Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Dịch Thuật, Diễn từ, Sang Việt ngữ, Thơ & Thời Đại Email bài này

Văn chương và chính trị: những cách hiểu đúng đắn và sai lầm


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 10.10.2011

 

 

italo-calvino

 

 

Khi tôi nhận lời mời đến nói chuyện tại cuộc hội thảo này, trong đầu tôi xuất hiện trước tiên một suy nghĩ vẫn luôn bật ra trong những dịp như thế: tôi cố nhớ xem gần đây mình có viết gì về văn chương và chính trị hay không, một bài báo cho một trong rất nhiều cuộc tranh luận về chủ đề này chẳng hạn. Và tôi nhận ra là mình chưa có gì trọn vẹn cả. Vài năm nay tôi đã không viết hay nói bất cứ gì về chủ đề này.

Bây giờ nghĩ lại tôi mới thấy điều này thật lạ. Thời tôi còn trẻ, từ 1945 cho đến suốt thập niên năm mươi và sau đó, những vấn đề nổi trội khi ấy đều dính líu đến mối quan hệ giữa nhà văn và chính trị. Thậm chí tôi có thể nói rằng mọi cuộc thảo luận đều xoay quanh điểm này. Thế hệ của tôi có thể được xem là thế hệ đã bắt đầu có dính líu đến văn chương và chính trị cùng một lúc.

Trái lại, tuy trong những năm gần đây tôi thường bận tâm chuyện chính trị đang diễn ra thế nào và văn chương đang diễn ra thế nào, nhưng khi nghĩ về chính trị tôi chỉ nghĩ về chính trị, và khi nghĩ về văn chương tôi chỉ nghĩ về văn chương. Bây giờ khi đương đầu với hai lĩnh vực mông lung này, tôi mang hai cảm giác tách bạch, và cả hai đều là cảm giác của sự trống rỗng: về việc thiếu một dự phóng chính trị để tin vào và thiếu một dự phóng văn chương để tin vào.

Nhưng ở một mức độ sâu hơn tôi nhận thức được rằng nút thắt mối quan hệ giữa chính trị và văn chương mà chúng tôi vướng phải trước đây vẫn chưa được tháo gỡ; các đầu dây xơ sờn và xoắn bện của nó vẫn còn rối như tơ vò dưới mắt cá chân chúng tôi.

Những gì xảy ra trong những năm sáu mươi đã làm thay đổi sâu sắc nhiều khái niệm chúng tôi từng đụng đến, mặc dù bây giờ chúng ta vẫn gọi chúng bằng cùng những cái tên ấy. Chúng ta vẫn chưa biết liệu tất cả thay đổi này sẽ có tác động tối hậu nào cho tương lai của xã hội mình, nhưng chúng ta biết rằng đã có một cuộc cách mạng của trí óc, một bước ngoặt về tri thức.

Nếu phải đưa ra một định nghĩa ngắn gọn cho quá trình này, chúng ta có thể nói rằng ý niệm coi con người như là chủ thể của lịch sử đã kết thúc—chúng ta vẫn phải gọi kẻ đối lập đã phế truất con người là con người, mặc dù con người đó đã rất khác trước kia. Đó chính là giống người “số khủng” đang tăng trưởng chóng mặt trên khắp hành tinh; sự bùng nổ các thành phố lớn; tính bất trị của xã hội và nền kinh tế ở bất cứ hệ thống nào; sự cáo chung của thuyết hướng Âu ở cả mặt kinh tế và ý thức hệ; và việc đòi toàn quyền cho những người bị ruồng bỏ, người bất hạnh, người bị bỏ quên và kẻ ú ớ [1]. Mọi hạn định, phạm trù và phản đề từng được dùng để định nghĩa, phân cấp và sắp xếp thế giới đang trở nên bấp bênh. Và không chỉ là các hạn định, phạm trù và phản đề gắn chặt nhất với những giá trị lịch sử, mà cả các phạm trù nhân chủng học tưởng chừng bền vững—lý trí và huyền thoại, công việc và sự tồn tại, giới nam và giới nữ—và cả những cặp đối lập của của các tổ hợp từ sơ cấp nhất—khẳng định và phủ định, bên trên và bên dưới, chủ thể và khách thể.

