Trang chính » Chuyên Đề, Mặc Đỗ, Sáng Tác, Tùy bút Email bài này

TRUYỆN KHÔNG THỂ VIẾT

0 bình luận ♦ 20.05.2014

 

(dự định nhan đề trước đó THỜI THẾ THẾ)

 

Với một người viết đáng buồn nhất khi thấy cần thành thật với chính mình và quyết định không thể viết tác phẩm thèm viết. Ðã một lần, ngót hai mươi năm trước, đáp lại những khuyến khích viết của một số bạn, tôi đã tỏ nỗi buồn đó trong bài ‘Mộng-ngày của Một Người Bó Gối’ đăng trên “Quê Mẹ”. Nỗi buồn lần này thấm thía hơn.

Khoảng bảy tám năm trước, trong một dịp trà-dư mấy người bạn ngồi trao đổi những mẩu chuyện vụn về đời sống tị nạn. Một bà chợt ngồi thẳng dậy, đưa tay bảo mọi người ngưng nói: "Xếp mấy chuyện vặt lại, tôi nhớ một vụ này lý thú lắm." Qua trung gian người cháu gái, bà bạn gặp một thiếu nữ lai Mỹ. Mục đích của vụ gặp để bàn chuyện làm ăn, cơ duyên đưa đẩy tới mức cô gái tâm sự về cuộc đời của mình.

Thời đất nước còn chia hai Nam-Bắc mẹ của cô gái làm việc cho một cơ quan Mỹ tại miền Nam rồi kết thân với người Mỹ đồng sự. Hậu quả là cô gái. Khai sinh của cô gái mang họ mẹ. Bà mẹ không theo người Mỹ khi người đó mãn hạn làm việc. Sau đó cũng không hề tìm liên lạc. Cô gái được nuôi dạy hoàn toàn như một cô gái Việt trong một hoàn cảnh rất khác với những trường hợp thông thường có mẹ ở trong hàng ngũ ‘me Mỹ’. Bà mẹ kết hôn với một sĩ quan trong quân lực VNCH, sinh được một trai. Cậu em Việt thua bà chị lai Mỹ hai tuổi. Sau ngày 30 Tháng Tư 1975 người cha bị đưa đi cải tạo và gia đình ‘ngụy’ bắt đầu lâm cảnh huống ai cũng đã biết. Tai họa còn xảy ra sau đó thêm khổ cho cô gái, trong một tai nạn nhan sắc hai dòng máu trước đó rất tươi sáng bị hủy hoại.

Ðồng thời, cũng tại miền Nam, một gia đình khôn khéo đã làm giàu rất mau qua dịch vụ với những cơ sở Mỹ. Cuối tháng Tư 1975 gia đình này cũng khôn khéo phất cờ hồng dẫn cán bộ đi tiếp thu tài sản Mỹ-Ngụy. Bộ đội chiếm lĩnh xong miền Nam đến lượt cơ sở Ðảng nắm mọi cơ cấu và bắt đầu thanh lọc. Cách-mạng-Ba-mươi hết thời, gia đình khôn khéo cũng hết đường khôn khéo. Chẳng bao lâu sau những thùng quà, cũng như vài thứ ngoại tệ lẻn được về, cho người trong nước thấy rõ lớp người bỏ đi không khốn khổ nơi đất khách như loa tuyên truyền hằng khẳng định. Gia đình khôn khéo bắt được liên lạc với bà con đã định cư ở Mỹ. Cờ giải phóng Ba-mươi được kính cẩn xếp trong góc nhà, trong khi cờ vàng ba sọc trở lại phất phới trong đầu cậu con trai lớn. Cậu quyết tâm ‘đi tìm tự do’ nhưng mấy lần ra đi đều thất bại, gia đình phải đút lót khá bộn cậu Cả mới khỏi bị tù. Vừa may nghị sĩ trứ danh Ted Kennedy đưa ra giải pháp tốt đẹp gián tiếp giúp cậu Cả có thể đạt được mộng. Cô bé Mỹ lai mất nhan sắc bấy lâu bị hất hủi bỗng được cậu Cả trở lại làm quen, săn đón. Tình quen mở tốc lực tới đề nghị hôn nhân. Cảm động trước tấm tình vờ-vịt của người trai con nhà khôn khéo, nhưng chính vì tương lai người em con-Ngụy và đời sống của mẹ, cô gái nhận lời.

