Trang chính » Chuyên Đề, Mặc Đỗ, Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Bọn người không ngủ

0 bình luận ♦ 26.05.2014

 

 

Tôi chia tay với hai người bạn vào lúc gần hai giờ sáng. Có một chiếc xe độc nhất tôi đã phải nhường cho hai anh bạn kia vì ở xa hơn. Không thể tính tới chuyện cả ba người cùng ngồi lên, bắt xe vòng một khoảng đường dài đưa tôi về trước: cộng số tiền còn lại trong túi của cả ba người không đủ để trả một cuốc xe quá xa và cả ba người đều không ai muốn vào giờ đó còn về nhà lục tiền nữa. Tôi đi bộ, hy vọng sẽ gặp chiếc xe khác, tiện đường hơn.

Những bước chân trên hè phố, trong khi nhà nhà đều đóng kín cửa, có những âm hưởng đặc biệt. Những tiếng dội lại tai người đang bước đi tưởng như siêu thanh, nhận được không phải do giác quan thường lệ. Tôi nghĩ tại mình buồn ngủ và mệt mỏi. Chịu khó phân tích thêm chút nữa, tôi còn nhận thấy sự định hướng đi cũng không do trí tuệ, chỉ còn là những phản ứng do linh tính. Tôi rẽ về góc phố bên tay trái trong khi tưởng cứ đi mãi vào nẻo hun hút của con đường có hai hàng cây thẳng tắp trước mặt. Tôi bước đi với một cảm giác lâng lâng và một định kiến thật rõ rệt thành phố ở chung quanh ngoan ngoãn chìm trong giấc ngủ mệt. Không có cả bóng dáng những ông cảnh binh mà tôi cứ đinh ninh lúc nào cũng có mặt, suốt ngày, suốt đêm, không ngủ.

Mải gật gù với ý nghĩ thành phố thật là ngoan và những ông cảnh binh có lúc cũng phải ngủ như mọi người, tôi chợt bị xúc động vì một âm thanh không phải tiếng bước chân tôi. Tiếng động kéo dài: quẹt! quẹt! phá tan cái nhịp gióng một đang quen. Tôi đứng sững lại trước một ngõ hẻm. Tiếng bước chân không còn, nhưng tiếng quẹt! quẹt! vẫn tiếp. Tôi nhận thấy quẹt! quẹt! phát động từ một cái bóng lênh khênh tay cầm một cây chổi. Cái bóng coi bộ sạch sẽ riêm rúa nữa, không giống bóng những ông quét đường tôi cũng có gặp những hôm về quá trễ thành phố đã bắt đầu trở dậy. Cây chổi ngừng hoạt động, đứng nép lại ở bên cạnh cái bóng lênh khênh, thấp hơn đến một nửa. Một tiếng cười gằn, nghe vui vẻ mà không ác. Tiếp theo là tiếng nói, cái bóng ấy nói: “Đây rồi!” và gọi tên tôi. Không phải cái tên hai anh bạn khi nãy và số đông thường gọi, tên mà lâu rồi không ai nhắc tới, tên của tôi dùng khi “xếp bút nghiên” chạy theo những danh từ, động từ mang những âm hưởng vang động, kích thích, khêu gợi và cũng rất thơ nữa.

Nghe gọi ra cái tên cũ kỹ, tôi có lại đúng cái cảm giác chói chang lần đầu tiên đưa mắt lên chiếc máy ảnh có kềnh càng thêm một cây đèn flash. Những mặt người đối diện vụt sáng lóe lên, trơ trẽn và rõ rệt quá! Cái bóng lênh khênh mất hết vẻ kỳ bí của sự gặp gỡ bất ngờ giữa lúc thành phố đang ngủ ngoan, tôi bước tới, nắm lấy hai vai anh chàng lêu nghêu với cây chổi ở trước ngực; rất nhiều mừng rõ biểu lộ ở hai bàn tay tôi nắm chặt và lay mạnh vai người bạn cũ nguyên vẹn cảm tình. Tôi nói:

– Khả, phải không? Lạc nhau lâu, gặp lại muốn phì cười! Khả không đáp lại sự mừng rỡ bồng bột của tôi, giọng nói giữ vẻ bí mật:

– Đợi cậu mãi rồi, hôm nay mới tóm được.

