- Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới - https://damau.org -

NHỮNG THÁNG NGÀY NHIỄU NHƯƠNG – Phần 2

(Viết Nhân Tháng 4, Ngày biến đổi cuộc đời của dân tộc)

 

 

Phần II

 

Khi Buôn Mê Thuộc mất, tôi đã biết Miền Nam sẽ không giữ được. Báo chí Sài Gòn tường thuật lại những cảnh chạy loạn của Cao Nguyên. Những con đường từ cao nguyên nối liền với đồng bằng, người chạy loạn nhiều vô kể, vợ con của lính, các gia đình lánh nạn cộng sản. Rồi tiếp theo những tỉnh Miền Trung mất. Lính tráng ngoài mặt trận đổ vào các thành phố, cướp bóc hãm hiếp gây cho người dân vô tội biết bao khốn khổ. Những chiếc tàu của Hải Quân chở người chạy loạn từ Miền Trung vào Sài Gòn thật khủng khiếp. Trên tàu những tên lính đầu trâu mặt ngựa hiếp đáp dân chúng, trấn lột dân chúng. Những cảnh như thế nầy bao nhiêu năm qua nhớ lại chúng ta vẫn còn thấy rợn người. Các cấp chỉ huy đành bó tay để cho những tên vô loại lộng hành. Chúng ta phải thành thật thú nhận rằng lý tưởng cao quý của chúng ta bị những phần tử vô loại nầy bôi bẩn. Những người đã từng đi trên các chuyến tàu di tản nầy, thì không bao giờ quên cảnh tượng thảm khốc do những quân nhân vô kỷ luật gây nên, đến nỗi tàu không được vào Vũng Tàu phải chạy ra Phú Quốc. Dĩ nhiên thành phần nầy bị dân chúng tố cáo, bị trừng trị. Tuy nhiên chúng ta phải nghiêm chỉnh xét lại, tại sao những người lính quốc gia trong lúc nguy biến, không giúp nhau mà lợi dụng tình thế rối ren cướp giựt, hãm hiếp người dân vô tôi. Làm sao chúng ta thắng được khi trong hàng ngũ của chúng ta có những thành phần như vậy. Ông anh của tôi, Đại Úy thuộc Tiểu khu Quảng Nam. Ông đi trên chuyến tàu từ Đà Nẵng vào Sài Gòn, ông bị vài người lính mặc đồ hoa trên tàu trấn lột. Họ bắt ông đứng lên cho họ lục xét. Họ lấy hết đồng hồ, nhẫn cưới, tiền bạc, nghĩa là trong người ông không còn một cái gì cả. Cuối cùng họ bắt ông cởi đôi giày đang mang đưa cho họ vì họ thấy đôi “botte de saut” tương đối còn tốt. Ông nói với tôi tất cả những người trên tàu đều bị lục xét như ông, ai không tuân hành bị họ ném xuốn biển. Những ngày đó báo chí Sài Gòn tường thuật lại những cảnh tượng mà đồng bào di tản gánh chịu, người dân Sài Gòn phải rơi nước mắt.

Những ngày trong tháng 4.1975, quân nhân và dân chúng từ các tỉnh Cao Nguyên và Miền Trung đổ vào Sài Gòn. Trên đường phố người đi tìm người, khuôn mặt dáo dát thất thần. Các đơn vị đồn trú trong thành phố được lệnh mở cửa cho đồng bào và quân nhân các tỉnh chạy về được tạm cư ngụ. Khi quân Cộng Sản Bắc Việt tiến sát vào thủ đô, các đơn vị bên ngoài không ngăn được, một phần vì mất tinh thần, một phần vì thấy quân Cộng Sản nhiều vô kể, tấn công tứ bề nên phần đông bỏ hàng ngũ. Mà thật tình nếu chống cự thì Sài Gòn nằm trong tầm pháo của đại bác, dân chúng sẽ tắm máu. Bài học “pháo kích” trước đây dân chúng đã từng hứng chịu, thì ai còn tin được Sài Gòn không bị tắm máu? Vì vậy để tránh cho dân chúng khỏi bị chết oan, ông Dương Văn Minh phải đầu hàng. Tôi nhìn lại sự việc bằng cảm tính của mình, đúng sai lịch sử xét lại. Gần 40 năm mất Sài Gòn, nhìn lại sự việc chúng ta có nhiều sai lầm nên Sài Gòn mới mất vào tay Cộng Sản. Nếu biết được Cộng Sản áp dụng đường lối sắt máu với Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa một cách bạo tàn. Thì dù có chết chúng ta cũng không thể buông súng.

