Trang chính » Biên Khảo, Giới thiệu tác giả, Phê Bình, Phỏng vấn, Tư Liệu Email bài này

Đầu năm Nhâm Thìn, trò chuyện về thơ cùng thi sĩ Ngu-Yên (phần 1/4)

NguYen2008

Nhà thơ Ngu Yên vào năm 2008

Lương thư Trung (LTT):

Mến chào thi sĩ Ngu-Yên,

Với tập thơ đầu tay của anh “Hóa ra nét chữ lên đàng quẩn quanh” do nhà Văn Nghệ California (Hoa Kỳ) xuất bản năm 1986, sau đó anh cho ra đời thêm sáu tác phẩm nữa (1). Vậy anh bắt đầu học làm thơ từ khi nào, thưa anh?

Ngu-Yên (NY)

Má tôi thứ chín. Dì Năm là một người đàn bà tài hoa. Dì đẹp gái. Học võ. Mở nhà hàng tây. Theo lục lâm thảo khấu qua Miên buôn lậu vàng. Mở hãng bán rượu. Khi chí khí thì như Đoàn thị Điểm. Khi bông lơn thì như Hồ Xuân Hương. Lấy chồng sớm. Dượng thuộc về điền chủ, ruộng nương cò bay thẳng cánh. Chồng qua đời. Dì năm có một gia tài lớn. Tha hồ làm nghệ thuật cho đến khi sạt nghiệp. Nghèo tận cùng rượu đế.

Dì Năm dạy tôi làm thơ. Bài thơ lục bát đầu tiên khi tôi về Bồng Sơn tắm sông Lại Giang với ba. Những vần lục bát, yêu vận, cước vận, bằng trắc chỉnh tề, do dì Năm chỉ dẫn. Ba tôi rất thích, bắt tôi phải đọc cho các chú bác khác nghe, lúc đó tôi lên 7. Người nghe vỗ tay rất lớn, có lẽ vì ba tôi là quận trưởng Bồng Sơn. Từ như vậy, tôi làm thơ.

Dì Năm đọc tập thơ đầu tay, thơ học trò, của tôi. Dì nói, nếu muốn kể chuyện nên viết văn. Làm thơ là gợi chuyện.

LTT:

Anh hiểu thế nào về cái ý của Dì Năm?

NY:

Sau này tôi hiểu được ý của dì. Chuyện không phải là câu chuyện tình tiết có đầu có đuôi, mà là một điều gì muốn nói. Dì đang đổ bánh bèo ăn trưa. Dì dọn lên bàn một dĩa cho tôi và nói, nếu dì là nhà văn, dì sẽ đổ bánh bèo theo ý mình rồi mời con ăn. Nếu dì là nhà thơ, dì sẽ cho con biết cách làm bánh bèo của dì rồi nói con hãy tự đổ lấy mà ăn.

Có điều muốn nói, nhà văn diễn tả và hướng dẫn người đọc theo ý họ. Nhà triết học sẽ gợi cho người đọc thao thức, triền miên với những câu hỏi. Không nhất thiết phải có câu trả lời. Nhà thơ gợi cho người đọc bởi ý tứ, hình tượng và mỗi người đọc sẽ có một điều gì để nghe, để nói. Không nhất thiết giống như điều muốn nói của nhà thơ. Nhà văn quan tâm điều muốn nói. Nhà thơ quan tâm điều muốn nghe.

LTT:

Rồi Dì Năm còn dạy anh điều gì nữa không?

NY:

Dì gắp một cục than đỏ từ lò ra bỏ xuống sàn xi măng. Dì nói, Bài thơ chết là cục than lạnh cần phải nung lửa. Bài thơ hay cần có lửa. Cục lửa đỏ chưa phải là thơ. Dì múc một vá nước lạnh nhểu lên cục lửa. Xèo, xèo bốc khói. Dì nói, khói mới là thơ. Mỗi người đọc, kể cả người làm thơ phải tự nhểu nước và ngạc nhiên với khói. Không có khói nào bay lên giống khói nào. Cục lửa mà không gặp nước để bốc khói, cứ mãi đỏ hồng sẽ trở thành tro tàn. Những thơ sôi sục tình tự rồi sẽ tàn bay theo gió.

