Trang chính » Biên Khảo, Giới thiệu tác giả, Giới thiệu tác phẩm Email bài này

PHÙ HƯ. MỘT THỜI “NGẬM THẺ QUA SÔNG“

 

Với  Thi Sĩ cuộc đời nầy là một “Quân bộ Khúc” như một bài thơ của Phù Hư , là một cuộc hành quân triền miên thầm lặng băng qua những vùng “lãnh khí”, nhiều khi nó không là gì hết trong cái cỏi đời sát phạt tử sinh phù du trắc ẩn nầy. Khi còn chinh chiến thì chỉ muốn quăng hết khi giới- bất cứ khi nào có thể để trở về với quê hương với ruộng vườn dưa cà ngày hai buổi , nhưng khi đã hết chiến chinh rồi thì cuộc đời cũng không nương tay -lại rượt đuổi họ chạy ngược vào những oan khiên của cơm áo đang ngày đêm treo móc hạ hành.

Phù Hư là một trong số những con người vì biến cố 30/4/75 đã thành kẻ lưu lạc tội đồ ngay trên chính quê hương của mình, họ không thể “Về quê tìm lại tuổi thơ đã mất”, họ không thể đi đâu với thân phận của một người thua cuộc , họ thu mình chui lủi mai danh ẩn tích , thay danh đổi họ , họ trốn tránh hết thảy những cuộc tiếp xúc với những kẻ thắng cuộc. Những lúc ấy nếu muốn tìm họ cũng không khó nhưng phải hiểu họ đang là những “ Phó thường dân” đang phải mưu sinh từng ngày trên những vỉa hè góc phố, có thể đó là những khuôn mặt chìm khuất trên nhữngchiếc xích lô đang rạc giò  kiếm khách, những khuôn mặt bí ẩn khổ lụy sợ hãi  trong những chiếc mũ rộng vành  giữa những bãi chợ trời xanh xao vàng úa …hay những tiếng rao khan đục lanh lãnh vang lên trong những cung đường trưa vắng ‘ Oi ai có Radio quạt máy cũ TiVi hư Răng vàng bạc vun bán hôn“. Nếu nghe tiếng rao nầy của một gã đàn ông đen sạm dong dỏng cao thì đúng đích thị chính là Phù Hư.

Phù Hư là ai vậy, thú thật tôi cũng không biết gã là ai, vì khi ấy tôi vẫn là thằng học sinh mê văn chương ở miền Trung cát đá, chỉ nhớ đã từng đọc được một bài thơ của gã trên Tạp Chí Văn của Nguyễn Đình Vượng Sai Gòn vào khoảng cuối năm 73 với bài thơ “ Ngậm thẻ Qua sông “,  tôi mường tượng Phù Hư chắc là một kinh kha đang thích khách sang Tần, một mình một thẻ một kiếm đang nín thở bơi qua sông Dịch, sau nầy khi gặp tôi mới hiểu rằng “ Ngậm thẻ “chỉ là một cách biểu lộ của văn chương, nó nói lên sự ‘ bí mật” im lặng của người Linh khi hành quân qua làng mạc hay núi  rừng, họ lẳng lặng cắm quân – thu quân -đến và đi mà không ai biết “ Đi qua rừng truông lá tủi thân / Quân như ma lẩn bước thì thầm/ Áo quần trận tiệp mùi cây lá / Đường xa đau rát gan bàn chân …’” [ Quân bộ Khúc ]

 

phuhu-200x300

Chân dung Phù Hư

 

Hồi đó sau một ngày mỏi mê chạy chọt điên cuồng lùng sục khắp nơi để kiếm được dăm ba đồng, anh em lại thấy Phù Hư lửng thửng đi vào quán 81 gọi mấy thùng bia hơi cùng bạn bè văn nghệ chén chú chén anh đến sập tối mới chịu về. không ai biết là nguyên một ngày rát hơi khản cổ mỏi gối trôi qua gã đã không mua được một thứ gì ngoài một cái răng vàng mà nghe đâu ngày mai người ta mới có thể cạy ra và đưa cho gã [?]

