Trang chính » Chuyên Đề, Giới thiệu tác giả, Mặc Đỗ, Thư Tòa Soạn Email bài này

hình ảnh nghệ thuật tuần lễ 25.9–1.6.2014: Họa Phẩm “Cất Cánh” của Tạ Tỵ (1922-2004)

 

 

catcanh

Họa Phẩm “Cất Cánh” của Tạ Tỵ (1972, 350×170 cm)

Họa sĩ/nhà thơ/ nhà văn Tạ Tỵ tốt nghiệp trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương Hà Nội năm 1943. Năm 1954, Tạ Tỵ di cư vào Sài Gòn. Sau 1975, sau một thời gian đi học tập cải tạo, ông cùng gia đình vượt biên và định cư tại Hoa Kỳ. Từ năm 2002 hoạ sĩ đã trở về sống ở VN, và qua đời tại đây. Ông đến rất sớm và rất thành công với hội họa lập thể mặc dù theo học ngành sơn mài.  Ông nổi tiếng với những ký họa chân dung theo  phong cách lập thể từ trước 1954. Các ký họa của ông thường đưa ra những khuôn mặt văn nghệ sĩ ưu tú của Việt Nam, là một trong những loạt tranh đôc đáo nhất về ký họa (caricature)của hội họa Việt Nam. Tuy nhiên đó chưa phải là sự nghiệp lớn nhất của họa sĩ Tạ Tỵ. Phải nhìn nhận rằng Tạ Tỵ là người mở đường cho hội họa hiện đại Việt Nam từ trước 1954 khi xã hội Việt Nam còn rất lạc hậu về mặt bằng  mỹ thuật. Nếu chúng ta có Nguyễn Phan Chánh độc đáo với tranh lụa, Nguyễn Gia Trí hàng đầu với tranh sơn mài, thì trong sơn dầu hiện đại chúng ta phải kể trước tiên đến Tạ Tỵ – chứ không phải Bùi Xuân Phái hay một nghệ sĩ tài hoa nào khác. Vì Tạ Tỵ là người đi trước quá sớm so với thời đại của mình, ông không được sự chú tâm đúng mức của các nhà nghiên cứu phê bình nghệ thuật cùng thời. Sau năm 1975  tên của Tạ Tỵ ít được nhắc đến công khai ở Việt Nam, tuy rằng Viện Bảo tàng Mỹ thuật ở Hà Nội và TP. HCM vẫn treo một số bức tranh của ông. Rất tiếc là cho đến hôm nay chưa có một công trình nghiên cứu xứng đáng nào  dành cho  Tạ Tỵ vì sự lớn lao của ông trong sáng tạo mở đường cho  hội họa hiện đại.

Bức Cất Cánh đã được ngân hàng Chase Manhattan tại Sài Gòn mua với giá 10.000 Usd hồi đầu thập niên 1970. Sau ngày 30 tháng tư năm 75, không hiểu cơ duyên nào, bức tranh lại thuộc về một họa sĩ có tiếng thuộc lớp thầy ở Sài Gòn. Sau khi ông qua đời, người con trai chuyên buôn bán đồ gốm đã bán lại bức tranh này cho Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. HCM.

Từ Lập Thể sơ khai vào thời kỳ những năm 1945-1965, sau đó Tạ Tỵ đã chuyển qua Trừu Tượng một cách dứt khoát và tuyệt vời cả với cá tính nghệ thuật và kỹ năng sử dụng màu dầu mà đỉnh cao là bức Cất Cánh. Với tôi, dù sử dụng chất liệu và kỷ thuật tạo hình Phương Tây, nhưng tranh trừu tượng của Tạ Tỵ không lẫn với bất cứ ai, ngay cả với Kandinsky. Tạ Tỵ là một họa sĩ Việt Nam mang đẳng cấp thế giới. [Trịnh Cung]

*

Trong tuần lễ này, ngoài các mục thường lệ và thơ, Da Màu tiếp tục giới thiệu đến độc giả chuyên đề Mặc Đỗ với những sáng tác và dịch thuật của Mặc Đỗ qua nhiều thời kỳ, cùng những phỏng vấn, tư liệu, và nhận định văn học về ông.

Nhà văn Mặc Đỗ tên thật là Đỗ Quang Bình, sinh năm 1917 tại Hà nội. Ông bắt đầu viết nhiều truyện ngắn và  kịch bản từ năm 1939. Tác phẩm mới nhất của ông là cuốn Truyện ngắn, xuất bản tại Austin, Texas, một tuyển tập gồm 30 truyện ngắn mà ông "lấy ra từ ba tập đã xuất bản và xếp theo thứ tự thời gian" (Mặc Đỗ, trang v, sđd) cùng "Phần phụ lục" với hai lời tâm sự về công việc sáng tác. Ông là một nhà văn sinh trưởng ở Miền Bắc nhưng đời văn lập nghiệp sung mãn nhất, rực rỡ nhất là ở Miền Nam rồi như một cây lớn, bóng tỏa đời văn ấy sang Hoa Kỳ, nơi ông lại lập nghiệp sau khi lìa xứ. Ông là nhà văn duy nhất của Văn học Miền Nam được biết tới không những là một trong những tác giả có lối viết truyện tân kỳ mà còn là môt dịch giả tiên phong giúp rất nhiều cho việc đẩy nền văn học ấy xải những bước dài chỉ trong hai mươi năm tồn tại. Ông còn là một thành viên nổi tiếng của nhóm Quan Điểm (cùng với Nghiêm Xuân Hồng và Vũ Khắc Khoan), vẫn được coi là một nhóm trí thức có thái độ chính trị rõ rệt. Những truyện ngắn hay bài viết liên quan đến nhiều vấn đề xã hội hay văn hóa được đưa ra trong chuyên đề Mặc Đỗ hy vọng sẽ không những cho độc giả cũ của ông một cơ hội để nhớ lại một khung cảnh và một "tâm cảnh" (tên một truyện dịch của ông) trước đây mà còn giới thiệu đến những độc giả mới cái lý do tại sao những khung cảnh và tâm cảnh ấy vẫn tiếp tục là mối quan tâm cho một kiếp nhân sinh tuy đầy phi lý mà quả xứng đáng để sống. Và để viết.

