Trang chính » Sáng Tác, Tưởng Niệm Phạm Chi Lan, Tùy bút Email bài này

Những Giấc Mơ Trong Bệnh Viện

LTS: Những giòng chữ dưới đây nói về những điều rất thật.  Nỗi tuyệt vọng có thật. Cuộc chiến đấu có thật. Sau hết, chiến thắng và hạnh phúc có thật. 
Cám ơn Phạm Chi Lan và niềm hy vọng có thật.

Tôi không nhớ mình mê man được bao lâu, chỉ nghe văng vẳng bên tai "Ms. Pham, you’re awake… Operation is done!" Rất nhiều người chung quanh đang bận rộn tíu tít với tôi và với đám máy móc dụng cụ và các procedures trong phòng hồi sinh… Tôi chỉ cảm thấy một vùng lạnh mênh mông, đau buốt ở lưng, tôi đang ở đâu đây… Rồi tôi nhìn thấy khuôn mặt chồng tôi cúi xuống, anh vuốt má tôi, cười mà như mếu. Tôi mỉm cười thấy lòng thật bình yên vì có người thân yêu bên cạnh.

Rồi người ta đem tôi ra phòng ICU, Nhi chỉ ở cạnh tôi được một lúc rồi y tá đuổi về bảo hết giờ thăm bệnh. Thấy mắt anh rơm rớm, không đành quay lưng đi, tôi giơ tay vẫy vẫy, thì thào "về nghỉ đi anh…" Lúc bấy giờ hình như là khoảng 10g tối thứ Hai. Tôi còn sống, ôi lạy Chúa, tôi vẫn còn hiện diện trên đời đây ư? Tôi thở bằng ống dưỡng khí, và quanh người tôi không biết bao nhiêu ống, dây điện… chi chít cột chặt tôi vào giường. Tôi đưa tay lần đếm: ngực và bụng tôi quấn băng kín mít, có 3 ống test tubes từ trong ngực và bụng chảy ra 3 cái fluid collectors ở cạnh giường, foley catheter, tay mặt thì có máy đo áp suất cứ 30 phút lại tự động bóp chặt, máy bóp hai chân cột vào cuối giường để khỏi đọng máu cũng vậy, chốc chốc lại co thắt rồi xì hơi… Còn cái gì đầy trên ngực thế này? Một lô dây nhợ dính vào một cái máy nhỏ đặt trên ngực, nối vào monitor đo nhịp tim, oxygen…, thỉnh thoảng nó kêu tít tít, y tá lại chạy vào bấm bấm cái nút gì đó rồi nhìn phớt qua tôi. Tôi nằm cứng đơ như một cái xác còn thở, còn nhận biết chung quanh. À thì ra người ta vừa cứu sống tôi qua một giải phẫu.

Tôi vừa trải qua một cuộc giải phẫu cấp tốc để tôi còn thở và còn sống thế này. Tôi nhớ bác sĩ có giải thích sẽ làm gì làm gì và yêu cầu tôi ký tên vào cái consent form. Tôi cố gắng run rẩy ký tên mình trên cái lằn ngang ở tờ giấy, rồi gật đầu phó thác mạng mình trong tay bác sĩ. Làm gì tôi cũng được, làm sao cho tôi thở được thì làm, đâm đục chích chỗ nào cũng được, tôi không sợ đau đâu, tôi chỉ sợ mình ngất đi và tôi sẽ đi luôn vì không thể thở được, tôi sẽ phải giã từ đời sống tuyệt đẹp này. Phổi và tim tôi ngập đầy nước, người ta bảo thế. Sáng nay, nếu tôi không vào emergency kịp thời, chắc bây giờ tôi chỉ còn là cái xác lạnh ngắt!

Ôi trời, không thể diễn tả hạnh phúc sung sướng khi nhìn thấy cánh cửa sổ căn phòng bệnh viện ngập đầy ánh nắng bình minh sáng hôm ấy. Hình như đó là một ngày thật ấm và có nắng đẹp, sau vài ngày có mưa đá rất lạnh của đầu mùa đông Dallas. Dù tôi vẫn còn nằm cứng đơ trên giường bệnh với bao nhiêu giây nhợ chằng chịt, nhưng nhìn thấy khoảng nắng trong lành ngoài kia, tôi bỗng thấy yêu đời sống vô cùng. Ngoài kia, một ngày mới đang lên, những nhánh cây khô mùa đông oằn mình chịu đựng cơn lạnh của đêm qua, khô xám và hứng đầy ánh nắng long lanh, con đường buổi sớm có tiếng xe cộ qua lại, có tiếng còi xe, tiếng phanh xe, tiếng một xe cứu thương hay cảnh sát công lộ đang rộ hồi còi inh ỏi từ xa vọng lại… Những tiếng động đáng yêu ngoài kia là của một đời sống bình thường, đối ngược với khung cảnh chìm đọng, gò bó trong căn phòng bệnh viện này. Đối với tôi, những tiếng động sinh hoạt đời sống bên ngoài giờ mới thấy gần gũi thân thương làm sao. Tôi muốn ứa nước mắt. Tôi thèm vô cùng được sống trong thế giới ngoài đó, tôi ao ước được lái xe đi chợ, đi nhà thờ, đi tới nhà bạn bè… tôi muốn đánh đổi tất cả để có được một phút đi lang thang dạo bộ dưới con đường tản bộ ngoài kia, với những đám lá vàng tả tơi cuối mùa thu chín. Còn nhớ hôm nào đi lang thang ngoài phố với chồng và dự định cho những chuyến viễn du. Một nơi nào đó, có nắng ấm, có đời sống hiền hòa, có những quán cà-phê lộ thiên ngồi nhìn thiên hạ thong dong qua lại chẳng hạn. Đời sống ơi, sao mi vừa gần gũi vừa xa cách thế này…

*

Dù đã ra khỏi ICU và được về phòng riêng, tôi vẫn trải qua từng cơn tỉnh rồi mê, thiếp đi rồi tỉnh lại khi có ai lay nhẹ, có thể vì side effect của morphine trị đau đớn làm tôi không ý thức được chung quanh. Hôm nay là ngày thứ ba trong bệnh viện, chồng tôi gần như lúc nào cũng bên cạnh, tội nghiệp anh, hai mắt anh đỏ kè, sâu hoắm vì mệt mỏi và thiếu ngủ, thiếu ăn… anh trông như người mang bệnh, chứ không phải là tôi. Nhi nói tối nay sẽ mang mền gối vào ngủ ở bệnh viện cạnh tôi. "Anh có chỗ nằm rồi, đây này, cái ghế này ngả ra sẽ thành một cái giường thoải mái. Được nằm ngủ cùng phòng cạnh em cả đêm còn gì bằng. Anh không thể chợp mắt một giây khi về nhà một mình, căn nhà trống trơn, lạnh lẽo không có em… Nhìn chỗ nào anh cũng thấy bóng dáng em… Anh sẽ mang sách và thơ vào đọc cho em nghe, tối nay anh sẽ đọc thơ tình cho em ngủ…" Tôi thấy mình hạnh phúc vô cùng. Nhi ơi, anh là người yêu dấu nhất đời, có ai đọc thơ cho em nghe hay hơn anh đọc đâu…

