Trang chính » Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Trích đoạn tiểu thuyết Email bài này

Ru: Những Vết Sẹo Lưu Niệm


♦ Chuyển ngữ:
9 bình luận ♦ 25.08.2011

 

 

kim-thuys-portrait_thumb1

Nhà văn Kim Thúy

Lời Giới Thiệu của người dịch: Sinh năm 1968 ở Sàigòn trong một gia đình thượng trung lưu Việt gốc Hoa, Lý Kim Thúy vượt biển với gia đình năm 1978. Sau hành trình vượt biển hãi hùng trong khoang thuyền đánh cá và một thời gian cơ cực ở trại tị nạn Mã Lai, gia đình cô định cư ở Granby, một thành phố vùng Tây Nam Québec, nằm về phía Đông của Montréal.

Ru, tiểu thuyết đầu tay của Kim Thúy, diễn tả tâm trạng của Nguyễn An Tịnh, một phụ nữ Québécoise gốc Việt, qua những đoản văn, hay đúng hơn, những dòng thơ văn xuôi – mỗi đoản văn trong tác phẩm là một tấm bưu thiếp lưu niệm, một cách vạch ra những vết sẹo tưởng đã bị chôn kín dưới kinh nghiệm đồng hóa của thế hệ một rưỡi: “Chúng tôi không biết rằng chỉ có một quốc gia an bình mới có khả năng mở những lớp dạy sử. Ở những nơi khác ai ai cũng quần quật với chuyện kiếm sống hàng ngày để có thì giờ viết về quá khứ chung của họ.” Ru khơi dậy những giấc mơ và nỗi sợ cũ. Ru cũng là lời cảnh cáo, bài kinh giải oan, để lịch sử của dân Việt Nam sống ngoài lãnh thổ quốc gia không còn bị coi là lịch sử của giống người câm và điếc.

Trước đây nhà văn Đặng Đình Túy cũng đã viết về ý nghĩa của tựa truyện Ru trong bài Về Một Cái Tin Văn Học (Da Màu, ngày 23 tháng 3 năm 2010).

Thợ may, dịch giả, luật sư, chủ nhà hàng, đầu bếp cho TV show: đây là những nghề mà Kim Thúy đã thử qua trước khi trở thành nhà văn. Cô là người Việt Nam đầu tiên được giải văn chương của Thống Đốc Toàn Quyền Gia Nã Đại ngày 25 tháng 11 năm 2010.

Trích dịch từ nguyên bản Pháp ngữ Ru (Les Éditions Libre Expression: 2009). Bản Anh ngữ của Ru (dịch giả Sheila Fischman) sẽ được Random House Canada xuất bản vào tháng Giêng năm 2012.

 

 

Khi tôi gặp những đứa con gái ở Montréal hoặc bất cứ ở đâu, những đứa con gái tự ý muốn có được những vết thương trên người, những đứa con gái muốn có những vết sẹo khắc mãi mãi trên làn da, thâm tâm tôi không khỏi ước ao, giá gì những đứa con gái này được gặp những đứa con gái khác cũng như chúng nó có những vết sẹo vĩnh viễn trên người, nhưng sâu kín đến nỗi mắt người không nhìn thấy. Tôi mong cả hai nhóm con gái được gặp mặt để cùng nhau so sánh: giữa vết sẹo được mong muốn và vết sẹo bị rạch trên người, giữa vết sẹo được mua và vết sẹo như giá phải trả, giữa vết sẹo hiển hiện và vết sẹo mịt mù, giữa vết sẹo ửng lên làn da và vết sẹo sâu thẳm, giữa vết sẹo như đồ trang sức và vết sẹo như bài học để đời.

xxx

Tôi sinh ra đời đầu năm Khỉ, vào dịp Tết Mậu Thân, khi những chuỗi pháo dài treo lơ lửng từ những cột nhà nổ bùng và hòa nhập vào với âm điệu của súng liên thanh.

Sàigòn là nơi sinh của tôi, với hàng ngàn mảnh pháo vụn phủ lấp mặt đất trong màu đỏ chói như những cánh hoa anh đào, như màu máu của hai triệu người lính, chảy lênh láng qua những xóm làng của một nước Việt Nam bị xẻ làm đôi.