Thủ tục đưa tới ngày cô gái lai Mỹ được cùng chồng lên máy bay ra đi đòi hỏi nhiều tốn kém nhưng rồi cũng xong. Cuộc ‘hôn nhân’ đột ngột đứt đoạn tại phi cảng Mỹ, khi cậu Cả được bà con đón về, bỏ rơi vợ! Cô gái lạc lõng được cơ quan thiện nguyện giúp. Cố gắng mưu sinh phát triển cá tính, thêm hoàn cảnh thuận lợi, cô gái bơ vơ mau trở thành một phụ nữ tị nạn giỏi kinh doanh …

Linh tính viết trong tôi đã ngóc đầu lên ngay từ đoạn đầu chuyện của bà bạn. Tôi chỉ nghe bằng một tai, những nét sơ lược của một thiên truyện bắt đầu thành hình trong tưởng tượng. Những chi tiết thật từ đôi môi son của bà bạn tôi không chú ý tới nữa. Quy mô của thiên truyện đang manh nha trong đầu tràn quá rộng khỏi tình tiết riêng tư của một người. Từ khi bắt đầu viết tôi đã chọn một đường lối nhất định, không bao giờ đem đời tư của riêng một ai, quen hay không quen, vào truyện. Tất cả đều là những nhân vật được cấu thành do những chi tiết, hình ảnh, ngôn từ, đã ghi được qua bao nhiêu dịp quan sát, nhận định; mỗi nhân vật là một hội tụ đúng chỗ của những tài liệu chọn lọc. Cô gái bà bạn đang đề cập sẽ là nhân vật chính trong truyện, nhưng sẽ không phải là cô gái đó. Tuy nhiên trong huyết quản của nhân vật chính sẽ sôi sục hai dòng máu và tấm lòng đối với mẹ, với em, của cô gái đó. Tới nay đã bảy, tám năm qua, tôi có thể nói không một quãng thời gian nào qua đi đã không bị ám ảnh bởi những trang truyện chưa hề viết. Ám ảnh hết sức trùm lấp, vì tác phẩm mơ ước hứa hẹn quá.

Theo dòng lịch sử đất nước tôi không thấy thời nào có thể so sánh với gần tròn một thế kỷ đã qua, với ba biến cố đặc biệt nối đuôi nhau, cùng hết sức giàu sinh động trong muôn vẻ chi tiết. Sau năm thế kỷ ly tán đất nước rơi vào vòng nô lệ trong một thời gian khá dài. Cảnh khổ ly tán trở lại cùng với thế suy yếu của quyền lực đô hộ để được cụ thể hóa bằng một vụ phân ly trên giấy giữa hai miền Nam Bắc. Kinh nghiệm độc lập người Việt ở hai miền cùng thâu góp, chất ngất, trong nước mắt. Người Việt bùi ngùi thương nhau dưới hai chế độ độc lập, đó là biến cố thứ nhất. Biến cố thứ hai hào hùng thay! Nhưng đã hiện nguyên hình chẳng bao lâu sau, và kéo dài tới nay đã hơn ba mươi năm. Hai biến cố đó xô tới biến cố lạ lùng, ngót hai triệu người Việt Nam thình lình tìm được tới, và bắt đầu mọc rễ trên những bến bờ lạ.

Khơi lên từ cảnh đời nghe được về một cô gái lai Mỹ, thiên truyện mọc lên trong đầu tôi khả dĩ ôm trọn ba biến cố vừa kể. Mô tả sự sinh hoạt của đời sống Việt Nam qua ba biến cố ống kính của người viết cứ nhắm đời sống của những nhân vật liên hệ với cô gái và của chính cô gái khi bắt đầu thành người lớn. Trong phần nhất của Truyện hãy tạm gác miền Bắc, mọi sự sẽ bung ra khi bước qua biến cố thứ hai. Ðời sống của bà mẹ cô gái, đến khi hạ sinh cô gái, cho tới sau đó kết hôn với người chồng sĩ quan VNCH, không thiếu những sự việc chung quanh để mô tả mọi mặt của đời sống lớn trong hai mươi năm miền Nam độc lập. Ðề cập tới biến cố thứ hai là nội dung của phần hai trong Truyện. Chung quanh những loay hoay của gia đình đã khôn khéo thời biến cố thứ nhất lại muốn khôn khéo nữa, sau đó phải cuốn cờ giải phóng và mơ tưởng một chân trời khác, cứ tưởng tượng cũng thấy những tình tiết phong phú.

Biến cố thứ ba bày ra một sân khấu rộng bề mặt và khá thuận lợi cho sự khai triển cụ thể mọi góc cạnh của con người Việt Nam.