Khi đoàn quân Bắc Việt chiếm được Sài Gòn, Lần đầu tiên người dân Sài Gòn mới thấy quân đội Cộng Sản: nón cối, nón tai bèo, dép râu, quần áo thì lếch tha lếch thếch… Thế mà họ lại thắng được quân đội của chúng ta. Những chiếc xe tăng của Bắc Việt ủi sập cổng chính dinh Độc Lập Hình ảnh báo hiệu chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cáo chung, Những ngày đầu chúng ta nghĩ hòa bình sẽ mang lại cho chúng ta một cuộc sống thoải mái, ngăn cách sẽ được nối lại, vết thương sẽ được chữa khỏi. Người dân hai miền Nam Bắc cùng nhau xây dựng đất nước, cuộc sống thiếu thốn đói nghèo sẽ được khắc phục. Thế nhưng, chính quyền Cộng Sản không làm như vậy, họ áp dụng một đường lối vô sản sắt máu. Điều khiển không bằng pháp luật mà bằng nghị quyết của Đảng. Nhân dân tả tơi, tinh thần bị khủng bố. Những món ăn mà dân Miền Nam ói ra máu: Cải tạo Công Thương Nghiệp, đổi tiền, đánh tư sản và sĩ quan công chức chính quyền cũ được gọi là đi học tập cải tạo, mà thực chất là những trại tù trừng giới khắc nghiệt mà ngày về rất mù mịt. Từ khi chia đôi đất nước đến nay, người dân Miền Nam có một số bị nghèo nhưng chua bao giờ bị đói. Chính quyền mới chưa thấy mang lại điều gì tốt, chỉ thấy đói triền miên.

Lê Duẩn trong kỳ đại hội đảng tuyên bố: “Yêu nước l;à yêu chủ nghĩa xã hội”. Trường Chinh trên đài phát thanh Hà Nội:”Ngụy quân, ngụy quyền sẽ bị nhốt lâu dài..” Còn ông Tôn Đức Thắng vào thăm Sài Gòn hô to khẩu hiệu: “Tiến nhanh tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ Nghĩa Xã Hội”. Bất kể sự gào thét của các ông, làn song vượt biên của dân chúng Miền Nam ố ạt tiến ra biển, không sợ hiểm nguy bỏ thân ngoài biển cả, rừng sâu. Miễn sao họ vượt thoát ra khỏi đất nước. Khao khát hòa bình chờ đợi bấy lâu tiêu tan, người dân ai cũng muốn bỏ chạy. Đánh thức cả thế giới về hiểm họa cộng sản, thức tỉnh nhiều người đã từng có cảm tình với đường lối Mac-Le. Các trại tỵ nạn của các nước Á Châu đầy nghẹt thuyền nhân. Đủ biết cho thế giới thấy sự thật của chế độ Cộng Sản.

Trước hết chính quyền quản lý bao tử của nhân dân, gạo và thực phẩm khác được mua bằng tem phiếu. Xe đạp là phương tiện duy nhất của người dân đi lại, quản lý nhân sự bằng hộ khẩu. Chính sách kinh tế mới dành cho “Ngụy Quân, Ngụy Quyền” đuổi họ ra khỏi thành phố. Những gia đình của chế độ cũ được phân biệt như loại công dân hạng hai chỉ có “nghĩa vụ” chứ không có “quyền lợi”.Tham nhũng của cán bộ đã lột sạch tài sản của quần chúng, tệ nạn nầy là vấn nạn trầm kha của chế độ Cộng Sản, từ đám chóp bu đến đám tép riu, đều làm giàu trên xương máu quần chúng bất kể liêm sĩ, nhân cách. Xe đò không có xăng chạy phải cải biến xe chạy bắng than. Tình trạng đất nước lùi lại gần 50 năm, đứng hạn chót trong các nước Châu Á.