Và đúng như dự tính, 10 giờ tối thứ Tư, Nhi ngồi cạnh tôi, với cuốn thơ "Quái Phong" của anh trong tay, anh lần giở đọc những bài thơ tình cho hải đăng, những bài thơ lúc nào cũng làm tim tôi như nghẹn lại vì cảm động, thơ đầy ắp kỷ niệm, chúng tràn về làm tim tôi nghèn nghẹn. Chúng tôi như đang đi lại trên những con đường hạnh phúc ngày nào… Giọng anh ấm và êm, anh đọc sang sảng như nhập vào lời thơ. Nước mắt tôi ứa ra, "đọc nữa đi anh, cái bài thơ nào có nhắc đến kỳ mình ghé đỉnh hải đăng ở Point Reye miền bắc California, rồi kỳ mình đáp xe lửa từ Cerebes đi Barcelona đó…" Chồng tôi chọn đọc bài "Ta cũng có một Giáng Sinh như ai…". Tôi chợt nhớ chỉ còn vài hôm nữa là Noel, liệu tôi có một Giáng Sinh năm nay… như ai không? Lại cảm thấy bồi hồi. Nếu Chúa cho tôi một điều ước bây giờ, tôi sẽ xin được về nhà ăn Giáng Sinh với gia đình, rồi tôi có từ giã cõi đời cũng vui lòng. Một mơ ước nhỏ nhoi, chắc Chúa không nỡ từ chối? Tiếng chồng tôi đọc tiếp những bài thơ anh chọn, những bài thơ mà anh đã dành riêng cho cuộc tình của chúng tôi, bắt đầu cách nay 11 năm. Tôi có thể chết một cách hạnh phúc trong tiếng đọc thơ của anh thế này… Anh lại đọc tiếp, đọc mê mải một bài thơ đắc ý khác mà anh đã vắt tim ra, từng lời từng chữ cô đọng, và hẳn nhiên vô cùng ý nghĩa với liên hệ vợ chồng tôi. Một lúc, anh quay nhìn tôi, mắt đỏ và ướt, nói rất nhiều thay lời. Tôi mỉm cười, nói khẽ: "Cám ơn anh. Những bài thơ làm em tỉnh rồi nè…" Nhi cầm tay tôi rồi anh bật khóc, "em phải tranh đấu cho em và cho anh nữa, nghe em…" Tôi nhắm mắt, gật đầu. Em đang tranh đấu cho sự sống vô cùng quí giá và rất đẹp, của chúng mình. "Em sẽ cố gắng vượt qua kỳ này, em xin Chúa cho em sống bên anh thêm một thời gian hạnh phúc nữa, bao lâu cũng được… anh chịu không?" "Lâu hơn nữa, em cứ tin như vậy đi…" Đời sống ơi, hạnh phúc ơi, tất qua như đang đi qua trước mặt tôi, tôi cố đưa tay bắt lấy, níu lấy… Có lúc, lòng tôi êm dịu, bình an và thanh thản lạ thường. Tôi nhớ lại từng hồi ức, đời tôi nhiều hạnh phúc quá đấy chứ. Tôi có ra đi về với Chúa bây giờ cũng đủ mãn nguyện. Và tôi đã sẵn sàng, Chúa ơi đem con về nơi ấy đi, nơi ấy chắc hẳn vô cùng bình yên và hạnh phúc. Rồi lòng tôi nghẹn lại, còn Nhi, chồng con, anh ấy sẽ sống thế nào khi con không còn bên cạnh? Chỉ nghĩ đến anh, lòng tôi quặn thắt. Số mệnh không cho em ở bên anh lâu hơn cho đến đầu bạc răng long, biết làm sao được…

Tôi nhớ đến thư một người bạn, có khi Chúa đóng cánh cửa chính khi ta đi tìm hạnh phúc và tìm đến người, nhưng đồng thời Chúa lại mở ra những cánh cửa sổ nho nhỏ…, tạo cho ta nhiều cơ hội thử thách hơn để đến với người. Trong tay tôi đang có rất nhiều cơ hội để tìm đến bên người, lẽ nào tôi không tận dùng. Tôi vẫn muốn chinh phục thử thách. Tôi lại ứa nước mắt, cuộc đời 47 năm đã đủ, tôi đã may mắn gặp người chồng yêu thương tôi chân thành, đó là ân tứ Chúa đã ban cho tôi. Nếu không có chồng tôi trong thời gian đau bệnh vừa rồi, ai chia sẻ đau đớn, khó khăn với tôi? Tạ ơn Chúa, đó chính là cánh cửa nhỏ Chúa mở ra cho tôi đó. Và còn nhiều xoa dịu khác mà Chúa đầy lòng thương xót đã trao cho tôi: Công việc làm dễ dàng, đồng nghiệp tốt bụng, bạn bè thương mến, gia đình an ủi, và nhiều điều thuận tiện khác đã đến với tôi trong 2 năm tôi mang căn bệnh này. Chúa đóng cánh cửa chính, vâng, cuộc đời tôi gặp nhiều biến cố, và biến cố căn bệnh quan trọng này là thử thách sau cùng, đời sống thật mong manh, tôi biết rõ đời sống tôi sẽ thu ngắn lại và không có tương lai dài, tôi sẽ không có cơ hội đi hết con đường cuộc đời cho đến ngày thành một bà cụ già tóc bạc, sẽ không đến ngày hưu trí, về hưu thong dong đi du lịch đó đây, thăm viếng những nơi xa lạ như tôi hằng mơ ước, sẽ không có dịp về VN thăm những trung tâm xã hội giúp đỡ người tàn tật, kém may mắn như tôi dự định và hứa với lòng, và còn nhiều dự định lâu dài mà tôi đã có lúc phác thảo… Tất cả những ý định tương lai đó giờ không còn quan trọng đối với tôi nữa. Quan trọng là chính giờ phút này, khi tôi đang nằm đây trong căn phòng bệnh viện và biết là tôi vừa thoát một cái chết, vừa trải qua một cơn thử thách. Tôi chấp nhận thực tại, chấp nhận những ngày giờ còn lại vô cùng quí đẹp mà tôi đang có. Tôi thấy lòng bình an…

Giấc mơ thứ nhất

Đêm thứ tư ở nhà thương, Nhi mang gối, mền, và một cuốn sách to tướng, tuyển tập Võ Phiến, để đọc cho tôi nghe. Lúc ấy khoảng 10g hơn, cô ý tá người da đen gốc Phi châu tò mò hỏi thì chồng tôi trả lời, để đọc cho vợ tôi nghe, vợ tôi rất thích đọc sách. "Đọc sách cho bà ấy nghe, ôi chao, tuyệt quá. Ông bà cứ tự nhiên thoải mái nhé, cần gì cứ gọi tôi."

Nhi giở tập sách dầy cộm, "để xem anh sẽ đọc bài gì cho em nghe đây. Tùy bút của Võ Phiến duyên dáng, thú vị. A, bài này hay nè, "gắn, gùa, và gụ". Bài nào cũng được, tùy anh chọn. Giọng Nhi ấm và êm, tôi lim dim lắng nghe, cái đau như không còn cảm giác… Bài viết mở đầu với cảm xúc của một người khách tình cờ đi lang thang đến một vùng chợ quê miền Trung (?). Khung cảnh chợ quê đơn sơ, vài cái quán lá liêu xiêu, bà cụ yếm thắm, cô hàng bán quán vô tư, vài đứa trẻ chạy chơi tồng ngồng, hàng của họ là những bó rau, hạt nếp, quán bún, gánh chè. Hình ảnh nên thơ và bình an quá. Khác với khung cảnh chợ búa ngày nay ở VN, xô bồ, chụp giật, chen lấn, la ó… Người khách trong bài viết gặp một cậu bé đến chào hàng, "mua gắn, gùa gì không chú." Giọng người miền Nam, a đây là giọng miền Nam mà tôi cũng đã từng được nghe. Tiếng rắn phát âm thành "gắn", rùa thành "gùa"… Cậu bé lại gạ gẫm thêm, "Mua ‘gắn’, ‘gùa’ về nhậu, thì phải kiếm thêm ‘gụ’ nữa." "Muốn gắn có gắn, gùa có gùa, gụ có gụ…" Dường như bài viết như thế, trong mơ màng, tôi chỉ có thể thu thập được bấy nhiêu ý chính. Tùy bút vui thật, dễ thương, trong sáng, nhí nhảnh, hồn nhiên làm lòng tôi ấm lại. Và cái hình ảnh quán chợ miền quê ấy bỗng theo tôi vào giấc mơ hiếm hoi trong đêm nằm bệnh viện. Đã mấy tuần qua, tôi có ngủ được đâu, nói gì đến một giấc mơ đẹp.