Tôi sinh ra dưới vòm trời dệt bởi pháo Tết, như những vòng hoa lung linh bừng tóe bởi hỏa tiễn và trái sáng. Sự ra đời của tôi là để đắp bù những cái chết. Cuộc đời của tôi là để nối tiếp đời mẹ tôi.

xxx

Tên tôi là Nguyễn An Tịnh, và tên mẹ tôi, Nguyễn An Tĩnh. Sự khác biệt bé tỉ ti, một dấu nặng dưới chữ i đã phân tách chúng tôi, làm tôi thành riêng rẽ, cho dù tôi là sự nối dài của bà, ngay trong cái tên của tôi. Trong tiếng Việt, tên bà có nghĩa là “bối cảnh yên lành,” và tên tôi, “nội tâm yên lành.” Qua hai cái tên gần như nhập một này, mẹ tôi đã khẳng định cá nhân tôi như cái mầm được trổ ra từ thân bà, sự nối tiếp cho lịch sử của bà.

Lịch sử của nước Việt, với chữ hoa L, đã phá bĩnh những nguyện vọng của bà. Khi bà mang chúng tôi qua Vịnh Thái Lan 30 năm về trước, những con dấu từ tên tôi, tên bà bị rơi tõm xuống nước. Bà cũng đã tước đi mọi ý nghĩa từ tên chúng tôi, làm chúng trở thành những âm thanh lạ lẫm khi phiên âm trong tiếng Pháp. Trên hết, bà bôi xóa vai trò của tôi như sự nối dài của bà từ năm tôi lên mười.

xxx

Được ôm trọn, giấc mơ Châu Mỹ dính liền vào người, như mảnh da được ghép, như cái bứu. Lần đầu tiên tôi đi giày cao gót, mặc váy thẳng và cặp da vào một nhà hàng thực tập cho các trẻ em nghèo ở Hà nội, cậu bé hầu bàn không hiểu sao tôi nói chuyện với cậu bằng tiếng Việt. Thoạt đầu tôi tưởng cậu bé không hiểu rõ giọng Nam của tôi. Nhưng ở cuối bữa ăn, cậu thật thà nói với tôi rằng trông tôi bự quá nên cậu không biết tôi là một phụ nữ Việt.

Tôi dịch câu nói của cậu bé cho hai người xếp đi cùng với tôi lúc đó, và cho đến bây giờ họ còn cười ngất khi nhớ lại. Mãi về sau tôi mới hiểu rằng cậu hầu bàn không ám chỉ thân hình 45 kí lô của tôi, mà vì giấc mơ Châu Mỹ đã làm tôi căng phồng, đẫy đà, nặng chịch. Giấc mơ Châu Mỹ tạo sự tự tin trong giọng nói của tôi, dáng quyết liệt trong cử chỉ, sự nghiêm túc trong những ham muốn, tốc lực trong cách bước, sức mạnh trong ánh nhìn. Giấc mơ Châu Mỹ giúp tôi tin rằng tôi sẽ có tất cả, rằng tôi có thể ngồi trong xe hơi có tài xế lái, và cùng lúc đoán bao nhiêu ký những quả bí được chở trên chiếc xe đạp ọp ẹp của một người đàn bà với đôi mắt nhạt nhòa bởi mồ hôi; rằng tôi có thể khiêu vũ theo cùng điệu nhạc đang kích thích các cô gái ở những quán bar, làm họ uốn éo mông để quyến rũ bọn đàn ông có ví da chứa đầy tiền đô la Mỹ; rằng tôi có thể sống trong ngôi villa đồ sộ cho ngoại kiều và đi theo các em bé chân đất đến ngôi trường xây trên vỉa hè, nơi hai con đường gặp nhau.

Nhưng cậu bé hầu bàn đã giúp tôi nhận thức rằng tôi không thể có tất cả, vì tôi không còn quyền được gọi mình là một phụ nữ Việt, vì tôi đã mất đi dáng mỏng mảnh, nỗi bấp bênh, mọi sợ hãi của người đàn bà Việt. Cậu bé đã làm một việc đúng khi giúp tôi nhớ lại những gì tôi đã mất.

xxx

Số phận lưu vong khẳng định rằng các con tôi sẽ không bao giờ là những nối dài của bản thân tôi hay lịch sử của tôi. Tên chúng nó là Pascal và Henri, và chúng trông cũng chẳng giống tôi. Chúng có màu tóc nhạt, da trắng và lông mi rậm. Tình mẫu tử không đến với tôi lúc chúng rúc bú vú tôi vào 3 giờ sáng. Tình mẫu tử đến chậm, sau những đêm không ngủ, qua từng loạt tã nhớp, những nụ cười thật lòng, những hạnh phúc đến bất chợt, vỡ bờ.