Đang buồn ngủ, tôi muốn phát cáu vì cái giọng ỡm ờ của Khả:

– Tóm được rồi thì đưa về nhà đi nói chuyện để khỏi phải ngủ nữa.

Khả không đáp lời tôi, nhưng hắn thu cây chổi trên tay, quay lưng đi vào trong hẻm. Tôi theo chân hắn, cũng chẳng buồn tự hỏi tại sao Khả lại rỗi hơi đi tranh công việc của những ông quét đường chuyên nghiệp. Căn nhà ở ngay đầu hẻm. Khả đẩy cánh cửa rào không có khóa, lừng lững đi qua hai bước sân và leo mấy bậc thềm vào trong nhà. Tôi theo sát sau lưng Khả, vừa toan bước qua ngưỡng cửa thì Khả vội la lên: “Ông ơi! Bỏ giầy ra, bụi ở ngoài đời không vào được trong nhà này đâu.” Tôi chưng hửng, thoáng một giây trong óc ý muốn quay trở ra với bụi ở ngoài đường phố. Tiếng la của Khả khiến một người khác, không biết từ một xó nào bỗng nhảy chồm ra. Tôi ngạc nhiên thêm một lần nữa: người đứng trước mặt tôi cũng là một anh bạn cũ, đồng thời và đồng cảnh với Khả. Bách chỉ tay xuống sàn:

– Tên Thụy vừa mới lau xong đấy. Cậu tháo giày ra đi, bao nhiêu công phu của nó, bóng như thế kia ai lại nỡ giẫm giầy bụi lên? Tại cậu mới đến, chưa quen lề thói ở đây, đến mai thì quen ngay ấy mà.

Tôi đành tụt đôi giầy, bỏ lại trên ngưỡng cửa, và chân không bước tới ngồi phịch xuống chiếc ghế dài kê dọc theo góc tường. Vừa đúng lúc hai cẳng chân không còn đủ sức mang cái mình tôi nữa. Tôi thấy Bách cúi xuống xách đôi giày của tôi lên ngắm nghía, rồi phê: “Da tốt lắm, còn mới chỉ phải cái tội lười đánh kem, loại đói kem thèm bàn chải đây mà.” Tôi lo lắng ngó theo Bách, đôi giầy của tôi trên tay, bước vội vào phía trong. Nhưng tôi không còn phản ứng để chạy theo đôi giày nữa.

Bách trở ra liền, đôi giày của tôi vẫn trên tay. Tay kia xách một cái túi vải tòn ten mấy món đồ gì ở bên trong. Tới trước mặt tôi, Bách kéo một chiếc ghế thấp không có tựa lại gần và ngồi xuống, đôi giày của tôi để một bên và cái túi vải ở một bên. Rồi Bách trịnh trọng ngó tôi và nói:

– Ở đời không gì đẹp bằng đôi giày bóng. Da bò ở chân mình nó vẫn sống như ở trên lưng con bò vậy, không cho nó ăn kem thì nó phải chết, mà cậu cũng chết tiền mua đôi khác. Đã đi giày thì phải lo đánh bóng luôn, cậu không lo được thì để tôi lo cho, trông đôi giày đói tã ra thương lắm!

Tôi lại muốn phì cười trước vấn đề giày của Bách, cũng như trước việc quét ngõ của Khả. Tôi lấy giọng nghiêm:

– Thương đôi giày thật, nhưng anh em lâu ngày mới gặp nhau ai lại nhờ cậy nhau ngay chuyện giày dép?

Bách cãi lại rất hăng hái:

– Cậu tưởng chỉ có một mình cậu nhờ tôi đấy hả? Bao nhiêu giày của nhà này đêm nào tôi chẳng đánh bóng một lượt.