Giấc mơ diễn ra như thế này. Nhi và tôi rủ nhau đi gởi tiền về Việt Nam cho gia đình anh. Chúng tôi đến một khu chợ Mễ cạnh biên giới (lạ chưa?), khung cảnh êm đềm, bình yên, trong cái nắng chiều vàng ấm áp. Những quán xá thưa thớt, vài kiosk bán hàng lưu niệm đủ màu sắc, vài xe bán hàng rong, bà cụ già nhăn nheo ngồi buồn đuổi ruồi vo ve trên những chiếc bánh chiên xốp. Nhi ghé vào một gian hàng, anh đòi gởi 95 pesos về VN cho thân nhân. Tôi ngạc nhiên hỏi "sao anh gởi số lẻ vậy? Rồi bên đó làm sao hoán đổi ra tiền VN để đưa lại cho người nhà?" Anh nói "Tại ở đây họ làm việc như vậy, bên VN sẽ nhận được tiền chẵn." Tôi không nói gì thêm, và cũng không buồn thắc mắc trị giá 95 pesos Mễ trong giấc mơ là bao nhiêu nếu hoán đổi ra tiền VN. Cảm giác lúc ấy thật êm đềm, lòng thanh thản lạ lùng. Bỗng thấy bên tường một giàn hoa vàng, hoa gì tôi không biết tên, chỉ biết là đẹp lắm, đẹp não nùng, đẹp lạ lùng… Tôi rủ chồng chụp một bức ảnh bên giàn hoa rồi gởi về cho gia đình bên ấy xem. Một người Mễ cầm máy ảnh chụp hình dạo đến bên, tôi cười thật tươi đứng bên cạnh chồng, trước giàn hoa màu vàng tuyệt đẹp.

Họ ở đâu xuất hiện ở đám đông giữa phố chợ. Hai người đàn bà trung niên, da rạm nắng đen xám, nhiều nếp nhăn, tóc hoa râm và cắt tém thật ngắn trông ngộ nghĩnh. Cái kiểu tóc của những người gypsies nghệ sỹ, tuy bình dị nhưng vẫn tỏa ra một vẻ biệt lập giữa người thường. Họ mặc quần áo giống nhau, quần ống loa rộng màu xanh nhạt, áo sơ mi trắng tay phồng, đơn giản nhưng không phải là trang phục thường ngày của người lao động, có vẻ như họ đóng bộ để sẵn sàng trình diễn dạo kiếm sống. Người ta vây quanh họ, người già, trẻ em, những người tò mò đứng ngồi quanh họ chờ xem họ sẽ làm trò gì. Họ sẽ trình diễn gì? Vợ chồng tôi cũng tụ lại gần xem. Người đàn bà nhỏ con hơn lôi ra một chiếc guitar cũ kỹ, lau nhẹ phím, nắn giây, dạo một vài nốt nhạc, chúng tôi chờ đợi… Và kìa, giọng hát song ca bỗng trổi lên từ đâu, rất mạnh và to, tỏa khắp khu chợ chiều. Giọng hát và lời nhạc ấy hay vô cùng, tôi không biết diễn tả thế nào khi nghe hai người nghệ sĩ già ấy trình diễn. Đó là nét trình diễn của người nhà nghề, nhập hồn và điêu luyện, đầy nghệ thuật. Có lúc họ hát tiếng Pháp, rồi chuyển sang Tây Ban Nha, tôi không hiểu lời nhạc lắm, nhưng tôi như bị thôi miên nhập vào tiếng hát và lời ca của họ. Lối trình diễn tuyệt vời, ru hồn và quyến rũ lạ thường, giống như những nghệ sĩ trứ danh trên một sân khấu hí viện lớn đang thu hút đám đông.

Thế rồi khung cảnh trong giấc mơ chợt đổi sang một phòng khách nhỏ, giống như trong ciné người ta đổi scene bất chợt. Trước lò sưởi có lửa hồng tí tách, hai người đàn bà vẫn đang hát một cách say sưa, đám khán giả vẫn là những kẻ ở phố chợ nhếch nhác và quê mùa, đứng ngồi ngổn ngang lắng nghe một cách chăm chú, và chúng tôi đang ở giữa họ, thưởng thức những bài hát rất hay, giọng truyền cảm của hai người đàn bà như đưa người nghe vào một thế giới xa lạ, đằm thắm, êm ái lạ thường. Tôi có cảm giác mình đang ở một vùng bình yên vô cùng, có thể nào gọi đó là thiên đàng?

Cảm giác thiên đàng ngây ngất ấy bỗng bị cắt đứt vì tiếng gọi của bà y tá trực, "Ms. Pham, I need to take your vital signs." Tôi giật mình ra khỏi cảm giác êm ái, vô cùng tiếc nuối. Nhìn đồng hồ trên tường, lúc đó là 3g sáng.

Những giấc ngủ rất khó đến với tôi trong những ngày khốn khó vừa qua, nói gì đến một giấc mơ cho tôi cảm giác thú vị và hạnh phúc ấy. Tạ ơn giấc ngủ, tạ ơn giấc mơ. Chỉ tiếc, giá y tá đừng lay tôi dậy, thì cảm giác ấy còn kéo dài hơn. Nhưng quan trọng là, tôi tỉnh dậy với cảm giác sung sướng và nhớ rất rõ từng chi tiết của giấc mơ. Hình ảnh và câu chuyện giấc mơ ấy, nếu có thể tái tạo trong một đoạn phim documentary ngắn, loại short arts movie, thì thật hay biết mấy! Tôi bỗng ước mơ nếu có thể tái hiện những giấc mơ đẹp thành… phim ảnh hay truyện ngắn được, thì tuyệt quá.

Giấc mơ thứ hai

Những giấc ngủ dù ngắn ngủi trong bệnh viện đối với tôi cũng rất quí, dù thuốc đau làm ngầy ngật nhưng nhắm mắt ngủ một giấc dài thật vô cùng quí hiếm. Thế mà đêm sau, tôi lại ngủ một giấc khá dài, dễ thường đến 3 tiếng. Cũng nhờ giọng đọc êm ái của chồng tôi ru vào giấc ngủ. Anh đọc tiếp một đoạn tùy bút của Võ Phiến, lời văn nhẹ nhàng, thông minh, dí dỏm, và hẳn nhiên là… rất dễ ru ngủ. Tôi thiếp đi, và gặp một giấc mơ khác cũng cho tôi cảm giác sung sướng, êm đềm, khỉ tỉnh dậy còn nhớ khá rõ chi tiết.