Những năm đầu của Giải Phóng, người dân Miền Nam nếm liên tục từ khổ đau nầy sang đau thương khác. Thương nghiệp nhà nước dành quyền buôn bán. Công Nghiệp nhà nước tịch thu các nhà máy tư nhân dành quyền quản lý. Đồng ruộng phải vào Hợp Tác Xã, người nông dân thiếu ăn, sống cơ cực. Nghĩa là người dân sống tận cùng của sự nghèo khổ. Tôi ở gần nhà một cán bộ cao cấp, ông đi tập kết để lại vợ và người con trai. Gia đình ông sum họp, hạnh phúc. Tiêu chuẩn thực phẩm của ông rất cao, ngoài tiền lương và thực phẩm nhà nước cung cấp, ông không còn nguồn lợi nào khác. Ông lại là người trong sạch, nên phải bán bớt nhu yếu phẩm cao cấp của ông để chi tiêu trong gia đình. Mỗi tháng vợ ông đem qua nhà bán cho tôi bơ, sữa, thuốc lá, thịt v.v…vì vậy tôi mới biết cán bộ cao cấp họ có tiêu chuẩn ăn uống riêng. Hồi đó bơ sửa là một thứ xa xí phẩm thời bấy giờ mấy ai có tiền để mua? Người dân ăn cơm độn bo bo, khoai, sắn, trường kỳ. Những gia đình nào có thân nhân ở ngoại quốc, đươc lãnh quà thì cuộc sống của họ thong thả hơn một chút.

Năm 1985, tôi có dịp ra Hà Nội, mười năm thống nhất, hòa binh, cuộc sống người dân Hà Nội vẫn chưa thấy tiến triển. Đường phố chỉ thấy toàn xe đạp, thỉnh thoảng thấy mới có một chiếc gắn máy từ trong Nam đem ra. Nhà cửa chật chội không đủ tiện nghi rất dơ bẩn. Mọi người đều mặc áo quần một màu ô liu giống nhau. Tôi đi qua các tỉnh Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh v.v..nhà cửa phố xá bị bom vẫn chưa xây dựng lại. Có những khu phố toàn nhà tranh vách đất Người dân ngoài đó thấy người trong Nam ra, họ nhìn như trông thấy một người khách ngoại quốc, thật tội nghiệp. Trên những cánh đồng, dưới sức nóng của mùa hè, những người làm ruộng phải mặc áo tơi (một loại lá buông) vì họ không đủ quần áo. Tôi muốn kể về chuyến đi nầy để thấy rằng sau mười năm giải phóng, đời sống người dân Miền Bắc vẫn thua xa Miền Nam. Cho nên không lạ gì cái cảnh “Vào-vơ-vét-về” là như thế. Họ thấy hàng hóa, đồ đạc của Miền Nam mà họ có đi ra các nước Xã Hội Chủ Nghĩa anh em cũng không có được như vậy. Ngườii dân Miền Nam đã định nghĩa danh từ Bộ Đội một cách mỉa mai nhưng rất thực tế như sau. Bộ là đi bộ từ Bắc vào Nam. Đội là đội của cải tứ Nam ra Bắc. Các người bạn văn nghệ Miền Bắc rủ tôi về Hà Nội chơi, để biết rằng Hà Nội bây giờ còn hơn cả Sài Gòn, Tôi cũng biết thế, bộ máy quyền lực nằm tại Hà Nội nên phần đông họ đi ra ngoại quốc, cho con cái du học các nước văn minh nhiều hơn dân Sài Gòn. Có một điều trong thâm tâm họ biết rõ hơn ai hết là phần đông dân ngoài đó keo kiệt, ích kỷ, trong lúc dân Sài Gòn rộng rãi và dễ thương hơn nhiều. Gần 40 năm sau người dân Miền Bắc nói chung vẫn chưa bắt kịp đời sống của dân Miền Nam.

Bao nhiêu năm sống dưới chế độ Cộng Sản, người dân có một lối xử sự cũng khác. Họ nhìn nhau soi mói ganh tị. đi trên đường xe chen lấn xe, người chen lấn người, tạo nên hỗn độn, mất trật tự. Cái cảnh dân chúng đội đơn đi kiện những cán bộ quyền thế, hiếp đáp, lấy đất của dân bồi thường không tương xứng. Chẳng có cơ quan nào tiếp họ, nhưng họ vẫn đứng ngày nầy qua ngày khác. Thật tội nghiệp. Đường phố nhỏ nhưng xe cộ quá nhiều, cướp giật ngoài đường phố lộng hành. Sài Gòn trời nắng thì bụị bặm mù mịt, còn mưa thì lội nước bì bỏm rất trở ngại cho cuộc sống của người dân.