Sau này, mỗi lần làm thơ, tôi lại nhớ đến khói. Có lần theo dõi nhà văn Bình Nguyên Lộc và các văn tài khác tranh luận về câu thơ Kiều của Nguyễn Du: Hàng thần lơ láo phận mình ra sao? Thông thường, người ta cho rằng Từ Hải ra hàng triều đình nên có tâm sự như Nguyễn Du. Tâm sự của hàng thần. Nhà văn Bình Nguyên Lộc lại cho rằng, Từ Hải / Nguyễn Du nhìn lũ thần đã ra hàng, đang lơ láo rồi tự ngẫm, phận mình biết sẽ ra sao. Đọc thơ và lãnh hội thơ là nghệ thuật. Đã là nghệ thuật, mỗi người sẽ khác nhau.

HT:

Vậy theo anh, người đọc thơ trước tiên họ bắt gặp cái gì, vào lúc nào và tại sao họ đọc bài thơ này mà không là bài thơ khác?

NY:

Người đọc thơ, đầu tiên là gặp gỡ bài thơ. Tại sao trong trăm ngàn bài thơ hiện hữu, ta lại thích đọc một số bài thơ mà thôi? Có thể tình cờ. Có thể hữu duyên. Có thể có chục lý do khác nhau. Tựu trung như có nhiều người gặp mặt mà ta không ưa thích, không trở lại, tìm cách thối lui sớm. Có nhiều người mới gặp đã thích nhau. Thân thiện, thân hữu. Lý do là hạp nhãn.

Mỗi người đọc sẽ hạp một số loại thơ hoặc chỉ một loại thơ. Mỗi người đọc ưa thích một tác giả hoặc một số tác giả. Người có trình độ thưởng thức sẽ đọc nhiều loại thơ, nhiều tác giả hơn. Nhưng rồi cũng có loại thơ hoặc tác giả mà ta sẽ nghiêng mình, bỏ đi. Sự yêu thích hoặc chối bỏ của mỗi người dù cho họ là ai cũng không đáng quan tâm.

LTT:

Như vậy, phải chăng người đọc thơ họ đang muốn nghe tác giả nói gì về những điều mà họ rất muốn nghe ?

NY:

Trong khi nhà thơ gợi thơ. Người đọc nắm bắt rồi khơi dậy những điều muốn nghe, trong vô hình. Đối với người đọc, điều muốn nghe có thể sẽ trở thành điều muốn nói. Hoặc điều muốn nghe trở thành câu trả lời những thắc mắc nào đó trong thế gới riêng tư của họ.

LTT:

Và nếu anh là người đọc, anh sẽ bắt đầu đọc một bài thơ như thế nào?

NY:

Đọc thơ. Đọc từ tựa đề, câu cú, ngôn từ. Từng hàng, từng chấm phết để ý tứ thơ thâm nhập vào tâm cảm. Lúc này, bề mặt của bài thơ là nguyên nhân cho người đọc theo dõi. Thuyết phục, chia xẻ, hấp dẫn….lôi kéo người đọc lần dò theo từng tứ thơ, ý thơ để đào xới vào chiều sâu của bài thơ.

LTT:

Anh nghĩ thế nào về ngôn ngữ, hình tượng, màu sắc, âm thanh trong các bài thơ ấy?

NY:

Ngôn ngữ, hình tượng, màu sắc, âm thanh là những yếu tố hàng rào. Ngăn giữa người đọc và bài thơ. Để tìm những gì tiếp theo, phải leo qua hàng rào. Dễ hay khó là tùy tác giả dựng nên hàng rào này bằng cách nào. Có hàng rào kín. Có hàng rào hở. Có hàng rào cao. Có hàng rào thấp. Hàng rào như bức tường. Hàng rào bằng dậu Dâm bụt. Hàng rào có ve chai. Hàng rào có dây kẽm. Có người đọc nản lòng quay bước. Có người thích thú vượt qua.

Hàng rào càng khó vượt càng cần có khả năng, có lòng tò mò, có thú vị khi leo trèo.

LTT:

Còn nhiều bài thơ chỉ ngừng lại nơi bề mặt thì sao?