Lúc ấy, và chỉ lúc ấy, tôi mới cảm nhận được tình yêu dào dạt của một người mẹ ngồi đối diện tôi trong khoang tàu, tay ôm đứa con nhỏ với cái đầu ghẻ lở, hôi thối. Tôi giữ trong đầu hình ảnh này qua nhiều ngày đêm. Một bóng đèn treo từ sợi giây điện máng qua một cái đinh rỉ tỏa ánh sáng yếu nhợt trong khoang tàu, ngày này qua ngày khác. Trong không gian chập chùng, sâu thẳm của khoang tàu, ngày và đêm là một, thứ ánh sáng tận tụy, chân tình này đã ấp ủ chúng tôi giữa cái mênh mông rộng hoác của biển và trời. Đám người ngồi trên cầu nói họ không còn thấy lằn ranh nào giữa màu xanh của biển và trời. Thật khó mà biết là chúng tôi đang lâng lâng lên trời hay đâm chúi xuống lòng biển. Trời cao và địa ngục giao hoan trong bụng tàu. Trời cao hứa hẹn cuộc đổi đời, một tương lai mới, một trang sử khác cho sự sống của chúng tôi. Ngược lại, địa ngục là những nỗi sợ: hải tặc, cái đói, cơn say từ mẩu bánh mì khô ngấm dầu tàu, sự thiếu nước, chuyện không thể gượng đứng dậy, chuyện phải đi tiểu vào cái bô đỏ được chuyền từ tay người này sang tay người khác, chuyện bị lây bệnh ghẻ từ cái đầu tróc vẩy của đứa bé, viễn ảnh không bao giờ lên đất liền, hay nhìn thấy khuôn mặt của những người thân ngồi đâu đó trong bóng tối bao trùm hơn hai trăm thuyền nhân.

xxx

Trước khi chúng tôi nhổ neo giữa đêm khuya ở bờ biển Rạch Giá, mọi người lúc đó chỉ biết một nỗi sợ: sợ Cộng sản. Đây là cái chế độ mà họ đang cố trốn chạy, nhưng khi đã bị bủa vây cùng khắp bởi một khoảng trời xanh đồng dạng, nỗi sợ trở thành một con quỷ với hàng trăm diện mạo, như đã cắt cụt chân chúng tôi và làm chúng tôi quên đi sự tê cứng của những gân khớp bị chèn bẹp. Chúng tôi bị tê cứng trong nỗi sợ, bởi nỗi sợ. Chúng tôi không còn nhắm mắt lại khi đứa bé có cái đầu tróc ghẻ đái vào mặt chúng tôi. Chúng tôi không còn bịt mũi khi những người ngồi chung quanh nôn mửa. Chúng tôi bị tê cứng, giam hãm bởi bả vai người này, bắp chân người nọ, và nỗi sợ của mọi người. Chúng tôi đã bị tê liệt.

Câu chuyện một đứa bé gái đi bộ sát mép tàu, trượt ngã rồi bị sóng biển nuốt trọn được rì rầm chuyền khắp khoang tàu dậy mùi, như một loại thuốc tê hay chất khí gây cười, làm tia sáng nhợt nhạt của bóng đèn thành ánh sao Bắc đẩu và những miếng bánh mì khô ngấm dầu máy thành những mẩu bánh bích qui nhắm trà thật ngon thơm. Vị dầu trong đầu, trong cổ họng, và trên đầu lưỡi đã làm chúng tôi say ngây ngây, dần dà ru vào giấc ngủ trong điệu à ơi của một thiếu phụ ngồi cạnh.

xxx

Những đụn tuyết trắng xóa, nhìn thấy lần đầu tiên trong đời qua ô cửa sổ của phi trường Mirabel, làm tôi thấy trơ trọi, phong phanh. Tôi cảm thấy như mình bị lột trần tuy đã mặc cái áo chui cổ màu cam từ trại tị nạn Mã lai và độn thêm bên ngoài cái áo len đan móc mầu nâu mà người phụ nữ Việt Nam nào đó đã dệt cho tôi. Nhiều người trong nhóm đổ xô nhìn qua những vòm cửa từ máy bay, mắt, miệng mở to trong nỗi kinh ngạc. Sau khi sống nhiều ngày trong những không gian tù mù, một phong cảnh trắng phau, tinh nguyên như vậy đã làm mọi người bị choáng ngợp, gần như đui mù, say.