Trong mấy năm qua, những bận tâm của tôi đến chính trị và văn chương hướng vào sự bất tương xứng của chúng với các nhiệm vụ mà những thay đổi trong não trạng của chúng ta đặt ra.

Có lẽ tôi nên bắt đầu bằng việc đưa ra một định nghĩa tốt hơn về tình thế, đó là trong một thế giới thu nhỏ có tính nội địa là nền văn chương Ý, để lý giải xem thập niên sáu mươi đã mang đến cho chúng ta những làn sóng gì mới.

Trong những năm năm mươi, văn chương Ý, và tiểu thuyết nói riêng, mong mỏi là đại diện cho lương thức xã hội và ý thức đạo đức của nước Ý lúc bấy giờ. Trong những năm sáu mươi, đòi hỏi này bị tấn công trên hai mặt trận. Trên mặt trận hình thức văn chương—hay đúng hơn, một mặt trận không chỉ hình thức mà còn mang tính nhận thức luận và mạt thế luận—chính giới tiền phong mới xuất hiện đã tấn công và truy vấn văn học Ý, buộc tội là nó cảm tính, cổ hủ và ủy mị một cách đạo đức giả. Chỉ sự cắt đứt dứt khoát trong ngôn ngữ, không gian và thời gian của hư cấu mới có thể là đại diện cho đời sống lúc đó và xua tan những ảo tưởng.

Cùng lúc đó, trong hàng ngũ phê bình sở cầu chính trị, các nhà phê bình cấp tiến nhất đã tấn công và xóa bỏ đòi hỏi của văn chương dấn thân về tính tiêu biểu, và buộc tội nó theo chủ nghĩa dân túy. Do đó, cả mặt trận này cũng chuẩn bị nền móng cho sự trả đũa của văn học tiền phong, hay ít nhất là của văn chương của phủ định—đó cũng là nền móng cho lối suy nghĩ trong văn chương, rằng văn chương không phải để đưa ra những lời rao giảng tích cực, mà đơn thuần là một biểu thị cho chỗ đứng của chúng ta.

Cùng với hai mũi tấn công này, bây giờ tôi phải đề cập đến cái thứ ba, và nó cũng quan trọng không kém. Vùng nội địa văn hóa của văn chương Ý đang trải qua một cuộc thay đổi toàn diện. Ngôn ngữ học, lý thuyết thông tin, xã hội học về truyền thông đại chúng, dân tộc học và nhân chủng học, nghiên cứu mang tính cấu trúc về huyền thoại, ký hiệu học, một cách hiểu mới về tâm phân học, một cách hiểu mới về chủ nghĩa Marx: tất tật trở thành những công cụ thường xuyên được dùng để triệt phá bất cứ đối tượng văn học nào và đập vỡ nó thành từng bộ phận.

Tôi tin rằng vào lúc đó văn chương đã nhận ra nó ở trong một tình thế hứa hẹn hơn bao giờ hết. Những hiểu lầm to lớn từng chi phối các cuộc tranh luận trong những năm hậu chiến đã bị gạt bỏ. Sự triệt phá tác phẩm văn học có thể mở ra lối đi dẫn đến một đánh giá mới và một kết cấu mới. Và kết quả là gì? Chẳng có gì hết—hay nói đúng hơn, trái ngược với những gì được trông đợi. Điều này có nguyên nhân từ cả bên trong lẫn bên ngoài dòng chảy văn học.

Chủ nghĩa cấp tiến mới về chính trị của sinh viên trong năm 1968 được đánh dấu ở Ý bằng một sự chối bỏ văn chương. Người ta không đề xướng một văn chương của phủ định, mà là sự phủ định văn chương. Ban đầu, văn chương bị buộc tội là lãng phí thời gian so với một thứ có ý nghĩa lúc đó: hành động. Việc sùng bái hành động trước tiên và trên hết là một huyền thoại văn học đã cũ, nhưng điều này được hiểu ra—hoặc đang được hiểu ra—rất chậm chạp.

Tôi muốn nói rằng thái độ này không hoàn toàn sai lầm. Nó đồng nghĩa với chối bỏ một thứ nhạt nhẽo được gọi là văn chương xã hội, chối bỏ một khái niệm cứng đầu là nhà văn dấn thân. Và bởi vậy, bằng cách nào đó nó đưa chúng ta đến gần một đánh giá chính xác chức năng xã hội của văn chương, còn chính xác hơn bất cứ sự sùng bái văn chương truyền thống đần độn nào từng làm được.