Đó là một buổi họp mặt gia đình có đông những người thân, khung cảnh ấy hoàn toàn xa lạ tôi chưa từng biết tới. Chung quang tôi là các anh chị, các cháu rất đông tôi không nhớ rõ mặt từng người, chúng đang xúm xít bàn tán, trò chuyện, cười nói với nhau. Tôi ngồi yên ở góc quan sát những người thân trong khung cảnh ấm cúng đó. Rồi nghe có tiếng đứa cháu nói: "Bây giờ tới phần trình diễn thành quả phúc lợi của từng người trong gia đình. Ai làm những điều lành, phước thiện trong cuộc đời mình thì những nghĩa cử ấy sẽ diễn ra như đang chiếu phim. Mọi người sẽ thay phiên nhau tới lượt mình nhé…" Lạ ghê, một kiểu "kiểm thảo" hành vi cuộc đời, bày diễn ra theo kiểu chiếu phim 3 chiều (3-D) ngay trước mặt, có hình ảnh mình đi qua trước mặt mình, từ ấu thơ cho đến trưởng thành. Tôi thấy thú vị vô cùng. Ô kià, ai kia sao trông giống tôi, đang đi qua trước mặt mình, vừa thân quen vừa lạ lẫm. Và cái mái tóc đó, lởm chởm cắt tém, vừa thô vừa thưa thớt, đó là tôi đó sao? Tiếng một đứa cháu cười khanh khách bình phẩm: "Úi chà, mái tóc dì Lan mode quá xá…" Tôi thấy một người đàn bà trung niên, khá giống tôi, tóc tém tẹm, xơ xác giống bàn chải chổi cùn, giống kỳ tôi vừa cạo sạch sau đợt chemo thứ nhất, vậy mà mode cái nỗi gì? Bà ta cười tươi rói, giơ tay vẫy vẫy chào. Tôi trố mắt nhìn lại. A tôi hiểu rồi, đây là hình ảnh diễn biến của "toà phán xét" sau khi người ta qua đời, người ta có thể nhìn lại ký ức mình xem mình đã làm những điều lành dữ nào trong đời. Nhưng sao lòng tôi êm ái hạnh phúc thế này? Cái người đàn bà giống tôi đó cười tươi, và đám em cháu đang vỗ tay tán thưởng "thành quả" của bà ta, lại còn khen như để khích lệ tinh thần. Và tôi còn nhớ một chi tiết, tôi mặc cái áo dài thêu hoa, đi đứng đàng hoàng, không chống nạng khó khăn như ngoài thực tế, lạ chưa!

Đang say sưa với cảm giác êm đềm lạ lùng ấy, bỗng có tiếng cô y tá đánh thức: "Ms. Pham, há miệng ra cho tôi lấy nhiệt kế nào…" Tôi choàng tỉnh với cảm giác hụt hẫng vì tiếc nuối.

Và những giấc mơ khác…

Giữa cảm giác mơ màng, mê mê tỉnh tỉnh, tôi cũng chợp mắt được một chốc và có được những giấc mơ nho nhỏ. Chúng là những hình ảnh không rõ nét, không liên tục, có thể khi tỉnh dậy không mang cho tôi cảm xúc gì rõ rệt nhớ từng chi tiết, nhưng tôi chỉ có thể cảm nhận đó là những "sweet dreams" tạo cho tôi cảm giác êm đềm, thoải mái, không phải là những ác mộng. Những giấc mơ đẹp trong bệnh viện là những món quà đẹp tôi có được, bù lại cho cảm giác bứt rứt, tù túng, đau đớn, khó chịu, mệt mỏi và những cơn đau hành hạ.

Tôi lầm thầm tạ ơn Chúa cho tôi những giấc mơ ngọt ngào êm dịu trong giấc mơ, để tôi có thêm nghị lực tranh đấu cho một giấc mơ thực tế, nho nhỏ thôi, nhưng quan trọng đối với tôi vô cùng: Tôi vẫn muốn sống, thêm một thời gian nữa, muốn còn hiện diện trên cuộc đời, và tôi không thể phụ lòng chồng tôi đã luôn nhắc nhở "cố lên em ơi", và cả gia đình, người thân, bạn bè, những người quan tâm đến tôi đã từng cho tôi niềm tin đấu tranh cho sự sống. Tôi đang mơ một giấc mơ thực tại, tôi có thể về nhà trước Giáng Sinh để được hưởng một đêm Giáng Sinh ấm cúng, an lành trong căn nhà của mình, để có thể tự hào rằng "Ta cũng có một Giáng Sinh… như ai!"

Giấc mơ sau cùng

Giấc mơ sau cùng không phải trong giấc ngủ, mà là ước mơ thực tế. Tôi chỉ muốn được về nhà nằm ở cái sofa trong phòng khách, bình an và ấm áp, bên cạnh Nhi. Những mơ ước xa xôi khác tôi không còn nghĩ tới. Ước mơ gần nhất đó được Chúa và Mẹ Đồng Trinh nhận lời. Sau sáu ngày trong bệnh viện, tôi được về nhà. Ôi chao, căn nhà nho nhỏ trong góc rừng của tôi mới thân thương làm sao. Tôi có thể nằm xuống ngủ một giấc ngàn thu trong khung cảnh này. Ở đây có rất nhiều kỷ niệm, những ngày vui và êm đềm cuộc đời tôi đã trải qua trong căn nhà này.

Tôi không mong ước gì thêm nữa. Bình yên trong không gian của riêng mình, thêm một thời gian nữa thôi, bên cạnh những bạn bè người thân yêu nhất của mình.

Những ngày êm ả lễ Noel và Năm mới trôi qua, tôi vẫn còn đây. Và trước mỗi giấc ngủ, lạ lùng tôi vẫn nhớ đến giọng hát của hai người đàn bà da nâu quê mùa ở phố chợ biên giới Mexico, giọng hát của họ như tiếng hát của thiên thần ru tôi vào một vùng thật bình an.

Tháng giêng, ngày 3, 2009

PCL

bài đã đăng của Phạm Chi Lan


7 Bình luận »

  • Nguyễn-hòa-Trước says:

    Tôi không được quen và biết chị. Cho đến cả bây giờ.
    Một hôm, mở trang VHNT, và thử gửi một bài thơ-xuôi. Chị email trả lời, cảm ơn. Bài thơ lên mạng. Chị email cho biết, nó nhận được phản ứng thuận lợi từ một số đọc giả, và, “có gì mới, cho Lan xin nhé.”
    Tôi gửi tiếp một truyện ngắn. Chị trả lời, cảm ơn, “sẽ đưa lên số báo tháng này.”
    Số báo đó không bao giờ được đến mắt người đọc!
    Tôi trân quý việc chị, dầu bận bịu, vẫn chịu khó hồi âm. Và có ý tìm đọc tác phẩm của chị. Trong rất ít những gì đọc được, tôi nghĩ, chị: thâm trầm, lạc quan; và điều đáng quý nhất là chị không hề muốn làm dáng trong văn chương.
    Mấy hôm trước, trên DM, đọc NGMTBV, dầu qua Lời Tòa Soạn, đó là những gì rất THẬT, tôi vẫn muốn nghĩ, đây chỉ là việc chị ghi chép lại những GIẤC MƠ sau khi tỉnh giấc.
    Nhưng thôi, cái HÔM QUA, hung hiểm, đã hết. HIỆN TẠI, đang tốt lành. Và NGÀY MAI, hy vọng bình phục. Cùng các thân nhân của chị, tôi xin được góp vào một lời cầu nguyện. Xin mọi người nhân nhượng cho tôi một điều: vì chưa được biết chị, hãy cho phép lời cầu nguyện của tôi trầm hơn, và dài hơn một chút.