Tôi cũng bị ngỡ ngàng bởi những âm thanh lạ đón chào chúng tôi, bởi tầm vóc của tảng đá lạnh khắc thành tượng đứng sừng sững giữa quầy thức ăn nhẹ, với những món khai vị muôn màu, muôn dạng. Tôi không nhận ra món nào cả, nhưng tôi biết đây chắc chắn phải là giang sơn của hạnh phúc và mộng mơ. Cũng như thằng con Henri của tôi bây giờ, lúc đó tôi chưa biết nói, chưa hiểu gì cả, nhưng tôi không điếc và cũng chẳng câm. Tôi đã mất đi mọi điểm tựa, mất hết mọi phương hướng trước đây đã giúp tôi vào xứ mơ, lộ trình mở của tương lai, ngay cả đường dẫn vào hiện tại.

xxx

Bà giáo đầu tiên ở Gia Nã Đại đã hộ tống chúng tôi, bảy đứa trẻ nhỏ nhất, qua cây cầu bắt nhịp với hiện tại. Bà đã trông nom quá trình cấy rễ của chúng tôi với sự chu đáo của người mẹ cho đứa con sinh thiếu tháng. Chúng tôi đã bị thôi miên bởi nhịp chuyển ung dung, chắc nịch của vòng mông căng tròn, đầy đặn như trăng của bà giáo. Như một bà mẹ vịt, bà dẫn đầu đàn, khuyến khích chúng tôi theo bà đến nơi mà chúng tôi có thể trở thành trẻ nít thêm một lần, chỉ sẽ là những trẻ nít được che chở bởi màu sắc, những bức tranh vẽ, những cái lặt vặt của đời sống. Tôi sẽ luôn luôn nhớ ơn bà, vì bà đã cho tôi nguyện ước đầu tiên của một đứa trẻ di dân: nguyện ước có ngày được ngoáy cái mông phì nhiêu y như bà. Không người Việt Nam nào trong nhóm tị nạn chúng tôi có được những đường cong sung túc, thoải mái và tự nhiên như vậy. Ai ai trong bọn chúng tôi cũng khắc khổ, xương xẩu, đầy góc cạnh. Nên khi bà ghé sát xuống tôi, đặt bàn tay bà lên tay tôi và nói, “Tên cô là Marie-France, vậy tên em là gì?” Tôi đã lập lại từng âm tiết không chớp mắt, cũng không cần hiểu bà nói gì, chỉ cảm thấy được ru ngủ bởi cả một vòm trời tinh khiết, nhẹ hẫng, thơm tho và ngọt dịu. Tôi không hiểu ngôn từ của bà giáo, nhưng tôi hiểu được giai điệu trong giọng nói của bà, và như thế đã quá đủ.

xxx

Lúc về nhà, tôi lập lại chuỗi âm thanh với ba mẹ tôi: Tên cô là Marie-France; tên em là gì?” Ba mẹ tôi hỏi tôi rằng có phải tôi đã đổi tên. Lúc đó chính là giây phút mà hiện tại đã bắt kịp với tôi, khi sự câm điếc của khoảnh khắc bôi xóa những giấc mơ, và khi chúng tan biến, cũng bôi xóa đi cái khả năng nhìn xa, trông rộng.

Lúc đó ba mẹ tôi đã biết nói tiếng Pháp, nhưng tuy vậy, họ không biết nhìn xa, trông rộng; họ đã bị đuổi ra khỏi lớp Pháp ngữ sơ đẳng, vì họ không thể trả tiền học 40 đô-la mỗi tuần, vì kiến thức họ vượt tầm mức của lớp học nhưng vẫn quá kém so với những đòi hỏi, chật vật của đời sống mới. Không thể nhìn xa, trông rộng cho bản thân họ, họ cố nhìn xa, trông rộng cho các đứa con của họ.

xxx

Mới đây, ở Montréal, tôi thấy một bà nội Việt Nam hỏi đứa cháu trai vừa tròn tuổi: “Thương Bà để đâu?” Tôi không biết phải dịch làm sao câu hỏi vỏn vẹn có bốn chữ, nhưng có hai động từ “yêu” và “để.” Đứa bé đặt bàn tay lên đầu nó. Tôi quên bẵng cử chỉ mà chính tôi đã làm hàng nghìn lần hồi còn bé. Tôi đã quên rằng tình yêu đến từ cái đầu, chứ không phải từ trái tim. Trên khắp thân thể, chỉ có cái đầu là quan trọng. Nếu muốn xúc phạm đến người nào, hoặc cả tổ tông họ, chỉ cần đụng tay lên đầu người ấy. Do đó một bé trai tám tuổi, tuy thường ngày rụt rè, bỗng biến thành cọp dữ khi “bị” cậu bạn cùng đội bóng Québec xoa đầu chúc mừng chuyện nó đá trái bóng đầu tiên vào gôn.