NY:

Có nhiều bài thơ chỉ ngừng nơi bề mặt. Có nhiều sắc đẹp mà vô duyên. Có nhiều vẻ bình thường mà khiêu khích rủ rê. Cho dù một bài thơ hoàn tất nơi bề mặt cũng chỉ đạt được lòng yêu thích mà thôi. Những bài thơ này thông thường là những bài thơ dạt dào tình cảm, thương, yêu, hận, thù, tức tối, chán nản, tuyệt vọng…… Đọc là hiểu liền. Chia xẻ được tâm tư của tác giả một cách trực tiếp. Không nghi ngờ. Thơ tình lãng mạn, thơ khẩu khí, thơ tuyên truyền, thơ bình dân…..

Nói như vậy không phải loại thơ này là dở. Đa số quần chúng rất yêu thích và truyền tụng những câu thơ. Như, Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông… Một người chín nhớ mười mong một người….A ha chí lớn trong thiên hạ… Không đựng đầy trong đôi mắt giai nhân… Chí ta ta biết. Lòng ta ta hay…. Vì bản chất tình cảm và dễ hiểu, thơ này thường nằm vào dạng thơ hay. Nói một cách vô thưởng vô phạt.

Đa phần người đọc thơ là để giải trí. Tìm tâm tình , tâm sự trong bài thơ mà mình có thể thông cảm. Bài thơ trở thành hay khi tâm sự của tác giả giống như tâm tư của mình. Bài thơ trở nên dễ thương khi ý tứ, hình tượng gợi lại một thời "ngây thơ" nào đó của người đọc. Bài thơ tâm sự. Bài thơ nỗi lòng. Bài thơ đồng thanh tương ứng. Bài thơ đồng khí tương cầu……

Chính vì thuyết phục cảm tính của người đọc một cách dễ dàng nên rất nhiều người làm thơ đã chọn lối làm thơ "tán tỉnh". Cố tìm những ý tứ, ngôn từ, hình ảnh bắt mắt, phóng đại, cực đoan, đôi khi giả tạo, để chiếm cảm tình người đọc. Sự  ngưỡng mộ này rất cần thiết cho một số tác giả không chịu nỗi sự cô đơn của văn chương. Và cái Tôi lớn hơn cái Thơ.

LTT:

Làm sao biết được những nhà thơ "tán tỉnh" này?

NY:

Rất dễ nhận ra, họ hay khoe thơ.

Dì tôi nói, thơ mà phải khoe tức là người làm thơ thiếu lòng tin. Một phụ nữ thích nói về những chỗ đẹp, tức là nàng đang lo nghĩ đến chỗ không đẹp. Dĩ nhiên, nàng che kín. Một người có tài thật, anh ta làm những việc đó rất bình thường nhưng có kết quả kỳ diệu và người xung quanh sẽ thấy. Dẫu cho không thấy, thì đã sao. Chỉ có một đời để sáng tác. Lên Thiên Đàng, Niết Bàn, xuống Hỏa Ngục, Địa Ngục… không còn thơ văn nữa. Có ai biết trên trời cao dưới đất sâu, có thi sĩ, văn sĩ, họa sĩ…nghệ sĩ nào không?

LTT:

Hình hài bài thơ, theo anh, có quan trọng lắm không?

NY:

Những người làm thơ đều biết tầm quan trọng của hình hài bài thơ. Khi độc giả và bài thơ gặp nhau, thơ không chỉ cất tiếng chào mà cả bài thơ đều đứng lên từ trang giấy để tự giới thiệu. Giới thiệu bài thơ là ai, không phải của ai. Giới thiệu lý do, mục đích, ý nghĩa, tâm sự và đón nhận độc giả. Muốn làm tròn những tiêu chuẩn trên, không phải dễ. Tôi bật cười khi nghe bạn tôi nói như vậy. Đâu cần phải quá nhân cách hóa. Thơ và người gặp nhau như một chút duyên thú vị. Đọc thấy thích. Đọc thấy hay. Đọc thấy xứng. Là đủ. Dù từ cách nhìn nào, bề ngoài và hình dáng của bài thơ là sắc diện đầu tiên được chú ý đến.

LTT:

Triết học và thi ca thường có điều gì giống nhau không, nếu có thì giống nhau ở điểm nào?

NY:

Tìm đến thơ như tìm đến những thao thức của người về người và cho người. Triết học và thi ca đều đặt ra những câu hỏi. Thơ có câu hỏi siêu hình như triết, có câu hỏi về tâm như đạo, có câu hỏi về tình như tâm lý học, có băn khoăn tầm thường mỗi ngày như nhân sinh quan. Câu trả lời của triết tràng giang đại hải. Vẫn chưa có kết luận. Người đọc suy tư, càng đào sâu vào triết càng bế tắt. Thơ không trả lời như một kết luận. Mọi câu hỏi trong thơ, được trả lời bằng ẩn dụ, bằng cách sơn đả ngưu, bằng kích thích hoặc gợi ra một điều gì chỉ riêng cho người đọc đó mà thôi.