Ông Nguyễn Văn Linh nhận thấy sự bi đát của đất nước, sự bóp nghẹt văn nghệ sĩ. Các lãnh tụ có cơ hội nhìn ra nước ngoài, họ phải thay đổi đường lối, mở cửa thì mới có hy vọng sống còn, văn nghệ sĩ được cởi trói. Họ tuyên bố theo chính sách kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Không biết đó là thứ gì nghe lạ tai quá. Thôi kệ, không cần những mỹ từ vô căn cứ đó. Miễn sao người dân cảm thấy thoải mái, đời sống được nâng cao, quyền tư hữu được bảo đảm là tốt rồi. Về thăm lại đất nước chúng ta có cảm tưởng thoải mái hơn trước nhiều, các tệ nạn “trấn lột” vẫn còn nhưng ít hơn và không trắng trợn công khai như hồi trước. Bộ máy Chính Quyền theo chủ nghĩa Cộng Sản có danh mà không có thực, họ vẫn duy trì để được hưởng quyền lợi béo bở. Nên họ níu lấy nhau để tồn tại, chứ thực chất người dân chẳng quan tâm tới. Tuy nhiên chúng ta chứng kiến trước mắt khi về nước là bộ mặt đất nước đã thay đổi nhiều, người dân dễ thở hơn, cuộc sống được nâng cao. Ngày xưa chỉ có vua mới có cảnh cha truyền con nối, Còn các quan lớn con cái của họ muốn làm quan phải học hành thi cử đàng hoàng, con đường hoạn lộ của họ tùy thuộc vào khả năng chứ không nhờ bóng dáng cha ông họ. Còn bây giờ dưới chế độ Cộng Sản là cán bộ cao cấp sắp sẵn chức vụ cho con cái mình, tiếp tục lãnh đạo quần chúng, người dân dù có bằng cấp cỡ nào cũng đứng xa, đừng hòng bén mãn tới gần các chức vụ lãnh đạo. Nhìn Trung Cộng, Bắc Hàn y hệt như Việt Nam cha truyền con nối vào những chức vụ then chốt của chế độ. Chúng ta mới thấy những người tranh đấu trong nước thật dũng cảm. Họ biết việc làm của họ trăm ngàn phần khó khăn, họ không thể xô nỗi ngọn núi vững chắc của chế độ nhưng họ vẫn kiên trì. Hết lớp nầy tới lớp khác đứng lên. Tù tội khắc nghiệt vẫn không làm cho họ nản chí. Đó là những con người chúng ta phải trân trọng.

Đây là một ký ức của cá nhân tôi, có thể đụng chạm tới nhiều người, mích lòng nhiều người. Sự việc của quá khứ đã xẩy ra trong một thời kỳ nhiễu nhương của đất nước. Tôi viết trung thực của sự việc với cái nhìn khách quan, không có chủ đích bài bác ai hay hạ nhục ai. Tuy nhiên cũng không thể tránh khỏi những sai lầm hay làm khó chịu cho một số người đọc. Kính mong quí vị lượng tình tha thứ. Những sự việc đã qua gây nên những cơn đau của đất nước, lẽ ra những người cầm quyền sau nên tránh vết xe cũ. Lại tạo thêm những bất công, những chèn ép để đoạt lợi, giữa một đời sống văn minh mà người đứng ngoài đất nước cảm thấy khó chịu, nhưng không giúp gì nhau được. Tôi đã sống qua 15 năm dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa đã thấy những bất công, những bóc lột trắng trợn hiện vẫn còn tiếp diễn, mà kẻ phạm tội chính là những cán bộ từ trên xuống dưới. Người dân là những nạn nhân của cái thể chế áp bức đó. Tôi mong rằng một ngày gần đây người dân sẽ thoát ra khỏi gọng kèm oan nghiệt nầy./

 

Houston, ngày 23 tháng 4 năm 2014
Phan Xuân Sinh

bài đã đăng của Phan Xuân Sinh