Nếu cách biểu lộ tình cảm đôi lúc bị hiểu lầm như một cử chỉ gây hiềm khích, có lẽ ngôn ngữ bày tỏ sự yêu thương không phải là một ngôn ngữ phổ quát: người ta cũng phải dịch và học ngôn ngữ của tình cảm. Trong văn hóa Việt Nam, người ta có thể phân loại, xác định mọi cử chỉ biểu lộ tình cảm: thích, thương, si, mê, mị, đáp, đền. Người Việt không chỉ yêu, mà yêu từ cái đầu.

Tôi đã có một thời sống trong hạnh phúc được rúc đầu vào bàn tay ấm của người lớn, và ba mẹ tôi biết mình được các cháu yêu khi hai thằng nhỏ hôn lên tóc ông bà, hồn nhiên, không nghi thức, trong lúc chúng chơi trò cù lét trên giuờng. Tôi đụng tay lên đầu ba chỉ một lần. Ba bảo tôi vịn vào đầu ba để leo lan can vào khoang tàu.

xxx

Vì chúng tôi, ba mẹ không nhìn thấy những bảng đen mà họ phải lau sạch, những cầu tiêu nhà trường mà họ phải chùi rửa, hay những hộp chả giò cua mà họ đưa bán ở tiệm. Họ chỉ nhìn thấy tương lai của chúng tôi. Các anh tôi và tôi đi về phía trước, bằng cách men theo ánh nhìn của họ. Tôi đã gặp những bà mẹ với ánh nhìn đã bị dập tắt dưới thân xác áp bức của lũ hải tặc; những người cha kiệt quệ năm tháng trong lao tù Cộng sản—không phải lao tù thời chinh chiến, mà là những trại giam trong thời bình.

xxx

Khi còn nhỏ, tôi tưởng chiến tranh và hòa bình là hai thế cực trái ngược. Nhưng tôi đã sống trong hòa bình vào thời binh lửa và chỉ biết đến chiến tranh khi Việt Nam đã trút bỏ vũ khí. Giờ đây tôi tin rằng chiến tranh và hòa bình thật sự là đôi bạn nối khố đã cố tình trêu ngươi chúng tôi. Đôi bạn nối khố coi chúng tôi như kẻ thù bất cứ lúc nào, theo cách hành xử của họ, chẳng cần chuyện chúng tôi định nghĩa họ như thế nào. Chúng tôi không thể tin vào bề ngoài của chiến tranh hay hòa bình. Tôi đã may mắn vì có ba mẹ biết nhìn đời, bất kể diện mạo của thời điểm. Mẹ tôi thường nhắc đến phương châm được viết trên bảng đen trong lớp Đệ ngũ của bà ở Sàigòn: “Đời là chiến trận, nếu buồn là thua.”

xxx

Mẹ tôi muốn tôi nói và luyện tiếng Pháp càng nhanh càng tốt, cả tiếng Anh nữa, vì tiếng mẹ đẻ của tôi, tuy chưa trở thành ngô nghê, đã có phần vô dụng. Năm thứ nhì ở Québec, bà gửi tôi đi học ở một trại lính chuyên dùng tiếng Anh với các học sinh dự bị quân sự. Một cách học tiếng Anh miễn phí, bà nói. Nhưng chẳng có cái gì miễn phí, vì qua kinh nghiệm đó tôi đã phải trả một cái giá rất đắt. Đám chúng nó có khoảng 40 thằng con trai, đứa nào đứa nấy đều to con, ồn ào, đầy vẻ hung hăng của lứa tuổi mới lớn. Cả bầy màu mè như mấy ông tướng con, lúc nào cũng loáy hoáy lo nếp gấp ở cổ áo, góc nghiêng của mũ bê-rê hay vẻ bóng lộn của đôi giày nhà binh. Đứa lớn la đứa nhỏ. Chúng nó đóng tuồng chinh chiến, cùng những sự lố bịch, vô nghĩa của chiến tranh, nhưng chẳng có một sự hiểu biết hay nhận thức nào cả. Tôi không hiểu tại sao tên một thằng con trai đứng cạnh tôi lại được trưởng đoàn lập đi lập lại. Tại sao hắn lại bắt tôi phải nhớ tên một đứa con trai lớn gấp đôi tầm vóc tôi. Bài học vỡ lòng trong tiếng Anh của tôi bắt đầu với câu chào, “Bái bai, thằng lỗ đít.”