LTT:

Bài thơ có bề mặt hấp dẫn, thi vị, bắt mắt có phải là bài thơ hay đúng nghĩa không?

NY:

Lúc trẻ ở nhà dòng, tôi học cách trở thành thầy tu. Đi đứng nằm ngồi theo đúng lễ. Nhìn không láo liên. Nói không bừa bãi. Thấy phụ nữ không xôn xao. Thấy người quan quyền, giàu có không nịnh bợ……..Tập làm một người nghiêm kính dù chỉ bên ngoài, cũng không phải dễ.

Mỗi mùa hè về thăm nhà, dì Năm thường nói với tôi, cháu trông như ông cụ. Rồi dì thì thầm vào tai tôi, cô Trân có đẹp không? Hóa ra dì đã biết tôi cùng vài đứa em họ hay rình xem cô hàng xóm tắm đêm. Xóm mới của tôi ở Nha Trang thời ấy có hai cô rất bắt mắt, Thắm và Trân. Cả hai đều vóc dáng hấp dẩn. Đẹp. Mỗi người mỗi vẻ. Có thể nói, mỗi cô là mỗi bài thơ.

Bài thơ có bề mặt hấp dẫn, thi vị, bắt mắt, thuyết phục chưa hẳn là một bài thơ hay đúng nghĩa nhưng một bài thơ hay thật cần có một bề mặt xứng đáng. Nếu không, cổ nhân làm sao có câu: Nhất lé nhì lùn tam hô tứ sún.

Bề mặt của bài thơ được trình bày theo truyền thống là thể thơ và văn phạm của câu cú. Những thay đổi của du nhập các thể thơ thế giới như Hài Cú, Tân hình thức, Tự do… làm hình hài thêm phong phú.

LTT:

Anh nghĩ sao khi Hoài-Thanh & Hoài-Chân phê phán thơ Nguyễn Vỹ lập dị, trang trí bên ngoài?

NY:

Rất tiếc vì hai ông Hoài Thanh và Hoài Chân chưa gặp Lady Gaga. Người Việt rất trọng bề ngoài và trọng những bề ngoài tôn kính, nghiêm và buồn cho dù giả tạo. Thà chọn lầm đạo đức giả hơn là chọn bề ngoài trung thật nhưng thiếu đứng đắn. Thế nào là đứng đắn? Thế nào là đàng hoàng? Người đứng đắn đàng hoàng thật sống với hảnh diện. Người đứng đắn đàng hoàng giả, sống chán như sắp chết.

LTT:

Anh có thể nói rõ thêm một chút về Lady Gaga?

NY:

Lady Gaga là nghệ thuật. Những điều cô làm không giống bất cứ một ai nhưng là nỗi niềm của nhiều ai đang cần giải tỏa. Những sáng kiến, sáng tạo, sản phẩm, công trình, trình diễn, ca hát … của Lady Gaga toàn bộ trở thành nghệ thuật Gaga phá biên. Nếu gọi là lập dị, đây là một lập dị cần thiết để phá vỡ những giới hạn đang chín mùi của nghệ thuật thế giới. Nhưng giữa lập dị và sáng tạo cái mới là một ranh giới tâm lý mà thời gian là câu trả lời. Khi Picasso bắt đầu vẽ tranh lập thể, có lập dị không? Chắc chắn có lắm kẻ xì xào phê lén, phê thẳng. Rồi sao? Nhờ nghệ thuật Picasso, chúng ta mới cảm thấu sự phức tạp trong mỗi con người. Nếu gọi Gaga là tiên tiến, đây là một tiên phong đáng ca ngợi. Gaga như Picasso, vẽ lại bên trong thời đại của họ. Khác chăng, Picasso vẽ trên khung vải. Gaga vẽ lên thân thể, mặt mày, áo quần và cuộc sống của cô. Cái mới và cái lập dị giống nhau bên ngoài, khác nhau bởi sự trung thực bên trong. Nói một cách khác, nếu Michael Jackson đã "vẽ" được thế hệ của ông, con người của tâm ma, khao khát sống trong dày vò của đời sống ngắn ngủi. Tung hê tình dục, thống khoái bạch phiến, vùng vẫy giữa giăng mắc của xã hội, tôn giáo. Thì Lady Gaga đang "vẽ" lại thế hệ của cô. Khao khát sáng tạo như Bill Gate, Steve Jobs. Thèm muốn danh vọng, giàu có bằng những con đường ngắn, tắt, độc đáo. Phá vỡ những ý tưởng truyền thống của bằng cấp và giá trị con người đo bằng luân lý và tôn giáo. Giá như Dì Năm còn sống, chắc bà cũng hoan nghênh Lady Gaga.