Nhưng—và tôi đang nói ở thì quá khứ bởi tôi tin rằng có thứ gì đó đã thay đổi—đó cũng là dấu hiệu của sự tự giới hạn, của tầm nhìn hẹp, của việc không nhận ra tính phức tạp của sự vật.

Khi các chính trị gia và những người quan tâm tới chính trị quá chú ý đến văn chương, đó là một dấu hiệu xấu—dấu hiệu xấu với chính văn chương, bởi đó là khi văn chương lâm nguy nhất. Nhưng khi họ không muốn nghe đến nó nữa, thì đó cũng là một dấu hiệu xấu khác, và điều này thường xảy ra với các nhà chính trị tư sản ấu trĩ nhất cũng như các nhà cách mạng về ý thức hệ triệt để nhất. Đây là dấu hiệu xấu cho chính họ trước tiên, bởi họ đang chứng tỏ rằng mình e sợ bất cứ chức năng nào của ngôn ngữ khiến tính xác thực trong ngôn ngữ của chính họ trở nên bấp bênh.

Trong bất cứ trường hợp nào, giới tiền phong văn học và giới tiền phong chính trị cũng không thể gặp nhau. Tiền phong văn học chịu tổn thất từ sự mất mát lượng độc giả tiềm năng mà nó hướng tới, và các nhà văn bị đánh bại của thập niên năm mươi nhanh chóng trượt trở về ghế của họ. Kể cả trong giả thiết xấu nhất của các nhà văn tồi, hay có lợi nhất của các nhà văn truyền thống, các chỗ ngồi trong văn chương không thể để trống lâu.

Những năm gần đây, mọi quan điểm chính trị hễ cứ đơn giản hóa quá mức là thất bại, và chúng ta đều nhận thức rõ hơn tính phức tạp của xã hội mình đang sống, mặc dù không ai có thể nói rằng mình nắm trong tay một giải pháp. Tình thế của nước Ý hôm nay một mặt là tình trạng tha hóa và biến chất trong khung định chế của chúng ta, và mặt khác là sự trưởng thành của số đông và ý thức đi tìm đường lối thiết trị chính chúng ta.

Văn chương có vị trí gì trong một tình thế như vậy? Tôi phải thừa nhận rằng tình thế của văn chương cũng tù mù không kém gì tình thế của chính trị. Tiểu thuyết Ý ngày càng có nhiều độc giả trong nước, đặc biệt là khi nó dính dáng đến các vấn đề chính trị hay lịch sử gần đây—không phải theo cách thức mô phạm của ba mươi năm trước, mà như một tập hợp các vấn đề. Mặt khác, truyền thông đại chúng tạo áp lực thôi thúc nhà văn viết bài cho các báo, tham gia thảo luận bàn tròn trên truyền hình, đưa ý kiến về bất cứ thứ gì anh ta có thể biết hoặc không biết. Nhà văn được trao cơ hội để lấp khoảng trống bị bỏ lại từ bất cứ cuộc thảo luận chính trị có nghĩa lý nào. Nhưng nhiệm vụ này hóa ra quá dễ (khi đưa ra tổng quát hóa mà không cần có bất cứ trách nhiệm nào trong thực tiễn), trong khi đúng ra nó là nhiệm vụ khó khăn nhất một nhà văn có thể đảm nhiệm. Ngôn ngữ chính trị càng ủy mị và trừu tượng bao nhiêu, chúng ta càng có ý thức lớn hơn về một đòi hỏi ngầm đối với một thứ ngôn ngữ mới thẳng thắn và mang tính cá nhân hơn. Và khiêu khích hơn. Khiêu khích là chức năng đại chúng được đòi hỏi nhiều nhất ở Ý vào lúc này. Cuộc đời và cái chết và cuộc đời sau khi chết của Pasolini đã phong thánh cho vai trò khiêu khích của nhà văn.