xxx

Khi Cộng sản vào Sàigòn, gia đình tôi phải nhường cho phường đến nửa phần tài sản vì lúc đó địa vị chúng tôi đã có phần bấp bênh. Một bức tường gạch ngói được xây lên để phân cách hai địa chỉ: phía sau là nhà riêng của chúng tôi, còn phía trước thuộc về văn phòng công an phường. Một năm sau, bọn người trong chính quyền mới đến đòi chiếm phần nhà còn lại, và những gì lúc đó còn thuộc về chúng tôi. Công an đến trước nhà chúng tôi không báo trước cũng không có trát hoặc bất cứ lý do nào và bảo mọi người trong nhà phải tụ tập ở phòng khách. Ba mẹ tôi lúc đó không có nhà, nên công an ngồi đợi, mấp mé gượng nhẹ trên những cái ghế có lưng dựa thẳng tắp kiểu Art Deco, không dám đụng lên mảnh khăn lanh thêu trắng muốt phủ hai bên tay ghế. Mẹ tôi là người đầu tiên xuất hiện trước khung cửa sắt lắp kính. Bà mặc bộ jupe có váy xếp gấp và giày chơi tennis. Ba tôi đứng đằng sau mẹ, một tay mang vợt đánh tennis, khuôn mặt láng mồ hôi. Sự đến thăm bất ngờ của công an kéo chúng tôi vào hiện tại: cho đến lúc bấy giờ, chúng tôi vẫn thưởng thức hương vị cuối cùng của thời quá khứ. Công an yêu cầu người lớn ngồi yên ở phòng khách trong lúc họ đi kiểm kê những vật dụng trong nhà.

Trẻ con được phép theo chân công an đi từ phòng này sang phòng khác, từ tầng dưới lên tầng trên. Chúng tôi thấy họ niêm đóng những tủ áo, những chạn đựng ly, tách, bát đĩa, bàn ngồi trang điểm, rương, hòm. Họ cũng niêm đóng tủ gương lớn mà bà ngoại tôi và sáu người con gái của bà đã dùng đựng xú chiêng, nhưng họ không ghi xuống những gì có trong tủ gương ấy. Tôi đoán chắc anh công an trẻ bị bối rối khi tưởng tượng ra hình ảnh những nàng con gái với bầu vú tròn trịa ngồi hồn nhiên ở phòng khách trong những bộ quần áo lót gợi cảm may bằng soie Pháp. Tôi đoán có lẽ anh ta đã để trống trang giấy kiểm kê ấy vì đã quá chấn động bởi sự thèm muốn, nhưng tôi lầm: cho đến lúc ấy, anh công an chưa bao giờ nhìn thấy cái xú chiêng. Anh thấy chúng giống cái đồ lọc cà phê của mẹ anh, với vải bọc quanh khung tròn bằng thiếc, nối bởi tay cầm.

Dưới mé cầu Long Biên bắc ngang qua sông Hồng, mẹ anh đổ cà phê vào khung lọc trước khi ngâm trong ấm nước sôi rồi rót bán từng ly cho khách qua đường. Vào mùa Đông, bà ngâm ấm những ly thủy tinh, mỗi ly có thể chứa ba ngụm cà phê, trong một chậu nước nóng, trong lúc khách ngồi tán gẫu trên băng ghế thấp lè tè cạnh đó. Khách đi đường có thể nhìn thấy quán cà phê của bà với ngọn đèn dầu le lói trên cái bàn nhỏ xíu, để gần một cái đĩa với ba điếu thuốc lá. Mỗi sáng, anh công an trẻ, thật ra lúc đó vẫn là một cậu nhóc, mở mắt thức dậy dưới cái khung lọc cà phê nâu còn ẩm nước, cũ mèm, mắc trên cái đinh ở đầu giường. Tôi nghe anh kể chuyện thời còn bé với những bạn đồng nghiệp ở một góc thang lầu. Anh ta không hiểu tại sao gia đình tôi lại lưu trữ quá nhiều khung lọc cà phê cất trong những ngăn tủ áo được lót giấy mỏng. Và tại sao những khung lọc này lại đi đôi? Có phải vì ai cũng uống cà phê với một người bạn?