Phù Hư có một bộ mã cao gầy chắc đậm khô như một cậy sậy, gương mặt sắc cạnh, ăn nói như đinh, hài hước thâm thúy lọc lỏi như một tay chơi, nói chuyện với phù Hư có cái vui là không biết gã nói giỡn hay nói thật, vì cách nói của gã mang hơi hượm của dân trí thức nhưng lại cực sảng giang hồ, những tay  văn chương giả hình hay bị Phù Hư cà khịa nhiều khi tím mặt mà không biết làm gì ngoài chuyện cười xòa cho qua chuyện. xét cho cùng nếu bương chải kiếm sống trong thời buổi nhiễu nhương lúc bấy giờ thì chỉ có Phù Hư là số một, ví trong túi gã lúc nào cũng có “ xiềng” nhiều khi hứng chí gã bao hết làm cho anh em uống xiểng niển, tất nhiên là cả một tuần sau anh em thấy gã biến mất,  bèn khào nhau “ chắc là gã vượt biên rồi”, nhưng không -gã lại xuất hiện với nụ cười hư vô đúng như cái tên mà gã có-“Phù Hư” quả là danh bất quá hư phù, gã lại bia bọt khích bác tưng bừng cho đến khi một ai đó uýnh lộn tưng bừng u đầu sứt trán  cho quán xá tưng bừng vui lên thì gã mới thôi.

Vui thì vậy nhưng lúc nào tôi cũng thấy ánh mắt gã lấp lánh tia giễu cợt buồn phiền, vì tôi biết đôi khi cuộc sống nầy cũng quá buồn đôi với một chiến binh đã giã từ vũ khí – vì cuộc chiến tranh mà gã đã băng qua vẫn không bao giờ lành thẹo bởi những tiếng nỗ âm u của cái chết vẫn còn đang đi về trong những cuộc say, nó vẫn là những cơn đau nhức khôn nguôi mà tôi vẫn thường hay nhìn thấy trong ưu tư của những người bạn anh em cùng thời  với gã như : Dương Nghiễm Mậu, Cung Tích Biền, Ngụy Ngữ, Nguyễn Tôn Nhan, Nguyễn Đạt, Nguyễn Lương Vỵ , Kinh Dương Vuong.Đoàn thạch biền [ Nguyễn thanh Trịnh] Hoàng Ngọc Tuấn… Tôi biết nhiều khi gã cũng không muốn chơi với một ai vì những oan khiên chiến trận vẫn còn vươngmùi thuốc súng trên da thịt cũa con người, nhiều khi tôi thấy gã chỉ ngồi một mình, anh em ai tới thì tới không thì thôi, gã cũng không vui mà cũng không buồn, tôi nhìn thấy sự khinh khỉnh lì lợm của một tên lính đã dàn dạy trận mạc đang cô đơn mịt mù giữa quán xá thị thành xa lạ, hình như cuộc chiến tranh đã qua và cuộc hòa binh đang lu loa trên những cột đèn hằng ngày kia –giờ đây  không có phần dành cho hắn … “Tôi gác đêm như bóng người rình/ Tối nay đạn nỗ nhẹ mạn sông / Sương mỏng quá nhìn hoa ngàn con mắt / Tôi giữa đêm nghe  mình như thất lạc / Thương xóm nhà biết nỗ đạn vào đâ u ..” [ Ngậm thẻ Qua sông]

Nói tới Phù Hư thì người ta thường hay nhớ tới “Ngậm thẻ Qua Sông” vì đây là một bài thơ nổi tiếng của Phù Hư đã từng được in trên một tờ “Văn “trứ danh của Sai gòn thời chinh chiến trước 75 của một  bên mà bây giờ người ta gọi là “Bên thua cuộc “nhưng lại rất nổi tiếng với bên Thắng cuộc, vi bài thơ nầy đã được ngâm trên Đài Tiếng nói của . Hà Nội Bắc Việt Nam – khi chiến cuộc đang leo thang đến hồi chung cuộc, không biết lúc ấy “ Bên chưa thắng Cuộc “ thấy gì trong bài thơ nầy , nhưng quả thật lúc ấy Phù Hư được hai phía Văn Chương của hai bên dành cho rất nhiều ưu ái [ Bên thì in như một cách công nhận một thi tài -bên thì phát thanh đọc công khai như một cách “tiêu lòn”địch vận  vì cái nội dung buồn bã “chán ngán” chiến tranh của nó – bằng chứng là sau 75 Phù Hư cũng phải “ khôn ngoan” lắm mới có thể sống được -nếu không muốn nói là Phù Hư khấm khá hơn ai hết so với  những chiến hữu đã bại trận  của mình. Có một thời Phù Hư được biết đến như một tay làm báo mát tay không thua gì ĐTB, Phù Hư cũng đã từng cầm trịch một tờ báo lớn là “ Mỹ Thuật Thời Nay” cũng ăn nên  làm ra tiền bạc lủ khủ . Còn nhớ mỗi lần Phù Hư mà đi nhậu tới quán nào là các em đặt tên cho gã là “ Anh Tư lưu luyến” vì anh Tư mà chơi thì “ lưu luyến” mãi không chịu về , vì Anh Tư ăn như Vua -chơi như Chúa và nợ thì đương nhiên như “ Chổm” , Có một thời các em cũng gọi gã là “ Tư Xù” không phải là” xù nợ xù tinh “mà vi anh Tư hay “xù”quán và các em rồi biến mất không tăm hơi như cái tên anh Tư vậy -làm các em nhớ đỏ con mắt vì không có ai “lưu luyến” chơi sộp và làm các em vui vẻ như Anh Tư