Rồi Bách cũng không buồn tiếp chuyện tôi nữa, cắm cúi bắt đầu đánh bóng đôi giày của tôi. Tôi chưa bao giờ ngồi quan sát những ông bé con đánh giày ngoài phố. Nhưng tôi tin chắc rằng cái nghệ thuật vì mấy đồng bạc ấy thua đứt cái nghệ thuật của Bách vì sự sống của miếng da và nước bóng của đôi giày. Bách rút trong túi vải ra hai ba cái bàn chải, mấy hộp kem các màu và một miếng nỉ rộng. Bao nhiêu bụi ở ngoài đời do chiếc bàn chải to nhất tẩy ra đều được hứng trên miếng nỉ và chính Bách thân hành cuộn tròn miếng nỉ đem ra ngoài ngõ. Ý hẳn Bách đã phải đi một quãng đường xa mới tìm được chỗ rũ sạch bụi trên tấm nỉ và không làm bẩn ngõ của Khả. Trở vào, Bách lại chậm rãi, kỳ khu phô diễn nghệ thuật trên hai chiếc giày tốt số của tôi.

Tôi hỏi một câu cho đỡ buồn ngủ:

– Tên Khả chạy đi đâu rồi nhỉ?

Bách tạm ngừng tay vài phút để đáp lời tôi:

– Tắm. Đêm nào quét ngõ xong ông ấy cũng tắm nước nóng. Theo nguyên tắc thì không nên tắm, nhưng ông ấy thích thế.

Tôi không thể cưỡng lại hai mi mắt cứ đè nặng xuống, chẳng kịp hỏi lại Bách theo nguyên tắc ở nhà này họ chủ trương không tắm hay sao. Tôi ngủ gục trên ghế một lúc lâu. Những tiếng nói lao xao ở chung quanh làm tôi chợt thức giấc. Trời vẫn còn tối đen bên ngoài. Ngồi trên ba chiếc ghế bắc quây quanh chiếc ghế dài của tôi nằm, Khả, Bách và Thụy đang bàn soạn về tôi hăng lắm, Tôi đoán như vậy vì tôi thấy họ chợt im bặt khi tôi dụi mắt ngồi lên. Tôi không khỏi hết sức kinh ngạc một lúc bỗng thấy ngồi ở trước mặt tới ba người bạn cũ. Thụy cũng là một trong số năm sáu người bạn học và sau đó cũng trở nên một nhóm bạn đồng hành trong một thời gian dài. Trong số có mấy người đã chết, chết ngay trước mắt chúng tôi. Hôm nay bỗng nhiên không hẹn mà tụ họp tại đây đông đủ những người còn sống, làm sao tôi không khỏi kinh ngạc và mừng rỡ. Mặc dầu cái vẻ bí mật của căn nhà và trong mắt ba người ngồi trước mặt, tôi không giấu nổi xúc động thường tình. Nhưng tôi chưa kịp tỏ lộ một cử chỉ vồn vã thì Khả đã nhắc lại câu nói khi nãy: “Đợi cậu mãi, hôm nay mới tóm được.” Và hai người kia lại nhìn nhau, mỉm cười. Thụy vẫn giữ cái cười mỉm, khẽ nhích hai bên mép, rất là khinh bạc. Tôi bỗng có cái mặc cảm của người ở ngoài cuộc đứng trước một sự đồng lõa có tổ chức, và cần thủ thế. Tôi nắn túi kiếm bao thuốc, rút một điếu đưa lên môi, rồi sửa soạn một bộ điệu chán chường, liệng bao thuốc màu đỏ trên mặt bàn thấp ở giữa phòng. Cùng với tiếng cây diêm tôi quẹt để châm thuốc có tiếng một người cười gằn và nói: “Thuốc lá Mỹ nữa!”

Tôi kéo hai hơi thuốc dài, yên lặng ngồi ngó ba người đối diện. Thở hết khói của hơi thuốc thứ hai, tôi bắt đầu muốn nổi giận. Tôi đưa mắt ngó quanh kiếm đôi giày của tôi. Đôi giày no nê sức sống của Bách nằm ngay ngắn, bóng lộng, ở góc phòng, gần bên cửa ra vào. Tôi thấy chỉ có một thái độ duy nhất trước sự lạnh lùng kỳ quặc của mấy người bạn cũ kia. Tôi đứng lên, vươn vai, chẳng nói chẳng rằng, đi tới góc phòng cúi xuống xách đôi giày lên và đi ra cửa.