Một thiên truyện mênh mông, ý nghĩa, như thế, bảo không mê sao được? Ðáng mê hơn nữa là nội dung của Truyện không đòi hỏi phải ghé một chân qua lãnh vực chính trị, cứ chiếu ống kính mô tả những con người, và môi trường kiếm sống của những con người đó, đủ nói ra hết. Thêm một điểm đáng mê, chỉ cần một vai chính, một cô gái dễ dàng lẫn trong đám đông, đã đủ chất keo dính mọi tiết mục thành một thiên truyện có bề thế.

Trong nhiều tháng sau tôi mê mải với đề tài Truyện, ra công xếp đặt cái sườn để gài lên những tình tiết. Tôi ham hố đến quên mất điểm then chốt. Một buổi sáng mới ngủ dậy tôi đã nghĩ đến Truyện, chợt lóe sáng trong đầu một sự thật khi hai mắt tôi bắt gặp hai con mắt trong gương: "Ai sẽ viết?" Ðúng thế, vấn nạn đặt ra đúng lúc. Chén cà-phê sáng giúp tôi nhìn thẳng vào sự thật. Cái vốn quan sát, nhận định, rung cảm, chứa đựng sẵn trong đầu, tôi có thể dùng cho phần đầu Truyện. Nhưng từ đêm 29 tháng Tư 1975 tôi đâu còn ở trong nước để quan sát, nhận định, rung cảm nữa! Từ ngày sống tại Mỹ tôi đã có nhiều dịp tìm hiểu và khám phá những mánh lới nhà nghề của các tác giả truyện best-seller, tôi rất có thể đem ra áp dụng trong khi viết. Nhưng thiên truyện đang ấp ủ không thuộc loại đó. Tôi muốn đem tim óc gửi vào những biến thái của một giai đoạn đất nước trải qua những kinh nghiệm để đời. Nếu tôi không sống trong không gian đất nước đó sao tôi hiểu được, hòa nhịp được với tâm trạng của nhân vật để mô tả. Quyết định có liền buổi sáng hôm ấy. Mặc dù tôi tự xét sẽ viết được phần đầu và cũng cố gắng được để viết phần cuối, tôi không thể thiếu thành thật với chính tôi nếu tôi cứ viết phần giữa, toàn bộ thiên truyện sẽ chẳng đáng giá nữa.

Dứt khoát như vậy nhưng tôi vẫn không dứt được ám ảnh, tôi đã không thể viết nhưng Truyện cứ sống mãi trong đầu tôi; tôi cũng thấy buồn vì nó. Mộng-ngày hai mươi năm trước lại vất vưởng! Ðang buồn thì một ông nhà văn trẻ ghé chơi. Tôi vô tình hé lộ nỗi buồn. Nghe qua nội dung sơ phác của Truyện, ông nhà văn gật gù: "Tôi có thể viết thành một truyện ngắn." Tầm mắt ngắn ngủn ấy làm tôi chưng hững, và cũng khiến tôi càng thêm theo đuổi, vuốt ve, hình dáng của tác phẩm không thể viết. Tôi vẫn tiếp tục mong thiên truyện trong đầu tôi có ngày hiện thành những trang chữ. Tôi mong cho tôi và cũng mong cho đông đảo độc giả Việt Nam vì hiện chưa có một tác phẩm nào ghi lại liên tục giai đoạn lịch sử độc đáo vừa bi hùng vừa đáng cười ra nước mắt.

Khi ngồi xuống sắp buồn viết bài này tôi định lấy tựa đề “Một thiên truyện. . .” nhưng vội tham lam gác chữ ‘một’ vì tôi nhớ còn thấy thèm nhiều truyện khác, rất nhiều, không thể lường được. Tham lam như sau.