Cuối giêng hai vừa qua Phù Hư bỗng kêu tôi ra Café và thân mời tham dự một đêm Thơ Nhạc Tác Giả Tác Phẩm ở Quán Guitar Gỗ của Nhạc Sĩ Châu Đăng Khoa ở Số 3 Thích Quảng Đức Phú Nhuận , Tác Giả không ai khác hơn là Ông bạn “phó thi Sĩ “ của tôi Phù Hư với Tập Thơ “Ngậm Thẻ Qua Sông” sách do NXB Hội Nhà Văn ấn hành chưa ráo mực. Nghe đâu phía bên kia Nhà văn Trần Hoài Thư với Tu Thư Ấn Quán cũng đang rục rịch in lại cho Phù Hư. Một lần nữa Phù Hư lại phải đứng giữa hai bờ hư mộng khi cuộc chiến đã lùi xa, Hi hi vậy là thôi không còn phải “im hơi ếm tiếng” nữa nhé ông bạn, bây giờ thì Ông đã công khai hành quân với cả hai bên Thua và Thắng. Thì cũng là “Lính” cả thôi  gã cười khùng khục “ Canh khuya ven núi ục tiếng hú / Tay ghìm súng mắt mỏi đủ thứ / Trông xa thấy thoáng tưởng khai hỏa / Cây đen lù gió lay bay lứ dứ / Đêm rừng lạnh muốn ho xé cổ /Ráng chịu qua giữ mục tiêu quân / Cầu sương điếm cỏ đau lòng khách / Súng thép giá bên mình quanh năm “  [ Quân Bộ khúc]] Gã lại cười khùng khục trong cổ họng rồi hú lên “ đi nhậu thôi mầy ..

Phù Hư sinh năm 1951 [ Canh Dần] Tại Hải Dương nhưng lại học ở Huế Rồi mưu sinh lập nghiệp ở Saì- Gòn nên ai cũng lầm tưởng hắn là dân Huế chính hiệu, nhưng nhìn kỉ thì gã sống không giống Huế chút mô vì  trong cách ăn tiêu thì rất chi li nhưng lại không thấy đâu là chút “tằn tiện”  nào. Gã đã từng đăng Thơ trên những tạp Chí Văn Học nổi  tiếng trước 75 như Khởi hành. Văn .Thời Tập . Đứng Dậy… và sau 75 thêm một chút nữa cho có “ lí lịch” cách mạng là cái Tạp Chí Mĩ Thuật Thời Nay mà gã đã từng làm Thư Kí Tòa Soạn.