Nhà văn Mặc Ðỗ tốt nghiệp Luật khoa từ lâu trước 1954, song không hành nghề luật. Ông làm báo ngay từ Hà Nội với tờ Phổ Thông, cơ quan Văn hoá (nguyệt san) của Hội Ái hữu cựu Sinh viên Trường Luật. Những sáng tác của ông trên Tạp chí Phổ Thông xuất hiện khoảng đầu 1950. Sau 1954 di cư vào Nam, ông là một trong vài người đứng chủ trương Nhật báo Tự Do, và nhà xuất bản Quan Ðiểm. Tại Sài gòn, sau tờ Tự Do, ông là chủ bút Tuần báo Diễn Ðàn của Liên minh Á châu chống Cộng. Ông cũng là giám khảo Giải Văn học Nghệ Thuật Toàn Quốc (VNCH). Trước 1975, ông viết thường xuyên cho các Tạp chí Văn (Nguyễn Ðình Vượng, Trần Phong Giao), Khởi Hành, Thời Tập (TTK, Chủ nhiệm Viên Linh), Vấn Ðề (Chủ trương Vũ Khắc Khoan).

Tác phẩm của nhóm Quan Điểm khác với các tác giả trong nhóm Sáng Tạo, Văn Nghệ sau 1954 ở Sài Gòn. “Nhân vật của Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng, Mặc Ðỗ có nét chung là sự ưu tư về các vấn đề thời thế, xã hội, chỗ đứng của người trí thức trong sinh hoạt quốc gia.  Trên tờ Phổ Thông, bên cạnh truyện và kịch Mặc Ðỗ còn viết những bài như “Người đàn bà Việt Nam trong sinh hoạt nông nghiệp”  (số 14&15), “Toà Thánh và Chiến tranh” (số 4 và 5). Các tác phẩm văn chương của Mặc Ðỗ, nổi tiếng nhất có Ðộng Phù Vân, kịch (Phổ Thông, Hà Nội, 1952, 40 trang); Về Nam, kịch, Hà Nội, 1953; Bốn Mươi, truyện (Quan Ðiểm, Sài gòn, 1957, in lần 2, 1958, 218 trang); Siu Cô Nương, tiểu thuyết (Quan Ðiểm, 1958; 326 trang); Tân Truyện, tập truyện ngắn (Quan Ðiểm, 1965, 326 trang). Mặc Đỗ là một dịch giả được ca ngợi vào hàng số một tại Miền Nam, với Ngư Ông và Biển Cả, dịch The Old Man and the Sea của Ernest Hemingway, Một Ðêm Trăng của W. Somerset Maugham; Người Vợ Cô Đơn dịch Thérèse Desqueroux của François Mauriac, Một Giấc Mơ của Vicki Baum, Truyện Ngắn Hồi Giáo (10 tác giả Ả Rập), Văn, Sài gòn, 1972; Con Người Hào Hoa, dịch The Great Gatsby của Francis Scott Fitzgerald. Ðây chỉ là một phần trong rất nhiều công trình dịch thuật của ông.  Ông cũng sáng tác một tập thơ in tại Hải ngoại: Ba câu ở biển ngoài, thơ Haiku, Khởi Hành xuất bản, 2002” (trích “Mặc Đỗ Riêng Chung” của Viên Linh).

Da Màu trân trọng cảm tạ nhà văn Mặc Đỗ và nhà phê bình Nguyễn Tà Cúc đã cung cấp các sáng tác, bài viết, tư liệu, và những hình ảnh giá trị cho Chuyên Đề Mặc Đỗ.

*

Văn xuôi trong tuần:
– “Phỏng vấn Vi Khuẩn E. Coli” – Tạp Văn của Primo Levi do Trần thị NgH. chuyển ngữ
Núi Đoạn Sông Lìa – phần 48 Truyện Dài của Ngô Nguyên Dũng
– “Bọn Người Không Ngủ” – Truyên Ngắn của Mặc Đỗ
– “Bóng Hoa” – Truyện Ngắn của Mặc Đỗ
– “Bài Thơ Đánh Mất” –  Truyện Ngắn của Mặc Đỗ
– “Thày Giáo” – Truyện nNắn của Mặc Đỗ
– “Mỗi Kỳ Một Chân Dung Văn Chương”-  Tùy Luận của Mai Thảo
– “Sài Gòn của Tôi” – Tùy Bút của Mặc Đỗ
“Siu Cô Nương của Mặc Đỗ” – Phê Bình của Tam Ích

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)