    Trân kính,
    Nguyễn hòa Trước, San Diego, CA

  • Bùi Thanh Liêm says:

    Bạn hiền PCL,

    Hôm nọ, một người bạn của chúng ta email cho tôi biết bạn hiền bị ung thư đã gần 2 năm nay. Hai cái chữ “ung thư” đối với nhiều người rất ghê gớm, đáng sợ, không ai muốn nghe, nhưng với tôi thì khác. Những năm gần đây bạn bè và người thân mắc bệnh ung thư, kẻ rửa chân lên bàn thờ (nói theo kiểu Bình Nguyên Lộc) có, kẻ hóa trị, xạ trị xong sống phây phây cũng có. Tuy nhiên trường hợp thứ hai rất hiếm. Nghe riết rồi quen, bây giờ cái từ “ung thư” đối với tôi không còn đáng sợ cho lắm.

    Hôm nay, cũng người bạn đó gửi cho tôi cái link dẫn đến trang Da Màu, nơi có đăng bài viết “Những Giấc Mơ Trong Bệnh Viện” của bạn hiền. Tôi đã đọc ngấu nghiến và một cách say mê từng chữ một. Bài viết quá đẹp! Cám ơn bạn hiền đã viết lên những điều rất thực tế và cảm động. Bài viết này làm BTL tôi liên tưởng đến hai người thân nhất trong gia đình. Tôi chắc chắn tâm sự bạn hiền trãi ra cũng là những điều mà người thân của tôi muốn viết, nhưng không có cơ hội.

    Ông anh ruột của tôi, nhà văn Vũ Phương Nam, sinh năm 1954 tại Nam Định, mất năm 2004 tại New York vì bệnh ung thư gan. Những ngày cuối đời ông rất muốn viết lại những tâm sự, những giấc mơ ông có được khi nằm trong Mount Sinai Medical Center, nhưng rất tiếc lúc đó ông đã rất yếu!

    Người thân thứ hai là bà chị dâu, Lâm Xíu Chí, sinh năm 1953 tại Bạc Liêu, mất năm 2008 tại New York sau khi thay thận không thành công. Chị tôi là người Việt Nam nhưng hoàn toàn không có dòng máu Việt trong người, cha chị người Triều Châu, mẹ chị người Cam-Bốt. Chị có một nhan sắc đẹp não nùng. Vũ Phương Nam đã bị say đắm trong “đôi mắt Biển Hồ” của chị. Chị Chí rất mê văn chương Việt Nam, chị đọc hết tất cả các sách báo có thể vớ được, kể cả các trang quảng cáo. Chị kể cho tôi nghe suốt bốn năm từ ngày chồng mất, đêm nào chị cũng chiêm bao gặp ảnh. Suốt khoảng thời gian này chị có rất nhiều thời gian để ghi lại tâm tư và những giấc mơ, tuy nhiên chị không phải là người cầm bút nên chị không thể ghi lại những giấc mơ đẹp của chị.

    Vì thế cho nên tôi phải cám ơn bài viết của bạn hiền, qua nó tôi đã liên hệ đến những người thân của mình.

    Một người thân thứ ba là bà mẹ vợ, Nguyễn Thị Duyên, sinh năm 1930 tại Đà Nẵng. Bà bị ung thư phổi năm 2003, được giải phẩu và hóa trị (chemo). Cho đến ngày hôm nay bà vẫn sống phây phây, khỏe mạnh cùng con cháu. Trường hợp như bà rất hiếm, tuy nhiên đây là một chứng minh hung hồn cho thấy chúng ta vẫn có thể thắng được tử thần ung thư.

    Tôi rất hi vọng bạn hiền nằm trong trường hợp thứ ba kể trên. Chúc bạn được bình yên trong không gian riêng tư bên cạnh bạn bè và người thân yêu thêm một thời gian rất dài.

    oOo

    BTL
    Monterey, CA
    9 tháng 1, 2009

  • Sất says:

    Là một độc giả của damau tại Việt nam, nhưng đọc những dòng chữ tâm huyết của ông Lưu Thư Trung và chân tình của tác giả bài viết – chị Phạm Chi Lan – tôi thấy hết sức cảm động.

    Chừng năm 2003, tôi có gặp chị Phạm Chi Lan tại tp HCM trong một buổi tụ tập nhóm văn nghệ vỉa hè SG bao gồm Lý Đợi, Bùi Chát, Trịnh Cung…Chắc chị không còn nhớ, vì buổi gặp rất đông người, nhưng ấn tượng của tôi thì rất rõ nét về câu chuyện tạp chí văn học nghệ thuật liên mạng mà chị thành lập. Xin chia sẻ với chị giây phút khó khăn này.

    Ngòai lề một chút, xin chia sẻ với anh Trần Vũ về chi tiết anh đặt câu hỏi xoay quanh vấn đề thế hệ những người Việt hải ngoại ly tán sau năm 1975, tại sao lại có trường hợp chị nhà văn Linda Lê có những thái độ cay nghiệt.

    Chi tiết này có thể dẫn giải ở tình huống giấc mơ thứ nhất trong câu chuyện chị Chi Lan viết, tình huống nhân vật chính cùng Nhi, gửi tiền về cho gia đình chồng tại Việt Nam. Số tiền này không lớn, chỉ là số lẻ. Dường như việc tiết kiệm tiền bạc để gửi về là một khó khăn rất lớn đối với chị. Tuy nhiên chị làm việc đó với một tâm trạng êm đềm, tràn đầy vẻ đẹp rạng rỡ của những giàn hoa vàng.

    Tôi vừa mới đọc một tin vắn trên một trang mạng hải ngoại bị chặn tường lửa. Năm 2008, Việt Nam là 1 trong 10 nước nhận kiều hối lớn nhất thế giới. Trong hoàn cảnh suy thoái kinh tế thế giới hiện nay thì đây là một con số cần phải suy nghĩ. Ở miền Nam thì số kiều hối đa số là Việt kiều di cư sau sự kiện trước năm 1975, còn ở miền Bắc là số người đi lao động xuất khẩu ở nước ngoài. Chuyện này báo chí cũng nói nhiều, có thể diễn đạt thị trường lao động ở miền Bắc hầu như đóng băng, mà có lẽ nguồn chính để vận chuyển xã hội là những người đi lao động xuất khẩu. Trước khi đi họ phải bỏ rất nhiều công sức, tiền bạc đầu tư quanh các cò mối lái để có thể ra nước ngoài lao động và gửi tiền về quê.

    Tất nhiên, mọi người đều biết, tiền không phải là thứ có thể hóa giải tất cả, nhất là những vấn đề xã hội tri thức, đạo đức trầm trọng đã và đang hiện tồn cặn vắn trong lòng xã hội Việt Nam.

    Tôi trộm nghĩ, có lẽ chị Linda Lê là người cũng hết sức yêu thương đất mẹ Việt Nam, nhưng chị đã từ chối việc “gửi tiền” theo một ý nghĩa tượng trưng nào đó về đất mẹ Việt Nam. Và để chuyên chở “sự từ chối” này, phân tách với chính mình, mối dây ràng buộc máu thịt này, chị trở nên hết sức cay nghiệt.

    Tôi nghĩ không nhất thiết bà mẹ nào cũng tốt, bà mẹ cũng tràn đầy tình yêu thương đối với con. Sẽ có những bà mẹ xấu, bà mẹ đầy nỗi đau hiện tồn, nỗi đau chuyên chở sự sinh nở với thế giới xung quanh, với ông bố…Vậy nên việc bà ta truyền nối nỗi đau bản thân mình cho đứa con của mình để nó buộc phải chia sẻ cơ thể nối dài đầy thương tích của bà cũng là lẽ thường. Như vậy, điều tất nhiên là đứa con phải tìm đủ mọi cách khẳng định sự độc lập của nó như một phương thuốc xoa dịu nỗi thống khổ sinh tồn của bà mẹ. Nếu không làm được điều này, đứa con sẽ mãi là cơ thể nối dài của bà mẹ. Nó độc lập bằng cách từ chối thỏa mãn vào những ham muốn chực nuốt chửng của bà mẹ. Và như vậy, đứa trẻ sẽ sống, với một tâm thức đau nhức xa xăm không thuộc về nó, mà nó không sao hiểu nổi.

    tp HCM, VN.
    Nguyễn thị thúy Quỳnh.