Có một sai sót cơ bản trong mọi chuyện này. Chúng ta đòi nhà văn đảm bảo sự sống sót của cái gọi là con người trong một thế giới nơi mọi thứ đều có vẻ phi nhân tính; đảm bảo sự sống sót của diễn ngôn con người để an ủi chúng ta về sự mất mát nhân tính trong mọi diễn ngôn và mối quan hệ khác. Và chúng ta cắt nghĩa con người là gì? Luôn là cái gì đó hay thay đổi, cảm tính, chân thật và không khắc kỷ chút nào. Rất khó tìm thấy ai đó tin vào tính khắc kỷ của văn chương, rằng nó vượt lên và chống lại tính khắc kỷ giả tạo của ngôn ngữ đang vận hành thế giới hôm nay.

Giải Nobel năm nay được trao cho Eugenio Montale, nhưng bây giờ không mấy ai nhớ được rằng điểm mạnh của thơ ông cốt ở chỗ giữ cho giọng thật thấp, không nhấn mạnh bất cứ gì, dùng giọng điệu vừa phải và nghi ngại. Đó chính là lý do có nhiều người đọc thơ ông, và sự hiện diện của ông đã có ảnh hưởng sâu sắc đến ba thế hệ người đọc. Đây là cách văn chương đào dòng chảy của nó đến phía trước; “hiệu lực”, hay “sức mạnh” của nó, giả sử có tồn tại, là thuộc dạng này.

Nhưng xã hội hôm nay đòi hỏi nhà văn phải nâng giọng nếu muốn mình được nghe, phải đề xướng các ý tưởng sẽ có tác động lên công chúng, đẩy tất cả phản ứng có tính bản năng của anh ta đến mức cực đoan. Nhưng ngay cả những tuyên bố giật gân và bùng nổ nhất cũng chỉ nhận được thái độ dửng dưng của người đọc. Mọi thứ đều như gió mây tan. Mọi đón nhận cùng lắm là cái lắc đầu như khi người ta đứng trước một thằng bé ngỗ nghịch. Mọi người đều biết rằng ngôn từ chỉ là ngôn từ và không gây ra chút mài xát nào lên thế giới quanh ta: chúng không bao hàm mối nguy nào cho cả người đọc và người viết. Trong biển cả ngôn từ, trên giấy in hay được phát sóng, những câu chữ của nhà thơ hay nhà văn đều mất hút.

Đây là nghịch lý của sức mạnh văn chương: dường như phải bị ngược đãi nó mới cho thấy sức mạnh thực thụ, thẩm quyền thách thức của nó, còn trong xã hội dễ dãi của chúng ta nó dường như chỉ được dùng để tạo ra sự vừa ý tức thời đối lập với sự thao túng nói chung của ngôn từ. (Thế nhưng liệu chúng ta có nên nổi đóa khi than phiền về điều này? Hay Chúa cũng thấy rằng ngay cả những kẻ độc tài cũng nhận ra phương pháp tốt nhất để khỏi vướng bận các mối nguy của ngôn ngữ viết là coi như nó không có giá trị gì cả!)

Trước tiên, chúng ta phải nhớ rằng ở bất cứ đâu nhà văn nào bị ngược đãi, thì không chỉ có văn chương bị ngược đãi, mà nhiều kiểu tranh luận và suy tư khác cũng bị cấm đoán (nhất là quan điểm chính trị). Văn xuôi, thơ ca và phê bình văn chương ở những nước đó đạt được tính nặng[2] đặc thù về chính trị, miễn là chúng trao tiếng nói cho bất cứ ai bị tước đi tiếng nói. Chúng ta, người sống trong nền tự do văn chương, đều biết nền tự do này hàm ý một xã hội đang trên đà tiến, trong đó nhiều thứ đang thay đổi (còn tốt hơn hay xấu đi là một chuyện khác); cả khi đó, vấn đề cần đặt ra vẫn là mối quan hệ giữa thông điệp văn chương và xã hội, hay nói đúng hơn, giữa thông điệp đó và việc tạo thành khả dĩ một xã hội để tiếp nhận nó. Đây mới là mối liên hệ đáng lưu tâm, chứ không phải mối liên hệ với cấp thẩm quyền chính trị, khi mà lúc này những người đó trong chính phủ, dù trong chế độ dân chủ hay các chính thể toàn trị hữu hay tả, đều không thể nói là mình có toàn quyền nắm dây cương của xã hội. Văn chương là một trong các công cụ tự nhận thức của xã hội—chắc chắn không phải duy nhất, nhưng là một công cụ cốt yếu, bởi các khởi nguyên của nó liên quan đến các khởi nguyên của các dạng tri thức khác nhau, các quy tắc, các hình thức khác nhau của tư duy phản biện.

