- Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới - https://damau.org -

Phía Dưới Bàn Chân, Lung Linh Một Con Đường

 

 

 

Nguyễn Đức Tùng là một giọng thơ ngay khi tiếp cận đã cho tôi hình dung những dự báo ấn tượng. Thơ anh không ồn ào, lên gân, ngay cả khi viết về những điều to tát, dễ xúc động, đụng đến sự quan tâm, ý thức cộng đồng. Ở đó anh có cách nhìn riêng, đôi khi tưng tửng như không, nhưng nó lại là một lát cắt khác của sự sống, không giống số đông, gây hiệu quả bất ngờ trong cảm thức người đọc; gieo vào họ tiếng ngân mỏng mảnh của một tiếng chuông nhưng lay thức, ngân điệu âm ỉ trong lòng người đọc. Chẳng hạn, bài thơ Chiến tranh (chưa hẳn là bài tiêu biểu của anh), cái tên nghe rất chung chung, đại ngôn, lại chỉ có 6 câu, nhưng ở đó không có súng ống, tiếng nổ, không có đối tượng trực tiếp của cuộc chiến như ta thường thấy… Bài thơ kể chi tiết về một người đưa thư đến nhà:

Uống với dì tôi một tách trà
Rồi lặng lẽ cáo lui

nhưng:

Không biết dì tôi không biết chữ
Trong phong bì là giấy báo tử

Thực ra chi tiết đó, kết đó, cũng như cách lập tứ không hẳn hoàn toàn mới nhưng nó là một trong những thủ pháp đặc trưng, trong hàng loạt bài thơ viết về ký ức chiến tranh và những mảng đời sống khác, trở thành thi pháp chủ đạo của Nguyễn Đức Tùng.

Có thể bắt đầu một câu chuyện, một khoảnh khắc đời sống, anh chỉ gợi cho người ta một cách nhìn, một điểm nhìn, rất bất ngờ, từ đó mà nghĩ ngợi mà lan tỏa những âm hưởng đồng vọng của chiến tranh, mất mát. Cũng chẳng cần biết người hy sinh là chồng, hay con người phụ nữ (dì), nhưng có một nỗi đau kép, nỗi đau không biết đọc cả cái chết đang được đưa tin. Cái đau sau cả những điều “không biết” nữa.

Nhiều bài thơ khác cũng đã thể hiện, trong hàng ngàn chi tiết nói về chiến tranh, Nguyễn Đức Tùng đã chọn những chi tiết giản dị, nhưng bất ngờ, có cách nhìn khác của riêng mình. Sự lựa chọn ấy không dễ dàng, bởi chỉ điều giản dị này thôi, người ta cũng phải trả giá ghê gớm:

Mất bảy năm trời
Tôi mới tìm ra chỗ ngồi thuận tiện
Trong căn bếp của mình

(Bảy năm, thơ 3 câu)

Có một thi sĩ kể về sự say mê đọc sách, tìm sách của Nguyễn Đức Tùng, quả là rất đặc biệt. Nghĩa là, dù sống xa xứ, định cư ở nước ngoài lâu năm, trong giao thoa văn hóa thế giới, nhưng khi làm thơ bằng tiếng Việt anh không bị “Tây hóa”, không bị “Tân hình thức”, hay “Hậu hiện đại” lôi đi xềnh xệch. Thơ anh là một giọng thơ hiện đại, nhưng có lối đi riêng, thơ vừa kiệm lời, vừa linh hoạt, chứng tỏ một bản lĩnh cao cường, sự tự chủ tiết chế được đội quân “âm binh” con chữ sẵn sàng nổi loạn, bất kỳ lúc nào. Ở những điểm nhìn gợi mở của anh, và đặc biệt là ít dùng tính từ, hình dung từ…để “ép” người đọc phải vui buồn theo cách của mình, mà cho người ta một cách nhìn, từ đó mà cảm, mà sẻ chia, cộng hưởng, bằng cách của họ, ở những tầng ngữ nghĩa khác nhau, cả cái còn chìm khuất, ẩn chứa trong bề sâu nhận thức. Đó là cách gợi:

Phía dưới một bàn chân
Có một bàn chân khác
Đã dẫm ngày xuân xa

(Phía khác)

Dù hiện đại, dù tìm tòi cách đi của riêng mình, thơ Nguyễn Đức Tùng vẫn là ngôn ngữ Việt, hồn Việt, những ẩn ức Việt, không thể khác. Điều đó không chỉ thể hiện trong lục bát, trong bảy chữ:

Nhà em thơm mùi canh dưa cải
Anh để mùa xuân dẫn tới đây
Sương và gió làm nên tất cả

(Hẹn em)

Nó còn ở trong tính kế thừa mà anh tự bộc bạch:

Đôi khi ngòi bút của anh run lên
Trên nét chữ của những ngôi sao khác

(Huyền thoại)

Tôi đọc, thật vui mừng và cả ngạc nhiên, yêu mến, khi được thấy “phía dưới một bàn chân” là một cách đi của Nguyễn Đức Tùng, con đường Nguyễn Đức Tùng, nó không nhòe trong số đông những người khác đang đi.

 

Hà Nội, 11/11/2012

bài đã đăng của Trần Quang Quý