Phù Hư là một con người khó chơi nhưng lại cũng rất dễ gần bởi những kiểu cách giang hồ mà gã đã phải từng nhập vai thâm nhập kiếm sống và thành đạt. Với tôi cho đến ngày hôm nay thì Phù Hư vẫn là  tay Văn Nghệ đầy chất lính tráng còn sót lại của chế độ cũ- một tay đáng mặt để ngồi chơi đàm đạo vì cái  tư cách bất di bất dịch đó -dù chỉ vẫn chỉ như gã nói “Tao chỉ là Cố thi Sĩ hay là Phó Thi Sĩ” gì đó như gã đã từng trào lộng với chính mình -nhưng suy cho cùng thì sống và tồn tại một cách không hổ thẹn -được như gã đã là một điều đáng ngạc nhiên trong cái thời buổi “ăn cắp như rươi- tranh danh như rác “ vàng thau lẫn lộn nầy -vì để giữ được cho lòng mình thanh sạch bởi những hư danh trầy trật trong cái xã hội độc tài toàn trị – sợ hãi đến bạc đầu nầy -đã làm cho bao người phải khom lưng quì gối để phải nhục nhã qui hàng – thì Phù Hư cũng chưa phải là “ hàng thần lơ láo” , gã  vẫn đường hoàng là một lính trận đang “ Ngậm thẻ Qua Sông” -cho dù có những lúc gã đã muốn ho lên cho đã ngứa, muốn cục cựa cho đỡ tức`Muốn gào lên cho đỡ buồn – nhưng gã đã “ngậm miệng” lại được vì một lí do vô cùng đơn giản, gã luôn luôn là một người lính tuân mệnh “ Quân lệnh như sơn” Gã vẫn đang hành quân cho dù cuộc chiến đã phai tàn , Gã vẫn tiếp tục là Thi Sĩ cho dù gã đã tự nhận mình đã Phó Thi Sĩ , có nghĩa là gã muôn đời vẫn là PHÙ HƯ vẫn là một “Quân Bộ khúc” trên con đường hành tẩu đến…những cuộc chiến hư vô  không bao giờ thôi nguôi kỉ niệm …

NGUYỄN  TẤN  CỨ

 

Thơ Phù Hư:

QUÂN BỘ KHÚC

quân bộ qua thầm quân bộ qua
nón ngụy trang thép lạnh màu da
câm trăm miệng hến trừng gò ụ
súng dại dột nòng chực đạn ra
mặt thâm hiểm quá răng trắng nhỡn
biên giới xế chiều như  cõi âm
cây che mù mịt vùng lãnh khí
có tiếng ai cười nghe xa xăm
đi qua rừng truông lá tủi thân
quân như ma lẩn bước thì thầm
áo quần trận tiệp mùi cây lá
đường xa đau rát gan bàn chân
lên đèo xuống dốc không sờn chí
cạy răng tìm không một tiếng cười
lúc mỏi tản quân cho ngồi nghỉ
khi buồn đưa điếu thuốc hút chơi
canh khuya ven núi ực tiếng cú
tay gìm súng mắt mỏi đủ thứ
trông xa thấy thoáng tưởng khai hỏa
cây đen lù gió lay bay lứ dứ
đêm rừng lạnh muốn ho xé cổ
ráng chịu qua giữ mục tiêu quân
cầu sương điếm cỏ đau lòng khách
súng thép giá bên mình quanh năm
trinh sát cơ bay rù trên cao
nghe ra nhớ người xa biết bao
ngắt một cọng cỏ xanh dưới gót
ngậm trong miệng vơ vẩn làm sao
tinh sương thu quân gọi lên đường
rừng âm u bít lối cỏ mòn
vạch cây khoét bụi theo đường nhỏ
quân đi rừng cuộn mãng xà cuồn
qua suối nước nguồn cao tới ngực
súng dong cao địch tưởng ta hàng
quần áo ướt dầm không khí ẩm
da nhờn rít thấm gió mùa sang
đi mãi quanh năm với núi rừng
ngoái nhìn trùng điệp núi phương đông
ngước mặt cây mù bưng bóng tối
hai bên bờ bụi xót xa lòng
ba ngày lương khô ăn không chán
khát uống suối nguồn trông cá vởn
thất chí theo người xưa gõ gươm
ca rằng hề cơm không có canh
lầm lũi miết cũng tới xóm thôn
chạm dăm trận trước chưa lại hồn
quân vòng bố trí quanh bờ ấp
toán chận bờ sông toán đầu truông
một canh nhỏ quân phục múi cầu
hai cánh khác xẻ đôi thọc sâu
cẩn thận có khi là công cốc
thôn toàn con trẻ với mẹ già
răn rúm quả xanh dăm trái khế
ít cơm rơi nhao nhác lũ gà
ủng oẳng bên hiên con chó ốm
thôn ổ này là quê nhà ta
ngủ chưa chợp mắt quân di chuyển
nón sắt nặng đầu ba lô mỏi lưng
trông quanh đen đúa không rõ mặt
lắng nghe va động đoán chừng chừng
lắng nghe mới rõ gần nỗi chết
biết có gì không dưới bước chân
thê nhi bao nỗi long tan tác
em ở xa mà ta ở gần
ngàn năm biên ải giữ oan hồn
lá rừng xô gió núi sông xương
chết phơi khí tiết vô danh sĩ
chết đắng cay ma núi ngậm hờn
biên ải ngàn năm danh tiết hão
mộng sông hồ đâu phải ở đây
ta cũng chẳng vô vi lão tử
sao suối cùng đèo nối ngàn mây
biên ải ngàn năm gió u hoài
quân rờn gió núi da mọc gai
phải gió mang muôn linh hồn cũ
về đây đợi đón khách phương ngoài
giật minh không chỉ nghe tiếng đạn
dầm dãi ngày mưa lũ năng dầu
chiều bên núi dốc chưa hỏi đá
đã nghe cú hực gợi đêm thâu
thưở tuổi hai mươi xanh tóc người
bên rừng ngả nón ngỡ thảnh thơi
súng lơi báng nhỏ thả lời hát
trăng mùa xưa ơi em của tôi