Nói tóm lại, tôi cho rằng có hai cách nghĩ sai lầm về chức năng chính trị khả dĩ của văn chương. Một là tuyên bố rằng văn chương nên cất lên một chân lý đã có sẵn trong chính trị; tức là, tin rằng tổng gộp các giá trị chính trị mới là cái cốt yếu, còn văn chương buộc phải tự thích nghi. Quan điểm này bao hàm ý niệm coi văn chương là vật trang trí và thừa thãi, nhưng nó cũng bao hàm ý niệm coi chính trị là đứng yên và tự mãn: ý tưởng đó mới thật là thảm họa. Tôi nghĩ rằng chức năng giảng huấn đó của chính trị chỉ có thể được tưởng tượng ở thang độ văn chương tồi và chính trị tồi.

Một cách nghĩ sai lầm khác là xem văn chương như chỗ phân loại những tình cảm vĩnh cửu của con người, như chân lý của thứ ngôn ngữ con người mà chính trị muốn lờ đi, và bởi vậy cứ phải được nhắc lại liên tục. Quan niệm này mới thoạt nhìn tưởng chừng dành nhiều chỗ hơn cho văn chương, nhưng trên thực tế tự trao cho nó nhiệm vụ xác nhận những cái đã biết, hay nhiệm vụ khiêu khích theo một cách ngây thơ và thô sơ bằng những khoái cảm trẻ trung là sự tươi mới và thanh thoát. Đằng sau cách nghĩ này là ý niệm về một tập hợp các giá trị được thiết lập cho rằng văn chương có trách nhiệm bảo tồn, một ý tưởng cổ điển và cứng nhắc coi văn chương là chỗ chứa của một chân lý sẵn có. Nếu chấp nhận vai trò này, thì văn chương coi như tự giam cầm nó trong chức năng an ủi, bảo tồn và trượt lùi—một chức năng tôi tin là có hại hơn có lợi.

Liệu điều này có nghĩa là tất cả mục đích chính trị của văn chương đều sai? Không, tôi tin rằng bên cạnh hai mục đích sai lầm còn có hai mục đích đúng đắn.

Văn chương cần nhất cho chính trị là khi nó mang lại tiếng nói cho bất cứ gì không có tiếng nói, mang lại tên cho những gì còn chưa có tên, nhất là cho những gì mà ngôn ngữ chính trị loại trừ hay tìm cách loại trừ. Ý tôi là các khía cạnh, tình thế và ngôn ngữ ở cả thế giới bên ngoài và bên trong, các xu hướng bị kìm nén ở cả bên trong cá nhân và xã hội. Văn chương giống như cái tai có thể nghe được những thứ nằm ngoài tầm hiểu biết của ngôn ngữ chính trị; giống như con mắt có thể nhìn thấy bên ngoài phổ màu mà chính trị có thể trông thấy. Đơn giản vì tinh thần cá nhân chủ nghĩa đơn độc của tác phẩm anh ta, nhà văn có thể khai phá những vùng chưa ai khai phá, ở trong hay ngoài anh ta, và không sớm thì muộn biến các khám phá đó thành những lưu vực sống còn của tâm thức tập thể.

Đây vẫn còn là mục đích rất gián tiếp, chưa cân nhắc và ngẫu hứng của văn chương. Người viết đi theo con đường riêng của anh ta; và cơ hội hay các yếu tố tâm lý và xã hội sẽ đưa anh ta khám phá ra thứ gì đó có thể trở nên quan trọng với hành động chính trị, và cả hành động xã hội nữa. Trách nhiệm của người theo dõi chính trị-xã hội là không phó mặc bất cứ gì cho may rủi, và áp dụng phương pháp riêng của anh ta cho công việc văn chương theo cách không để vuột mất bất cứ gì.

Nhưng tôi nghĩ, vẫn còn một dạng ảnh hưởng khác văn chương có thể tạo ra, có lẽ không trực tiếp hơn nhưng chắc chắn có chủ ý hơn từ phía người viết. Đây là khả năng áp đặt các dạng thức của ngôn ngữ, của tầm nhìn, óc tưởng tượng, tâm trí, của mối tương liên các sự thực và ngắn gọn là việc tạo ra (tôi nói tạo ra nghĩa là chọn lựa và tổ chức) một mô hình giá trị có cả tính thẩm mỹ và đạo đức, là cốt tử cho bất cứ kế hoạch hành động nào, nhất là trong đời sống chính trị.