 

[còn tiếp]

bài đã đăng của Lương Thư Trung


4 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Ngôn ngữ, hình tượng, màu sắc, âm thanh là những yếu tố hàng rào. Ngăn giữa người đọc và bài thơ. Để tìm những gì tiếp theo, phải leo qua hàng rào.(NY)

    Tui có một vài kinh nghiệm về sự “leo rào” này. Tui muốn chia sẻ cùng quý vị.

    Trên đường lái xe đi làm, hằng ngày phải đi ngang một căn nhà. Căn nhà khá lớn. Đó là nhà lưu niệm của người Tibet. Từ ngoài đường lộ, chạy vụt qua, hình ảnh căn nhà, nhứt là cây cối được sắp xếp trồng trước sân và xung quanh, có nét đẹp và sự hấp dẫn kỳ lạ. Lần nào tui cũng nhìn vào. Nó cho một cảm giác bình an và khoan khoái trên suốt con đường đến sở làm. Tui cũng không rõ tại sao.

    Có thời gian, tui sống gần một cái park nhỏ của người gốc Đại Hàn (S.Korea). Công viên nằm thoai thoải trên con đồi. Xa xa là thành phố lớn với nhà chọc trời. Ở trong park có cái nhà đình nhỏ, đúc mái cong. Có một quần thể gồm 100 trụ xi măng, khối lập phương + mái lăng trụ. Kích thước khoảng dmx6x4x4. 100 cái giống như nhau. Nét thẳng băng, chắc nịch. Sắp xếp theo hàng cũng vuông vức 10×10.Và một khối xi măng khác hình trụ tròn cao hơn, đứng trước 100 cái trụ vuông nhỏ đó. Vậy thôi. Đơn giản, ngay ngắn, vững chắc. Tất cả quần thể, nhà đình đó được đặt trong rải rác nhiều nhóm cây xanh cao thấp khác nhau.

    Và cũng thật lạ kỳ, khi đứng từ một khoảng cách nơi con đường nhỏ trên đỉnh đồi nhìn xuống công viên, nó đẹp kỳ lạ. Đẹp và quyến rũ. Lạ thay, khi tui bước vào ngồi trong giữa cái nhà đình nhìn ra xung quanh park thì cảm giác bâng khuâng của toàn cảnh không có nữa.

    Tui có đọc ở đâu đó, đại ý nhà văn cho rằng sở dĩ những người trong gia đình hay gia tộc thường xích mích nhau là vì họ quá thân quen và quá hiểu rõ nhau. Họ thiếu một “khoảng cách cần thiết” cho điều mật nhiệm trong đời sống. Ngay cả hai người gần nhau nhứt là vợ với chồng, cũng vậy.

    Trường hợp ngắm một bức tranh bạc triệu cũng thế. Dường như ít ai đứng quá gần để ngắm nhìn.

  • nguyễn hàn chung viết:

    Làm sao biết được những nhà thơ “tán tỉnh” này?

    NY: Rất dễ nhận ra, họ hay khoe thơ.

    ‘Ngôn ngữ, hình tượng, màu sắc, âm thanh là những yếu tố hàng rào. Ngăn giữa người đọc và bài thơ. Để tìm những gì tiếp theo, phải leo qua hàng rào. Dễ hay khó là tùy tác giả dựng nên hàng rào này bằng cách nào. Có hàng rào kín. Có hàng rào hở. Có hàng rào cao. Có hàng rào thấp. Hàng rào như bức tường. Hàng rào bằng dậu Dâm bụt. Hàng rào có ve chai. Hàng rào có dây kẽm. Có người đọc nản lòng quay bước. Có người thích thú vượt qua. Hàng rào càng khó vượt càng cần có khả năng, có lòng tò mò, có thú vị khi leo trèo.”