  • Nguyễn Vy Khanh says:

    Thân gởi Phạm Chi Lan

    Chi Lan mến,
    Rất xúc động khi đọc những giấc mơ trong bệnh viện cua PCL. Xúc động và thật bất ngờ khi biết một người bạn đã phải trãi qua những hiểm nghèo của sự sống. Và cũng rất mừng khi biết hiểm nghèo đã qua và Chi Lan đang được bệnh viện chăm sóc chu đáo và người thân đồng hành không thể nào hơn.

    Bài viết của Phạm Chi Lan đã làm tôi lặng người sau khi đọc. Những dòng chữ gợi lên những đớn đau mà bạn phải chịu đựng đồng thời vẻ lại những sinh hoạt đã xảy ra ở bệnh viện và nhất là tình cảm với và của anh Nguyên Nhi; tất cả đã như một bản tình ca tuyệt diệu.
    Đây còn là bản văn thứ nhì đã làm tôi lặng người sau khi đọc, thật lâu; bản đầu tiên là Cơn Sốt 2 của nhà văn Thảo Trường. Thảo Trường đã đánh động ý thức nhiều hơn, trong khi Phạm Chi Lan đã khiến người đọc thất thế vì toàn bộ tâm thức bị động. Có thể khi người đọc từng biết và sinh hoạt với tác giả một thời Ô Thước thì phản ứng như thế chăng! Tôi đang lạc đề …

    Mừng bạn đã qua cơn ngặt nghèo. Chúc bạn sớm hồi phục và luôn nhiều sức khoẻ, an lành, hạnh phúc. Chúa Hài đồng đã đến, Ngài sẽ ở cùng Chi Lan luôn mãi.

    Cho tôi gởi lời thăm anh Nguyên Nhi (tháng 12 rồi đọc báo vùng Đông Nam Hoa-kỳ được biết anh tiếp tục viết với bút hiệu mới).

    Nguyễn Vy-Khanh (Ô Thước Montréal)

  • trần vũ says:

    ‘Những giấc mơ trong bệnh viện’ viết thật hay. Văn sáng, đẹp, cuộc sống, con người, cuộc đời lướt trôi trong im lặng, giữa hai bến bờ của đời sống và cái chết, giữa tình yêu và mơ ước, giữa phán xét và tự tại, giữa lưỡi hái bằng kim khí và giàn hoa vàng rực rỡ.

    Sinh 1962, Phạm Chi Lan thuộc thế hệ bất chợt bị đẩy bật ra khỏi quê hương, thế hệ của Lê Quỳnh Mai, Vũ Quỳnh Như, Lê Thị Thấm Vân, Hoàng Mai Đạt, Phạm Thị Ngọc, Nguyễn Võ Thu Hương, Nguyễn Thanh Hùng, Đinh Linh, Đinh Từ Bích Thúy, Nguyễn Quý Đức… thế hệ được 12 tuổi ngày 30 tháng 4-1975 đặt chân đến Hoa Kỳ, Hòa Lan, Gia Nã Đại với tất cả sự lạc lõng cùng vốn liếng yếu ớt của tiếng Mẹ. Chính vì vậy mà những dòng chữ họ viết ra bên này biển, trong ngôn ngữ Mẹ, càng thêm quý giá. Cộng đồng đã tung hô Linda Lê mà không tự hỏi: Làm sao rời Đà Lạt năm 14 tuổi mà Linda Lê, cũng sinh 1962, có thể quên tiếng Việt? Và vì sao Linda Lê đã tuyên bố không thuộc về Việt Nam, không liên quan đến Việt Nam và không muốn giao tiếp với cộng đồng Việt Nam? Tung hô Linda Lê mà lãng quên những Đỗ Lê Anh Đào, Nguyễn Xuân Tường Vy mà ngày đến Mỹ cũng ở vào lứa tuổi vị thành niên đã cố gắng gìn giữ ngôn ngữ Mẹ, là tự đánh mất giá trị Việt.

    Tôi ở xa nên không biết Phạm Chi Lan bệnh nặng, đọc ‘Những giấc mơ trong bệnh viện’, vừa lo lắng, vừa an tâm là bạn mình đang bình phục. Ánh sáng và màu sắc toát ngời trên những dòng chữ của Phạm Chi Lan, gần như đã chuyển hoán căn phòng bệnh viện đến một nơi chốn thật êm đềm. Thiếu nữ có mái tóc tém, mặc áo dài thêu hoa, với đôi chân lành lặn trong giấc mơ mới thực sự là hình ảnh thật của Phạm Chi Lan, và bảo chứng thần thái an nhiên của tác giả.

    Trần Vũ
    08/01/2009

  • Lương Thư Trung says:

    Thưa qúy bị BBT/DA MÀU

    Nhắc đến Phạm Chi Lan, tôi nhớ đến tạp chí “Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng” và nhóm “Ô Thước” một thời. Bài viết này, đã đăng trên diễn đàn “Hội Luận Văn Học Việt Nam” cách nay ít tháng; nay nhân đọc bài viết trong cơn đau của Phạm Chi Lan, người Chủ Biên của Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng, tôi muốn gởi bài này chia sẻ cùng qúy vị.
    Trân trọng,
    Lương thư Trung

    Một thoáng nhớ về
    tạp chí “Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng” và nhóm “Ô Thước”

    Nhắc đến văn chương liên mạng, không thể không nhắc đến tạp chí “Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng”, là diễn đàn văn chương Viêt Nam đầu tiên khai mở một nền văn học liên mạng toàn cầu. Tạp chí “Văn Học Nghệ Thuât Liên Mạng” (VHNT/LM) bắt đầu có mặt vàongày 17 tháng 7 năm 1995, do Phạm Chi Lam chủ xướng, cùng với ban Ban biên tập gồm:”Chủ biên:Phạm Chi Lan. Phụ tá chủ biên gồm các tác giả như Phùng Nguyễn, Nguyễn Phước Nguyên, Nguyễn Sung, Nguyễn Tiến Dũng, Trần Thái Vân Đến năm 1997, ngoài các Phụ tá biên tập ghi trên , Ban biên tập còn có thêm Đinh Chinh, Lê Tạo, Trần Hoài Thư, Nguyễn Vy Khanh, Nguyễn Phúc Đan Thanh, Nguyễn Kỳ Phong, Đinh Yên Thảo, Trịnh Thanh Thủy và Phạm Thiện Mạc.

    Giới thiệu về Phạm Chi Lan và sự ra đời của VNHT/LM, Phùng Nguyễn viết:”Là một trong những cây viết trẻ hải ngoại xuất hiện cùng thời với Phạm Thị Ngọc, Vũ Quỳnh NH, Trần Vũ, Phạm Chi Lan “hiểu cái lạc lõng của thế hệ trẻ, và rất muốn những người cùng trang lứa, những người trẻ trưởng thành tại hải ngoại có phương tiện để bộc lộ mình qua sáng tác, sáng tạo trong những bộ môn nghệ thuật”. Đó là cái lý do chính yếu ngoài cái đam mê văn chương thiên bẩm đã khiến cô khai sinh tờ báo văn học điện tử đầu tiên của người Việt Nam hải ngoại trên Liên Mạng.”(1)

    Theo Phạm Chi Lan, “Văn Học Nghệ Thuật” xuất bản số đầu tiên ngày 17-7-1995.” Để biết rõ thêm về sự ra đời của tạp chí VHNT/LM, cùng những kinh nghiệm làm báo văn học nghệ thuật trên siêu không gian lúc ban đầu ấy, xin mời qúy vị đọc bài trả lời phỏng vấn Phạm Chi Lan của Thụy Khuê đã phát thanh trên đài RFI ngày 28-01-1996 và được trích đăng trên VHNT/LM số 148.