Thời mới lớn, bắt đầu đọc được ngoại ngữ Pháp, tôi tìm đọc truyện Pháp, mê nhiều truyện Pháp lắm, tôi cũng chú ý tới bản Pháp dịch của một truyện Mỹ dưới tựa đề Pháp ‘Le dernier des Mohicans’. Qua những tình tiết chung quanh vai chính, Natty Bumppo với tục danh Mắt-Diều, người da đỏ cuối cùng trong cuộc chiến thảm khốc giữa bộ lạc Iroquois, có người Pháp trợ lực, và quân đội Mỹ, truyện mô tả những trận đánh nhưng chú trọng nhiều hơn tới những tàn phá cảnh trí thiên nhiên, môi trường sinh sống của người và vật. Mãi sau ở miền Nam tôi mới được đọc nhiều truyện qua nguyên tác Anh ngữ, tôi rất chú ý tới những truyện khác tiếp nối với mạch văn do tác giả James Fenimore Cooper khởi xướng qua năm truyện, trong số có ‘The Last of the Mohi- cans’, mạch văn mang tên ‘Western’. Sau khi định cư tại những vùng ven biển những người đi tìm đất sống bắt đầu khai phá tiến lên phía Bắc (đó là thời của bộ năm truyện ‘Leather-Stocking Tales’ của Fenimore Cooper) tiến tới đâu đụng độ với những bộ lạc ở đó. Nắm vững phía Bắc (vùng Bắc tiểu bang New York) di dân mon men qua phía Tây, khởi đầu một cuộc Tây tiến từ 1850 đến 1900. Năm chục năm đụng độ, khai phá, lập nghiệp, với muôn vàn tình huống, là đề tài cho bao nhiêu truyện chung một mạch văn Western đầy sự việc và tình người. Ðiểm độc đáo khiến tôi chú ý là từ đó cho tới nay, một trăm năm mươi năm qua, rừng truyện Western vẫn tiếp tục mọc thêm. Năm 1985 cuốn truyện ‘Lonesome Dove’ của Larry McMurthry trúng giải Pulitzer. Sự trường tồn của loại truyện Western do tính chất không chuyên chủ về tình tiết ly kỳ của truyện, như loại truyện thuần phiêu lưu, mà đặt nặng vào những hình sắc của tình người.

Những hình sắc của tình người chúng ta cũng có một kho vô tận sau già nửa thế kỷ cốt nhục tương tàn, già nửa thế kỷ học đòi độc lập, già nửa thế kỷ dâng hiến hương hỏa của tổ tiên cho đủ thứ thí nghiệm, chính trị, quân sự, xã hội, văn hóa, . . . Kho tàng đó đang chờ những người Việt Nam dám nhận vinh dự và trách nhiệm là nhà văn.

Ðưa ra trường hợp những thiên truyện Western tôi không ngụ ý so sánh hoàn cảnh. Những người di dân Bắc Mỹ lấn chiếm đất để khai phá, họ công nhiên xâm lăng cho nên rõ ràng là thù địch của người da đỏ; trong khi chúng ta hè nhau đắm say trong cuộc cờ yêu nước đến độ hóa thành thù địch. Những người di dân Bắc Mỹ trúng tên đạn da đỏ biết rằng họ phải bỏ mình để bà con họ có đất. Những người Việt Nam gục ngã đều thật tình không hiểu nổi tại sao phải gục ngã, gục ngã cho ai. Giải thích hay biện hộ cho cái sự ‘không hiểu nổi’ đó không phải là việc của người viết truyện, đó là công việc của sử gia. Ðiểm có thể so được nếu muốn so sánh, là loại truyện của họ, cũng như loại truyện ta sẽ viết, cùng chủ yếu mô tả những tình huống của con người bị động bởi hoàn cảnh. Nhưng hoàn cảnh rất khác.

Loại truyện Western sống dai 150 năm dư nhờ trí óc sáng tạo của những người viết. Tôi dám tin rằng loại truyện ‘cốt nhục tương tàn’ của chúng ta sẽ mọc lên mãi không bao giờ hết. Người viết không cần vận dụng trí óc, những sự thật đau thương sẽ tự dựng lên nếu có người viết và người viết chịu tìm kiếm, đủ cường lực rung cảm trước sự thật. Trong khoảng thời gian bi thảm, mồ hôi, máu và nước mắt Việt Nam không tha một vùng đất nào không nhỏ xuống, người viết sẽ không để cho lãng quên khỏa lấp oan khuất. Mỗi nỗi lòng u uất đáng được một bông hoa chia sẻ, chia sẻ bao giờ cho hết được!

Say sưa với viễn tượng một rừng truyện thuộc loại ao ước sẽ mọc lên, tồn tại dài lâu, tôi cũng không khỏi lo lắng những đồng nghiệp tương lai của tôi có đủ vô tư, thời gian có bao trùm lên sự thật?

Tương lai của riêng tôi rất ngắn, có ao ước bao nhiêu cũng là suông! Tôi đã buồn chẳng viết nổi truyện cô bé Mỹ lai, nhưng tôi không buồn nữa khi mường tượng cánh rừng phong phú anh chị em khắp nơi trong nước ta sẽ gây lên. Tôi không viết được anh chị em viết giùm tôi. –

bài đã đăng của Mặc Đỗ


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)