Như vậy là sau khi loại trừ giáo dục chính trị ra khỏi các chức năng của văn chương, tôi nhận ra mình tin vào một kiểu giáo dục qua ngả văn chương; một kiểu giáo dục chỉ có thể đem lại kết quả nếu nó khắt khe và gián tiếp, nếu nó hàm ý sự đạt được trong khổ ải tính nghiêm ngặt văn chương.

Bất cứ kết quả nào văn chương đạt được, miễn là nó nghiêm ngặt và chặt chẽ, có thể được xem là nền tảng vững chắc cho tất cả hoạt động thực tiễn đối với bất cứ ai mong mỏi việc xây dựng một trật tự tinh thần vững chắc và đủ phức tạp để chứa đựng sự vô trật tự của thế giới bên trong chính trật tự đó; đối với bất cứ ai nhắm đến việc thiết lập một phương pháp đủ tinh vi và linh động đến mức như thể không có bất cứ phương pháp nào.

Tôi đã nói về hai cách hiểu đúng đắn, nhưng bây giờ tôi có thể nhận thấy cách hiểu thứ ba, liên hệ đến thái độ phê phán mà văn chương tự nhìn nhận mình. Nếu có thời văn chương được coi là tấm gương soi cho thế giới, hay là biểu lộ trực tiếp của cảm xúc, thì bây giờ chúng ta không thể làm ngơ sự thật rằng những cuốn sách được tạo bởi các từ ngữ, ký hiệu, bởi các phương pháp xây dựng. Chúng ta không bao giờ quên rằng ngay cả chính tác giả nhiều khi cũng không biết những cuốn sách giao tiếp gì, rằng chúng thường nêu lên những thứ khác với những gì chúng định bày tỏ, rằng trong bất cứ cuốn sách nào cũng có một phần là của tác giả và một phần là công trình tập thể và vô danh.

Nhận thức này không chỉ tác động đến riêng văn chương: nó còn có thể hữu ích cho chính trị, cho phép môn khoa học này khám phá ra rằng những gì nó chứa đựng nào có hơn gì một cấu trúc câu, huyền thoại, hay topos văn chương đâu. Chính trị, cũng như văn chương, trên hết phải hiểu biết chính nó và hoài nghi chính nó.

Coi như là nhận xét cuối cùng, tôi muốn nói thêm rằng nếu không ai trong chúng ta hôm nay có thể cảm thấy mình trong sáng, nếu trong bất cứ gì mình làm hay nói chúng ta đều có thể tìm thấy một động cơ tàng ẩn—dù anh là da trắng, đàn ông, hay người có một thu nhập nhất định, hay thành viên của một hệ thống kinh tế nào, hay người bị chứng loạn thần kinh nào—thì chúng ta không nên quy vào một cảm giác tội lỗi chung chung hay thái độ buộc tội chung chung.

Khi chúng ta ý thức được bệnh trạng hay động cơ tàng ẩn của mình, chúng ta đã bắt đầu hiểu chúng hơn. Điều quan trọng là cách chúng ta chấp nhận các động cơ của mình và vượt qua cuộc khủng hoảng kế tiếp. Đây là cơ hội duy nhất để chúng ta trở nên khác với con người mình là—tức là, con đường duy nhất để khám phá ra một chân tính mới cho mình.

 

Tân dịch từ bài “Right and Wrong Political Uses of Literature” trong Italo Calvino, The Literature Machine, trans. Patrick Creagh, London: Pan/Secker & Warburg, 1987, 89-100.


[1] Ám chỉ sự nổi lên của người dân thuộc địa mới và hậu thuộc địa (các chú thích là của người dịch).

[2] Gravity, từ Calvino dùng để đối lập với “lightness” (tính nhẹ). Xem thêm “Italo Calvino, Những bài giảng Mỹ: sáu điểm ghi nhớ cho thiên kỷ mới”, Cao Việt Dũng dịch, tạp chí Văn học nước ngoài, số 1, 2 năm 2007.

 

 

 

.

bài đã đăng của Italo Calvino


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)