Ở trường trung học, tôi nhớ những học sinh thường than phiền về lớp sử của tụi nó. Chúng tôi còn nhỏ. Chúng tôi không biết rằng chỉ có một quốc gia hòa bình mới có khả năng mở những lớp dạy sử. Ở những nơi khác ai ai cũng quần quật với chuyện kiếm sống hàng ngày để có thì giờ viết về quá khứ chung của họ. Nếu tôi đã không sống trong sự im lặng hùng vĩ của những giải hồ đóng băng, trong sự tẻ nhạt của một xứ sở an bình, với tình yêu được diễn tả bởi những quả bong bóng màu, hạt công phét ti, và kẹo xô-cô-la, chắc tôi chẳng bao giờ để ý đến tấm lưng còng của bà cụ già cư ngụ gần mả ông cố nội tôi ở vùng đồng bằng Cửu Long. Cụ già, già đến nỗi mồ hôi cụ chảy dài xuống những vết nhăn như một con lạch hiền hậu, kiên trì, rẽ dài trên đất. Từng bước, từng bước một, cụ đi dật lùi xuống bậc thang để không bị ngã chúi về phía trước. Cụ đã gieo bao nhiêu hạt lúa trong đời? Đã bao năm chân cụ lấm bùn? Đã bao hồi cụ ngắm mặt trời lặn trên cánh đồng quê? Cụ đã hy sinh bao nhiêu giấc mơ để rồi 30, 40 năm sau nhìn thấy thân mình bị gẫy gập làm đôi?

Chúng ta thường quên những người đàn bà đã oằn người gánh Việt Nam trong lúc những người đàn ông vác súng trên lưng. Chúng ta quên những người đàn bà vì dưới vành nón lá họ chưa một lần ngước mặt nhìn trời. Họ chỉ đợi ánh mặt trời quất thẳng xuống người họ cho đến lúc họ ngất xỉu thay vì được dìu vào giấc ngủ. Nếu họ để giấc ngủ đến tự nhiên với họ, họ sẽ phải hình dung cảnh con trai họ bị nổ tung từng mảnh hoặc xác chồng họ trôi trên sông như đồ phế thải. Người da đen nô lệ của những cánh đồng bông gòn thủa nào còn biết xướng ca niềm đau của họ, nhưng những người đàn bà này chỉ biết vun xới nỗi buồn trong buồng tim kín rịt. Nỗi buồn đè nặng, kéo dìm họ xuống, nên họ không thể đứng thẳng. Ngay cả sau khi những người đàn ông đã rời rừng rú trở về nhà, đi lại trên bờ đê, quanh quẩn bên mảnh ruộng, những người đàn bà tiếp tục gánh sức nặng của giòng lịch sử câm điếc trên lưng họ. Nhẩn nha, họ mất hút, trong nỗi im lặng, dưới sức đè lịch sử.

Bà cụ già mà tôi quen biết đã chết đuối vì xẩy chân trong lúc ngồi cầu tiêu không mái dựng trên ao cá trê. Dép nhựa cụ trợt trên cầu ván. Nếu ai đó có mặt lúc đó, người ta sẽ thấy cái nón lá của cụ bỗng dưng rơi đằng sau bốn tấm vách chỉ đủ che kín cái lưng khom khom. Bốn tấm vách khoanh kín người cụ nhưng không cứu được cụ. Cụ chết trong nhà xí, đằng sau căn chòi lá của cụ. Cụ rơi tõm giữa hai tấm vách gỗ, ngộp thở trong lỗ phân, trong lúc lũ cá trê với khối thịt vàng nhờ nhờ, lớp da trơn nhớt, không vẩy và không trí nhớ, tíu tít bơi chung quanh cụ.

bài đã đăng của Kim Thúy


9 Bình luận »

  • Minh Đạo says:

    Người Do Thái thấu hiểu nỗi đau khủng khiếp của chính dân tộc họ, người Nhật thấy rõ sự mất mát đau thương ngay trên đất nước họ… nên ngày nay dân Việt cứ ngóc mỏ lên tìm đọc sách viết về họ, xem “Làm thế nào mà … hay vậy?”.

    Còn người Việt, ít nhất là vài người có nhận xét trong bài này, không thấy gì hết sao? Lại còn dè bỉu người ghi lại ký ức buồn đau THỰC SỰ của đất nước mình, dân tộc mình – đã thế còn chơi trò câu chữ! Hèn chi… nửa thế kỷ rồi đó…

  • Nguyễn Đăng Thường says:

    Cám ơn anh Nguyễn Ðức Tùng đã trả lời câu hỏi ngu ngốc của tôi.