Chợt có tiếng người đàn bà chạy theo tôi: “Bỏ đi hay sao? Các anh ấy không ngày nào không nhắc đến anh.” Giọng nói khẩn thiết của cô ta , một thiếu nữ rất đẹp vẻ Liêu Trai, khiến cho tôi đành để cho níu áo lại. Tôi bị lôi trở lại giữa phòng, tay vẫn xách đôi giày rất bóng. Cô gái đỡ lấy đôi giày trên tay tôi, đem cất về chỗ cũ. Bấy giờ ba người kia mới cười phá lên. Tôi ngơ ngác mất mấy giây đồng hồ rồi cũng cười to. Thế là tan cái không khí lạnh lẽo, nặng nề.

Thụy nói:

– Tụi tao mong mày lắm, nhưng vẫn cố để dành, không đi tìm, chờ một dịp tình cờ.

Thiếu nữ khi nãy bèn chen vô:

– Mấy anh bàn mãi làm sao tổ chức một cuộc tái ngộ mê hoặc như là trong Liêu Trai ấy.

Tôi quay lại, chăm chú ngó cô gái và đáp:

– Tổ chức hơi kém, tôi chỉ thấy bực mình thôi. Nhưng riêng một mình cô đã đủ Liêu Trai lắm rồi.

Không nghe tiếng nói tôi cũng đã nhận ra cái vẻ đặc biệt miền Nam ở thiếu nữ : mình thon dài như một thân cây đứng bên hồ, khuôn mặt cũng dài với những đường nét gợi lên một bức tranh xưa. Tôi chú ý đến thiếu nữ ngoài vẻ đẹp đặc sắc còn vì một lý do nữa: sự có mặt khác thường của cô ta trong nhà này. Nhưng Bách đã đi trước mối thắc mắc của tôi:

– Cô Liễu là bạn của cả ba chúng tôi và sẽ là bạn của cậu nữa, cũng làm thơ và viết văn như cậu.

Liễu vẫn giữ cái lối nói leo:

– Tôi có dịp đọc văn của anh luôn.

Tôi đáp:

– Hân hạnh, nhưng, theo tôi, bạn cùng nghề nhiều đố kỵ lắm đấy.

Câu đáp làm cho tôi chưng hửng, nhưng càng thấy Liễu đẹp:

– Riêng tôi thì không, vì nhất định thơ tôi hay hơn anh nhiều.

Tôi tin chắc Liễu còn nhiều dịp làm cho tôi ngạc nhiên nữa. Bách hỏi tôi:

– Giờ này chắc cậu mỏi lưng lắm, tụi mình rút lên lầu ngả lưng mà nói chuyện?

Lầu là một từng gác lửng choán già nửa căn nhà rộng. Bách giới thiệu:

– Khu vực riêng của Liễu.

Vẫn một vẻ sạch sẽ, tươm tất như ở phòng khách, nhưng ấm cúng hơn. Một tấm chiếu lớn trải rộng gần kín căn gác. Giữa chiếu có bày một bộ bàn đèn, ngọn đèn dầu lạc đã thắp sẵn. Nhiều những chiếc gối bọc lụa các màu bỏ rải rắc chung quanh. Chúng tôi nằm quây tròn khay đèn. Kiểu nằm trông xa như một bông hoa miền nhiệt đới nở về đêm. Liễu gác chiếc dọc tẩu lên ngang bụng và bắt đầu cầm lấy cây tiêm.

