thần kết tội thí quân, mang ra tru di tam tộc. Đó là vụ án Lệ Chi Viên, vai sát thủ là Thị Lộ, thứ thiếp của Nguyễn Trãi, từng là Lễ Nghi học sĩ trong Chà.

Đi qua tiền sảnh giữa hai hàng lư cắm những cây nhang đường kính to bằng ngón tay út đang nghi ngút khói mới đến điện thờ lừng lững ở trên cao. Chính giữa điện là tượng Mẫu, bên trái tượng bà Liễu Hạnh và bên phải, bà Ngọc Trần, tất cả đều trang phục mầu sắc loè loẹt, môi tô son đỏ lòm, má phấn trắng toát, mày xếch mi cong đều được kẻ đen nhay nháy. Nhưng ngay khi bước vào nội điện, hai bức tượng làm bằng thạch cao nằm dựa lưng vào tường đối diện nhau, một bên là Đức Thánh Trần, bên kia là bác Hồ. Hai câu thơ do bác trước tác được khắc trên gỗ sơn son choé vào mắt: Bác đưa một nước qua nô lệ để dưới ngọn đao của Thánh là vế đầu, nhắc chuyện Đức Thánh Trần 3 lần phá quân Nguyên xâm lăng nước ta vào thế kỷ 15. Vế thứ hai, nằm dưới chân bác Hồ : Tôi dẫn năm châu đến đại đồng mới thật cao cả và vĩ đại, nhắc nhiệm vụ quốc tế mà bác định gánh cho cả nhân loại thế kỷ thứ 20 này, được bác khiêm nhường lưu ý ta đừng quên. Thánh tay vẫn lăm lăm cây đại đao, mắt trợn, một chân co lên dẵm trên một giải mây. Còn bác Hồ, nay mỉm cười hiền từ, râu tóc vẫn dài nay tráng bạc sáng lấp lánh, áo đại cán 4 túi được thếp vàng. Tuy như thế có giảm chút chút khí thế cách mạng nhưng bù lại là tăng phẩm chất đại gia khá bắt mắt, vị cha già dân tộc nay nhìn thật là cực kỳ hoành tráng.

Vào đền trong, Chà đến đúng giá Ông hoàng Mười cưỡi ngựa qui Nam. Trên bàn thờ Tam Tòa, có tượng Đức Thánh, dưới là nhị vị Vương Cô.  Xung quanh, vô số tượng, từ ngũ vị tôn quan đến thập nhị vị quan hoàng. Cô Ðồng cô đứng lên, xoay vòng vòng, vạt áo xanh cuốn thành một giải lượn lờ.  Mắt cô long lanh, liếc trái, liếc phải, tay giơ lên uốn lượn như hai con rắn lục, năm ngón tay chĩa nhọn trông tựa đầu rắn…  Cưỡi con ngựa giấy, tay cầm quạt phát vào đít, cô eo éo hát:

Nhong nhong ngựa ông mới về
chiến công đã lập lời thề đã xong
ông về cho thoả ước mong
cái ngày đoàn tụ ngóng trông một đời.

Những người hầu đồng cùng nhau xướng ông về, ông về. Ban nhạc bát âm ngừng đàn, và chiêng trống cất lên, hương khói bay mờ mắt. Cung văn hát, tiếng ê a nhừa nhựa :

Bốn phương mưa móc (ư ư) mượng mầu
Bồ đào mỹ tửu thanh tâm đủ mùi… (ư… ư)
Câu thơ bách lý
Thế sự vô thường
Có quan Hoàng Mười (a à) như có cả mùa xuân
Nhớ người vì nước vì dân vì đời…. (a à ơi)…

(còn tiếp)

bài đã đăng của Nam Dao