1973

 

NGẬM THẺ QUA SÔNG

thơm lửa hương khoai tiếng hát rừng
ven thôn vừa ghé buổi di quân
khói mẹ sau lều cơm chín tới
nước em chè lá đậm phèn sông
tôi đời trận mạc xa quê quán
buổi ghé nương em núp bong nhà
em nhớ thương chồng đóng đồn ải xa
lâu tin vắng trông mòn đường xóm
tôi ở quá bên hông nhà gió sớm
đợi dùm em tin chinh chiến gởi về
đêm nay mưa em mất ngủ khuya
tôi lạnh gió tin địch về vẫn thức
làng em ở gió lào qua rất độc
ngày mưa mùa khuất núi mù sông
mẹ già mong một mụn cháu đầu lòng
em nhắn gởi bao lần tin vẫn biệt
rụng vườn em trăng sương ngày tháng chạp
tôi gác đêm như bóng người rình
tối nay đạn nổ nhẹ mạn sông
sương mỏng quá nhìn hoa ngàn con mắt
tôi giữa đêm nghe mình như thất lạc
thương xóm nhà biết nổ đạn vào đâu
đồng đội tôi ngủ mệt thôn sâu
ngại làm động mẹ ho vừa chợp mắt
tôi nương bóng nhà trăng che khuất
ngồi co mình cho bóng bớt riêng tôi
nhìn xa trăng định trốn sau đồi
sông tiếng vạc dặm buồn như tiếng cú
thức có khua mới nghe hồn bớt ngủ
mới hay trăng tháng chạp úa quanh đời
nghe em thở não mãi không thôi
em thở đó hay gió kêu mùa giá
nhà em ở miệt đông xóm hạ
bên triền sông không bến phải vắng thuyền
đầu trăng con nước rất vô duyên
lên mấp mé vườn em vai phơi áo
em rất nhỏ ngày trông vào gánh gạo
mẹ thì già vồn cải với nương rau
bước sau hiên vui mẹ dây trầu
mùa tốt lá xanh hồn tôi mới ghé
buổi mới đến cau cao vừa nhú bẹ
em thẹn thùa tôi tưởng thưở bình yên
tôi đâu hay em có nỗi hờn riêng
trông chinh chiến gọi hồn chồng theo gió
một tháng tròn ngỡ như ngày thưở nhỏ
em là em mẹ là mẹ xưa
tôi lêu nghêu lúc đi sớm về trưa
cơm nửa buổi giữa khuya kêu bụng đói
nhà thưa quạnh tôi gượng vui chẳng nổi
mẹ thẫn thờ em heo bóng trong sân
tôi trận mạc nhầu không kể đến thân
sương nhiều lắm trời không che nằm đất
em vẫn bảo tôi mái tranh không chật
tôi cười xòa xó xỉnh miết đâm quen
tròn tháng rồi đấy nhớ không em
hôm từ biệt quanh thôn nhà cửa khép
lúc quân đi chắc em không hế biết
đội tôi ngùi ngùi ngậm thẻ qua sông
còn tôi co ro lạnh mãi gió đông
một lần cuối nhìn nhà em đóng kín
tin chồng em chắc chưa về đến bến
như tin tôi mấy thưở gởi thăm nhà
cũng mấy năm rồi biền biệt phương xa
em còn nhớ một lần tôi ghé ở
thơm lửa hương khoai vùi bếp cũ
hồn em xa lắm cũng quanh đây

1972

bài đã đăng của Nguyễn Tấn Cứ


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)