Ngọn tiêm thon dài trên những búp tay Liễu hoạt động khoan thai đều đặn như một thứ cơ khí vô tình nhưng rất tinh vi. Giọt nhựa phềnh lên rồi trễ xuống như bị ngọn lửa thu hút, nhưng vừa lúc ngọn lửa rướn lên toan nuốt giọt nhựa thì mũi tiêm đã cựa mình quện tròn lấy hạt ngọc. Hai con mắt Liễu nhẩn nha điều khiển cuộc nô rỡn giữa cây kim thép và ngọn lửa cũng linh động như chính cuộc nô rỡn kia. Ánh sáng nửa vời của ngọn đèn độc nhất không đủ để gợi lên những màu sắc. hai hàng mi dài và đen của Liễu càng đượm thêm nhiều bóng tối. Bằng ba ngón tay, Liễu rút cây tiêm cắm trong nhĩ, rồi quay đầu dọc về phía tôi. Lần đầu tiên tôi nhận một nét cười của Liễu, cười ở đôi môi mà thôi, còn hai con mắt vẫn giữ nguyên vẻ ngu ngơ không nói. Tôi nhớ đã đọc ở nhiều nơi cái sức chiêu dụ của Phù dung tiên tử, phải chăng cũng nét cười và hai con mắt không nói ấy? Cũng như những lần khác, tôi mất khá nhiều công phu để kéo cho tới hết hơi khói, tới khi giọt nhựa, dưới sức thôi thúc của ngọn lửa nhọn, đã chui hết theo con đường nhỏ của mũi tiêm khai thông khi nãy. Liễu phê bình một câu mà tôi chịu không biết đáp lại ra sao:

– Xem như anh đã xao lãng nhiều sự ước hẹn với anh em cũ, có phải tại anh làm biếng không chịu chùi bụi đường bám trên giày của anh? Tôi thấy hơi khói còn ham hố quá.

Tôi bối rối đến nỗi Bách thấy cần phải đỡ lời cho tôi:

– Cô Liễu láu táu quá đấy. Đừng vội phê bình như thế.

Với lại, có chắc tới chuyện ước hẹn cũng cần giới thiệu thêm về Liễu, Liễu cũng đã chứng kiến cái chết như bọn mình, người chết ở gần Liễu không những là bạn đồng hành mà còn là người yêu của Liễu nữa. Liễu có quyền tham dự cuộc ước hẹn của bọn mình, tuy gặp nhau sau.

Lời phê bình của Liễu, câu giới thiệu của Bách, hay hơi khói đầu tiên, đã làm thức dậy trong tôi khá nhiều kỷ niệm. Khó mà quên được những ngày lẩn khuất trong những khu rừng ẩm ướt của miền Tây bắc, gần biên giới Trung hoa sau cuộc thất bại vì bị phản bội. Bọn chúng tôi còn lại bảy người. Ngoài tình bạn thuở nay, còn bao nhiêu thấm thiết, ràng buộc do những gian khổ cùng trải qua. Đối phương hồi đó chưa đủ phương tiện quân số để bao vây và rượt bắt bằng hết phe địch. Lẩn trốn để thoát qua biên giới là việc tương đối dễ. Nhưng trong khi tìm cách vượt qua những trở lực địa hình bằng vỏn vẹn có hai cẳng chân và hai cánh tay, đồng thời tránh con mắt dò tìm ngăn chặn của đối phương. Chúng tôi còn phải thắng một trở lực ghê gớm hơn nhiều là cái bụng đói. Cái đói quy định tốc độ của cuộc lủi trốn trong rừng sâu. Ba người trong bọn đã nằm lại, không còn sức để đeo theo cuộc lữ hành xuyên sơn. Lần lượt chúng tôi ba lần quây quanh người bạn hấp hối. Vì đói, người sắp chết đã không còn được chút tàn lực để nắm tay một người còn lại. Đúng như một ngọn đèn đã cạn hết dầu và khô cả bấc. Đó lại là những người lanh lẹ, tháo vát nhất trong bọn, những người đã chiến đấu hăng hái nhất nhưng không phải chiến đấu với cái bụng đói.

Bốn người còn lại, thêm ba cái tang trên vai đã thoát được qua biên giới. Cuộc mưu sinh sau đó cũng tầm thường như những cuộc mưu sinh khác. Nhưng lòng căm giận những sự phản bội còn nuôi trong tâm mỗi người một chí cương quyết phải làm một cái gì cho đẹp lòng những người đã chết. Chúng tôi đã hăm hở tìm cách làm một cái gì. Lần lần, mặt sau của những bức ảo ảnh ham mê trước kia đã khiến chúng tôi thấy tàn nguội cả lòng căm giận. Sau đây, khi đã trở về nước và tiếp tục cuộc mưu sinh tầm thường, một lần bốn anh em cùng gặp nhau lại chúng tôi đã phải đổi hẳn lời hẹn ước ban đầu: Thà rằng đừng làm gì cả cho khỏi tủi linh hồn những người chết uổng! Rồi mỗi kẻ lại một phương mưu sinh. Cho đến đêm nay gặp nhau trên căn gác này.