    Và cũng theo Phùng Nguyễn, trong bài viết vừa dẫn, trong vòng sáu tháng đầu, con số độc giả hội viên lên đến 350 người, trong số đó khoảng 70% là giới chuyên gia và 30% là sinh viên. Trong một thư trao đổi giữa Phùng Nguyễn và nhóm Ô Thước ngày 28-10-1996, nhân đọc lá thư đầu tiên của tôi viết ngày 24-10-1996 gởi cho Phạm Chi Lan và Ban biên tập VHNT/LM, qua nhà văn Trần Hoài Thư, người đầu tiên giới thiệu tôi về tạp chi VHNT liên mạng này, Phùng Nguyễn viết :”Về tập san VHNT, Lương Thư Trung đã đánh giá rất cao. Điều này tuy làm chúng ta cảm thấy hãnh diện, nhưng đồng thời khiến cô Chủ biên và nhóm Ô-Thước cần đánh giá lại “chức năng” của VHNT.Theo ước tính, VHNT hiện có khoảng trên 500 subscribers, trong số đó có khoảng 4, 5 group-subscribers, và mỗi group có khoảng 200 members. Có thể nói một cách an toàn, có khoảng hơn 1,000 độc giả thường xuyên theo dõi VHNT. Con số này là một bước nhảy vọt cho một tập san vừa mới thôi nôi.”(2)

    Trong “Thư Văn Học Nghệ Thuật”, viết cho “Tuyển Tập Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng”, số 1, năm 1996, Phạm Chi Lan viết :”Văn Học Nghệ Thuật không phải là một diễn đàn của các cây viết thành danh hay chuyên nghiệp trong văn giới. Người viết là những người trẻ hoặc những chuyên gia đã phải tranh thủ thì giờ để viết và đọc trong những giờ phút xen kẽ giữa giờ làm việc, giờ học và giờ giải lao. Họ là những cây viết chưa được biết tới, bị bỏ quên, những tác giả chưa ai khám phá hay tự khám phá, tự khai triễn khả năng của mình. Họ đến từ khắp nơi trên thế giới, địa chỉ của họ là những ký hiệu mơ hồ lạ lùng ở một hộp thư điện tử nào đó trên cõi siêu không gian, nhưng sáng tác của họ thì lại gần gũi, thật và chuyên chở rất nhiều.”(3)

    Về hình thức, mỗi số VHNT/LM gồm “Thư Văn Học Nghệ Thuật” của người Chủ biên hoạc các phụ tá biên tập thay phiên nhau viết, nhưng tác giả thường nhất của cáclá thư văn học nghệ thuật này là do Phạm Chi Lan viết . Các phần khác bao gồm các mục như “Thơ”, “Mỗi kỳ một người viết” (nhằm giới thiệu một tác giả nào đó, như ngày nay thấy Talawas có mục “Talawas Chủ nhựt”), tiếp theo là “Diễn Đàn Văn Học”, và mục “Truyện ngắn và sáng tác”. Lúc đầu, như Phùng Nguyễn có nói về số lương người đọc, tạp chí VHNT/LM được gởi qua “e-mail” đến bạn đọc mỗi tuần ba lần. Rồi vì nhu cầu bài vở bị ối động, báo tăng lên, mỗi ngày đều có cập nhật bài vở mới và báo ra hằng ngày. Vào thời điểm đó, nghĩa là trong lúc chưa có báo điện tử nhiều như ngày nay, thì tạp chí VHNT/LM có thể nói được rằng đó là tờ nhựt báo về văn học nghệ thuật đầu tiên trên liên mạng toàn cầu.

    Sở dĩ tạp chí VHNT/LM có nhiều người đọc và người viết như vậy vì nó đáp ứng được cái khao khát của người đọc và người viết, do nó mới mẻ, trẻ trung và trong sáng. Nội dung các bài viết nó phù hợp với cái đói về các món ăn tinh thần của lớp người trẻ và nó cũng làm dịu đi nỗi lokhông có người đọc của người già. Và người ta đọc VHNT/LM như một bắt gặp người khách bộ hành cùng đi với mình qua một cánh đồng trưa nắng gắt mà chung quanh toàn là những lung vũng bạt ngàn không tìm ra được một vũng nước mát trong ngần. Người đọc đến với VHNT/LM không phải băn khoăn về một điều gì chưa vừa ý mình; mà ở đó là những san sẻ chân tình, có thật dù nó đang xảy ra trên một không gian ảo. Người đọc bắt gặp “Vườn mộng mưa về”, “cánh cò ca dao” của Trần Thị Hạ Anh , đăc biêt tác phẩm “Vườn mẹ ta xưa” của Đồng Vọng thật dễ thương biết chừng nào… Và còn nhiều vô số kể những tình cảm dạt dào, những nghĩ suy mới mẻ nằm ẩn mình dưới những trang chữ của các tác giả trẻ trên gần năm, sáu trăm số báo VHNT/LM trải dài nhiều năm như vậy, những tác phẩm gói gọn cái hồn cùng tài năng của các bạn trẻ Việt Nam viết văn khắp moi nơi trên địa cầu này, đã là một kho tài liệu về văn học nghệ thuật vô cùng qúy báu, mà ngày nay, mỗi lần ai cần điều gì khi ghi trích dẫn từ VHNT/LM, tự nó có cái giá trị về “bút lục”, không thể chối cải được.

    Nhờ đâu mà bài vở của VHNT/LM nhiều và phong phú như thế? Để trả lời câu hỏi này có lẽ là nhờ Phạm Chi Lan và Ban chủ biên đã có sáng kiến lập ra một “Diễn Đàn Văn Học” lấy tên là nhóm “Ô-Thước” và những trao đổi và thảo luận từ nhóm này chính là cái kho bài vở dồi dào đó. Riêng những trao đổi về văn học nghệ thuật, nhóm Ô-Thước còn chia se những vui buồn trong dời sống thường ngày qua những người bạn trong nhóm chưa biết nhau và chưa gặp nhau lần nào rất thân ái. Dù ngày nay VHNT/LM và nhóm Ô-Thước không còn và tôi đã xa các diễn đàn này khá lâu, nhưng tôi vẫn không quên các bạn Ô-Thước một thời như Dũng Vũ, Phạm Thiện Mạc, Phạm Thế Định, Lê Tạo, Nguyễn Phước Nguyên, Đinh Trường Chinh, Sung Nguyễn, Y Khanh, Đỗ Danh Đôn, Thu Hồng, Đồng Vọng, Trịnh Thanh Thủy, Thu Thuyền, Tường Vi, Phạm Văn Tiên, Hàn Trân, Đinh Yên Thảo, Phùng Nguyễn, Khải Minh, Nguyễn Tiến Dũng, Bùi Thanh Liêm, Trần Thái Vân, Thận Nhiên, Lili Nguyễn, Phạm Hoàng Đan, Trần Hoài Thư, Nguyễn Vy Khanh, Phạm Chi Lan và còn nhiều bạn khác nữa, mà tôi không làm sao kể ra cho hết nổi….Nhớ vì ở đó nó rất thẳng thắn khi trao đổi về mọi vấn đề văn học, đôi khi rất gây cấn, mà vẫn giữ được cái nét ôn hòa, tương kính lẫn nhau.