    Tôi khoái lối bông phèn tám lạng đẩy nghìn cân của NY biến cái phức tạp thành cái đơn giản nhưng là cái đơn giản đã được trui rèn tròng lò bát quái nhân sinh. Nhưng thi sĩ ơi. Người làm thơ không khoe thơ còn biết khoe cái gì. Cao Chu Thần từng nói “Nhập thế hữu văn chương -Đào danh hà sở mộ”. Thật ra không phải chỉ nhà thơ ”tán tỉnh” mới khoe thơ đâu? Nhà thơ ”nghiêm chỉnh” còn khoe thơ dữ dội hơn. Nhưng họ khéo che đậy đó thôi. Nếu không? in thơ chỉ để tình cho không biếu không làm gì?

  • Quỳnh Thi viết:

    Thân chào qúi nhà văn nhà thơ và quí bạn đọc.

    Tôi ngưỡng mộ nhà thơ Ngu Yên đã lâu, vì anh là người không những làm thơ mà còn làm nhạc, trước đây anh lại là một bầu sô tổ chức nhiều buổi ca nhạc thành công ở Houston rất nổi tiếng. Sau này trên trang website Gió-o của anh và của nhà văn Lê Thị Huệ có giới thiệu “Ngu Yên là một nhà thơ hàng đầu ở hải ngoại”. Vì thế:

    Tôi nghĩ cứ như cách trả lời của anh khi trò tuyện bâng quơ về thơ với nhà văn Lương Thư Trung thì rất xứng đáng, và nếu Gió o giới thiệu anh là nhà thơ hàng đầu của Việt Nam cũng không ngoa, vì anh Ngu Yên biết làm thơ từ hồi 7 tuổi. Lại được Dì Năm dạy cho âm vận, cước vận, vần bằng vần trắc của thơ lục bát, được nhiều người vỗ tay “có lẽ ba của tôi là quận trưởng!” như anh khoe.

    Nhưng tôi hơi bị thắc mắc về câu trả lời của anh khi anh Lương Thư Trung hỏi:
    Anh nghĩ thế nào về ngôn ngữ, hình tượng, màu sắc, âm thanh, trong các bài thơ?

    Anh trả lời là: Ngôn ngữ, hình tượng, màu sắc, âm thanh, là những yếu tố hàng rào ngăn người đọc và bài thơ. . .

    Theo tôi: Ngôn ngữ, hình tượng, âm thanh và cả nhạc tính nữa. Nó là sơi giây nối kết giữa bài thơ và người đọc thơ, mới phải chứ, vì những yếu tố đó, nó là cốt lõi của người làm thơ. Đành rằng người đọc phải thẩm thấu và vượt qua cái hàng rào như anh Ngu Yên nói, nhưng nó không thể “ngăn” người đọc với bài thơ được.

    Lại nữa thơ làm gì có mầu sắc “cụ thể” như hội họa, vì hội họa chỉ khác thi ca là có màu sắc thôi. Vậy thì, ý của anh có phải mầu sắc là hình tượng chăng? Bởi theo tôi câu thơ khi ta tâm đắc, không những hình tượng mông lung hiện ra, mà nó còn làm ta rung động đến ngất ngây bàng hoàng là khác. Phải thế không?

    Nhà thơ khi giải thích và dẫn giải về thơ không gì hơn là bài thơ do tác giả sáng tác. Nếu được xin nhà thơ Ngu Yên giới thiệu một bài thơ tâm đắc để tôi và quí vị độc giả cùng thưởng thức. Được chăng?

    Trân trọng
    QT

  • thường lạc viết:

    Thưa anh Quỳnh Thi,

    Nhà thơ Quỳnh Thi viết: “Lại nữa thơ làm gì có mầu sắc “cụ thể” như hội họa, vì hội họa chỉ khác thi ca là có màu sắc thôi.” Xin anh đọc lại câu hỏi :”Anh nghĩ thế nào về ngôn ngữ, hình tượng, màu sắc, âm thanh, trong các bài thơ?”