Tôi ngó theo những ô vuông trên trần nhà như nói một mình:

– Tôi chưa quên, tôi không quên. Tôi không ý niệm sự ước hẹn một cách tuyệt đối như anh em, thế thôi.

Bách ngồi nhỏm dậy:

– Đừng so sánh, anh em không có ý định phê bình cậu. Cậu có toàn quyền để ham mê cơ mà.

– Bảo rằng ham mê, không đúng. Tôi chỉ muốn sống cho trọn, hay là chết. Tôi không có quyền chết.

– Đúng thế. Thấy phải sống tức là chịu những sự ràng buộc. Đứng ngoài nhìn vào, người khác có thể bảo rằng ham mê.

– Biết làm sao được? Ít nhất tôi cũng thấy có trách nhiệm đối với những người đã chết.

– Cần nhất ý thức trách nhiệm đừng đưa tới chỗ gây thêm những cái chết khác cũng vô lý như những cái chết trước mắt bọn mình. Ngày nay người ta chết còn thê thảm hơn nhiều vì không biết tại sao mà chết nữa! Cậu ham hố thích nghĩa sự sống, tô điểm sự sống. Nhưng cậu sẽ bó tay không thể giải thích được những cái chết mà người ta cho là có ý nghĩa nhất. Cậu có trách nhiệm chỉ đối với những người sống mà thôi. Đừng để cho họ tin rằng có những cái chết có ý nghĩa.

Một lần nữa tôi lại cảm thấy bối rối. Tôi đã hẹn không làm gì cả, nhưng tôi cứ đuổi theo mãi những hình bóng cũ. Giỏi lắm thì những cái chết mà tôi xót xa chỉ có nghĩa với năm ba người. Những người đang sống đều thản nhiên, sẵn sàng đợi những kinh nghiệm mới. Trách nhiệm của tôi đối với những người đã chết không phải là lo nhen nhóm ngọn lửa tàn, chỉ sưởi ấm được năm ba tấm lòng bạn. Đừng làm gì cả tức là im lặng, mặc những người chết trong sự cô độc thiên thu. Mấy người bạn tôi đã chọn sự im lặng tuyệt đối.

Tôi sẽ không tìm hiểu thái độ tuyệt đối im lặng của mấy anh em tới một mức tương đối nào. Mỗi đêm Khả có thể quét sạch một khúc ngõ, Bách có thể rủ lòng thương hết thảy những đôi giày mà anh đã gặp, sàn của Thụy lúc nào cũng sẽ không vấy bụi, cũng như ngọn đèn lặng lẽ của Liễu không bao giờ bị một thoáng gió lay, tôi công nhận rằng họ đã về gần những người đã chết hơn tôi. Tôi sẽ tuyệt đối im lặng trước dĩ vãng trong đó có thêm bốn người hôm nay. Riêng tôi, tôi không có quyền chết, bằng cách này hay bằng cách khác. Tôi lấy một sự ham mê để khỏi thắc mắc. Tôi nói với bốn người:

– Giày của tôi lại sắp vương bụi, tôi không dám hứa có săn sóc được nó như Bách không.

Bốn người vẫn nằm quây quanh ngọn đèn, trừ Bách, ba người kia không hề quay lại ngó tôi nói, họ không nghe thấy tôi nữa. Tôi lặng lẽ đứng lên. Bông hoa miền nhiệt đới nở về đêm thiếu mất một cánh. Tôi xuống thang, kiếm đôi giày bóng và đi ra. Ra gần tới cửa, nghe tiếng Bách gọi với:

– Ra ngoài, cứ kéo mạnh của, tự nhiên sẽ khóa lại, bên ngoài không mở được.

Bên ngoài, thành phố đã trở dậy. Tôi chạm trán với một ông cảnh binh đứng ở đầu hẻm.

bài đã đăng của Mặc Đỗ


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)