    Nhân đọc phần kết luận của ông Nguyễn Nguyên trên trang Hội Luận Văn Học Việt Nam (4), tôi chợt nhớ tạp chí VHNT/LM đã làm rồi từ những năm 1996, 1997 với Tuyển tập 1 (1996) và Tuyển tập 2 (1997)như ông đã đề nghị. Ngoài ra, diễn đàn này còn in và phát hành nhiều tác phẩm của các tác giả trong nhóm như “Về Miền Sâu Thẳm” viết về thi ca và kịch nghệ của Nhật Bản của tác giả Đồng Vọng; “Quái phong”, thơ của Nguyên Nhi; “Miền Lặng”, tập truyện, của Phạm Chi Lan và nhiều sách khác nữa, kể cả tác giả trong nước. Ngoài ra, hằng năm nhóm Ô-Thước còn tổ chức một kỳ họp mặt nhằm để gặp gỡ, trao đổi, hàn huyên những chuyện văn chương, chuyện đời sau một năm trúng mùa.

    Thật sự tôi không biết tạp chí VHNT/LM đình bản từ khi nào, nhưng đây là một điều đáng tiếc. Nay tình cờ mở lại chồng báo cũ , bắt gặp lại những trang báo xưa thấp thoáng bóng hình những bạn “Ô-Thước” một thời, dù chưa biết mặt bao giờ, và thấp thoáng trong tim nỗi nhớ một thời Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng đã qua rồi, nay còn đâu! Nhưng chắc chắn cái còn lại trong dòng sông văn học nghệ thuật liên mạng toàn cầu ngày nay, nếu bạn có lòng, chắc chắn bạn không thể nào quên Phạm Chi Lan, người đã khai sinh ra một diễn đàn đầu tiên về văn học nghệ thuật trên liên mạng toàn cầu, và đây là tờ báo mạng có một không hai trong 13 năm về trước vậy….

    Houston, 31-3-2008

    Phụ chu:
    1/”Đôi điều về Văn Học Trẻ Trên Liên Mạng” trong Tuyển tập 1 “Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng”, tháng 9 năm 1996., Hoa Kỳ, trang 5.
    2/Điện thư trao đổi của Phùng Nguyễn và nhóm Ô-Thước ngày 28-10-1996 với tiêu đề “Thư độc giả từ Boston”
    3/”Thư Văn Học Nghệ Thuật” của Phạm Chi Lan, Tuyển tập 1 VHNT/LM, sđd.
    4/Ông Nguyễn Nguyên viết:
    “Tôi xin được lấy cao kiến của Nam Dao để kết lại chủ đề Hội nhập:

    ” 1- Cùng nhau, chúng ta lập ra một tập hợp thân hữu những người chia xẻ tâm huyết với tương lai của văn chương tiếng Việt. Tập hợp này, trọng tâm là văn hóa, sẽ độc lập với mọi chính quyền và mọi tổ chức chính trị.
    2- Sử dụng diễn đàn Hội Luận như nhịp cầu đầu tiên thúc đẩy quan hệ giữa những nhà văn/nhà thơ bất kể trong nước hay hải ngoại.
    3- Mở rộng chủ đề của Hội Luận, tìm cách hiển thị những sáng tác chất lượng nhưng có khó khăn trong việc phổ biến đến bạn đọc.
    4- Tìm phương tiện phát hành định kỳ Tuyển Tập những sáng tác đã hiển thị trên diễn đàn này.
    5- Tìm phương tiện tổ chức những cuộc giao lưu thân hữu, ban đầu với qui mô nhỏ, ở trong cũng như ở ngoài nước.”

    Trong đó “Tìm phương tiện phát hành định kỳ Tuyển Tập những sáng tác đã hiển thị trên diễn đàn này” là một việc cần làm nhưng có vẻ khó quá. Vấn đề là tìm được các tỷ phú có lòng hào hiệp, nếu không thì phải góp tiền để tự phát hành, và sẽ được bao lâu?”

  • Lương Thư Trung says:

    Phạm Chi Lan thân mến,

    Với tất cả lòng thương mến, tôi cầu chúc PHẠM CHI LAN mau bình phục.
    Và xin chép lại bài thơ mà Phạm Chi Lan có nhắc trong bài để chia sẻ cùng bạn đọc Da Màu:

    TA CŨNG CÓ MỘT GIÁNG SINH NHƯ AI

    Ta ngồi tịnh nghe rào rào biển nhớ
    Nghe âm âm gió vạn kỷ đăng trình
    Kìa, lộng lẫy một vì sao mới mọc
    Hải đăng ơi, giáng sinh …

    Tưới rượu bốn bề tám hướng u minh
    Thét giữa mặt người rằng ta đã sống
    Hỡi sóng búa chân mây, hỡi chân rêu đá dựng
    Ta tang thương phút chốc dậy huy hoàng

    Cô bé ấy đã bay về hướng trăng
    Con trăng xưa úa từ đêm nguyệt tận
    Cành sương cũ một giọt tình phai đọng
    Em từ huyền thoại hiện về

    Ta vốn u trầm như cổ động hoang mê
    Em linh hiển đôi câu thần chú
    Ta vốn an nhiên thành đá cũ
    Lại biện giải cùng em

    Ta xới đào tan nát những lời kinh
    Ta khai quật cạn cùng giòng u hiểm
    Như lịch sử không bao giờ tái diễn
    Tình yêu không thể rập khuôn

    Chưa bao giờ gần đến vậy, em thương
    Những tín hiệu liên kỳ cẩn mật
    (Hay ảo giác con tàu chết khát
    Trên biển nước mênh mông?)

    Ta vốn kiêng nỗi buồn như sợ cây cong
    Trốn tình như con chim trốn tuyết
    Là ta vốn nhìn ta chối biệt
    Bỗng nói yêu em

    Ta dong buồm về vòm sáng hải đăng
    Các vua đã tề tựu đông đủ
    Chân đá hoang mang một bầy mục tử
    Em phán chi đời ta?

    Đã bao lần ta tự hỏi vì sao
    Vẫn chỉ là câu hỏi tự xưa nào
    Lẽ đâu bơi mãi cùng năm tháng
    Năm tháng đọng hoài những hư hao?

    Chúa đã kết hợp ta cùng con chữ
    Thế gian này đâu thể cắt chia
    Em đóng đinh anh vào nỗi nhớ
    Làm sao ai có thể phân lìa

    Nỗi nhớ khua như tiếng chuông khuya
    Niềm yêu dấu reo quen như sóng biếc
    Anh muốn hỏi đêm nay trời có rét
    Trong lòng em có ấm lửa giáng sinh

    Thắp ngọn hồng đêm thánh hiển linh
    Nghe với hải đăng bài hành cũ
    (Đá lở cát trôi biển gào gió hú
    Sóng đen trôi rờn rợn màu xương người

    Ôi quê hương ta ở bạc một thời
    Thì nhân thế long đong là đáng kiếp)
    Đã tìm em qua nửa vòng trái đất
    Đâu ngại chi còn một khoảng trời gần

    Ôi tình yêu, ôi đêm thánh vô cùng
    Ta sông biển cũng rì rào ơn phước
    Ôi nguy nga vòm tình cao phía trước
    Hải đăng ơi, giáng sinh …

    Hình như là tiếng gọi từ bao năm
    Từ bao năm trôi dật dờ biển dữ
    Một tối vui tịnh lòng nghe sóng vỗ
    Ta đã có một giáng sinh như ai …

    12-1997
    (Trích trong thi phẩm Quái Phong của Nguyên Nhi do Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng phát hành,tháng 8 năm 2000 )

    Thân mến,
    Lương Thư Trung
    Houson, ngày 07-01-2009

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)