    Riêng tôi, tôi thấy “trong thơ” có rất nhiều “màu sắc”.
    Chẳng hạn,như trong bài thơ “Tống Nguyên Nhị Sứ An Tây” của Vương Duy có câu:
    “Vị thành triêu vũ ấp khinh trần,
    Khách xá thanh thanh liễu sắc tân..”
    Bùi Khánh Đản dịch:
    “Thành vị mưa rơi ướt bụi trần
    Xanh xanh quán khách liễu dương xuân.”
    hoặc như trong bài thơ “Dữ Lư Viên Ngoại Tượng Quá Thôi Xử Sĩ Hưng Tôn Lâm Đình” của Vương Duy:
    “Lục thụ trùng âm cái tứ lân
    Thanh đài nhật hậu tự vô trần”
    Bùi Khánh Đản dịch:
    “Xanh xanh cây rợp khắp thôn xa
    Rêu phủ ngày ngày, bụi chẳng pha.”
    Vả lại, Vương Duy (699-759), cả ngàn năm trước đã được người ta khen “trong thư có họa, trong họa có thơ”, nên “màu sắc trong thơ” là một cái gì rất bình thường mà ai cũng thấy và ai cũng biết.

    Về “màu sắc trong thơ” Việt Nam, màu sắc thiên thiên địa địa biết cơ man nào mà kể cho xiết. Xin ghi ra đây vài thí dụ:

    “Dây mùa hoàng hoa, mùa hoàng hoa,
    Đông-nam mây đùn nơi thành xa”
    (Bích Khê)

    “Gío hiu-hiu hắt gieo vàng muôn cánh lá
    Trời âm u mây xám bóng sương chiều”
    (Anh Thơ)

    “Núi chập-chùng cao nước uống quanh,
    Bãi dâu ngăn ngắt giải màu xanh.
    Nhìn xa non nước chiều thu vắng,
    Một mảnh tình riêng với một mình.”
    (Anh Thơ)

    “Nắng, nắng. Suối trời vàng giãi nắng,
    Gió theo mây không biết trốn phương nào.
    …..
    Ngoài đồng ruộng lúa vàng khô cháy xác,
    Nắng chang chang không một bóng râm thừa.

    Rồi chiều đến, khi mặt trời lặn đỏ,
    mây phương đoài tắm rực một bên sông.”
    (Anh Thơ, Đại Hạn).

    “Thoáng hiện trên đường đã mấy cô,
    Áo tơ trắng lượng điểm mầu thưa,
    Buổi chiều ly biệt vàng chân núi,
    Tiếng cuốc đầu tiên lẩn vật vờ”
    (Tiếng Thầm, Phạm Đình Tân, sinh năm 1913)

    “Bởi thu thế, tiếng thu như thế,
    Đã buồn thôi, lại kể ghê thay!
    Biết bao xanh tốt cỏ cây,
    Mà pha sắc úa, mà bay lá vàng!
    …..

    Đã rằng thế thì thôi cũng phải,
    Tấm hình hài còn lại thương sao!
    Cây khô đổi vẻ má đào!
    Phơ phơ màu trắng thay vào tóc đen!”
    (Thu Thanh Phú của Âu Dương Tu, Tản Đà dịch Tiếng Thu)

    Hoặc như Thi sĩ Nguyễn Đức Sơn viết về thơ L.L.Lan, nhận xét về màu sắc trong thơ của bà:

    “Xem thơ đàn bà đối với tôi là thưởng thức cái hơi hám, cái tính chất gì khác biệt, cái âm tính mà giống đực như tôi chỉ có thể cảm chứ không bao giờ thấy chảy luân lưu trong máu được. Vậy thôi. Nhưng ở L.L.Lan, sau cái nữ tính tràn ngập trong những bài thơ có vần (ngũ ngôn, thất ngôn, lục bát) như trong đoạn thơ phân tích những màu sắc biến thiên phong phú vừa đáng kiêu hãnh vừa đáng âu lo của mình:

    “tôi đang nhìn thấy mầu hồn
    của tôi thay đổi luôn luôn theo trời
    hoàng hôn mầu đỏ mây tươi
    bình minh nắng trắng ấm trôi vào lòng
    những vì sao tím rất trong
    mảnh trăng vàng rỡ chờ mong tôi nhìn.”
    (Tạp chí Bách Khoa, số 307, ngày 15-10-1969, do Thư Quán Bản Thảo số 50, tháng 02-2012 chủ đề giới thiệu nhà thơ Nguyễn Đức Sơn,sưu tập)

    Trân trọng,
    TL

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)