    Tuy nhiên, thưa anh, nếu hiểu “bị rạch” theo “sens figuré” và chấp nhận đó là “những vết thương/vết sẹo mắt người không nhìn thấy”, mà nếu không nhìn thấy – đôi “mắt người” của tác giả Kim Thúy có nhìn thấy chúng hay không? – nếu như không có ai được thấy, không được biết chúng nó lớn, bé, xanh, đỏ, tím, vàng, đen, trắng thế nào thì làm sao mà so sánh chúng với “những vết sẹo hiển hiện/lộ liễu” nghĩa là “các hình xâm” của “những đứa con gái ở Montréal hoặc bất cứ ở đâu”?

    Cuộc “thi hoa hậu/hoa khôi” này như vậy là hơi bị khó đó nhe, dù tác giả Kim Thúy đã ngấm ngầm tự đánh giá, tự chấm điểm cao các vết thương/vết sẹo của mình rồi?!!

  • NNguong says:

    Nguyễn Đăng Thường viết:

    “Thiển nghĩ của tôi là sự so sánh giữa hai loại “vết thương được mua như đồ trang sức” và “vết sẹo như bài học để đời” là sai bậy, nông cạn, không đúng chỗ.

    Bởi lẽ, các hình xâm trên mình “những đứa con gái ở Montréal hoặc bất cứ ở đâu” chẳng phải là “vết thương” hay “vết sẹo”. Mà ngược lại.”

    Tôi hiểu: đọc và suy ngẫm, nhưng tiếc quá tôi không thấy, và mong được học hỏi thêm. Có ai vui lòng “dẫn giải” thêm:
    1- Nông cạn ở chỗ nào
    2- Ở đoạn có nói tới “các hình xâm”

    Hy vọng, ý nghĩ và thắc mắc của tôi không “nông cạn” đến độ như những vết sạo vì gãi quá độ từ chứng ghẻ ngứa (!)

  • Bách says:

    Tôi đồng ý với ý kiến của Nguyễn Đăng Thường. Người Việt thường có cái nhìn bi quan cho số phận mình. Phải có cái nhìn vượt lên trên số phận để mình thay đổi mình. Hãy nhìn dân tộc Nhật sau thế chiến, sau thảm họa sóng thần, nếu họ chỉ biết ta thán, than khóc thì nước Nhật đã không có được vị trí như ngày nay.
    Vấn nạn thuyền nhân là vết thương dân tộc. Vết xăm là họa tiết trang trí trên thân thể. Cả hai đều không phải là vết sẹo. Sự so sánh của tác giả có vẻ khập khiểng và hơi làm dáng quá chăng.

  • Chúng ta thường quên những người đàn bà đã oằn người gánh Việt Nam trong lúc những người đàn ông vác súng trên lưng. Chúng ta quên những người đàn bà vì dưới vành nón lá họ chưa một lần ngước mặt nhìn trời. Họ chỉ đợi ánh mặt trời quất thẳng xuống người họ cho đến lúc họ ngất xỉu thay vì được dìu vào giấc ngủ. (KT – ĐTBT dịch)

    Tui không nghĩ người phụ nữ VN trong lịch sử, văn hóa và hiện tại là hình ảnh lu mờ và bị áp chế thái quá. Như một vài hình ảnh trùm kín với đôi mắt u hoài quầng sâu, đâu đó mà ta hay bắt gặp. Tui nhìn một khía cạnh khác.

    – Phụ nữ VIệt đồng tế trong nghi thức lễ bái Gia Tiên ngày xuất giá, ngang với chồng.
    – Ngàn năm trước, đã có Bà Âu Cơ của Huyền Sử, có Bà Trưng, Bà Triệu, Bà Thánh Thiên của Lịch Sử.
    – Văn Học VN còn khắc ghi đậm đà hình dáng và văn nghiệp của Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm , Thanh Quan nữ sĩ. Tuy là họ ít so với đồng môn nam nhân . Nhưng, họ rất nặng ký. Câu quí hồ tinh bất quý hồ đa chính xác trong trường hợp này.

    Tác giả Kim Thúy cũng thấy được vấn đề khi ” người đàn ông vác súng “. Nghĩa là gánh nặng và nghiệt ngã chiến tranh nằm trên vai người đàn ông. Thất phu hửu trách mà. Do vậy, đàn ông có được nhắc nhiều trong cuộc chiến thì cũng đâu có gì lạ. Phụ nữ cũng không vì vậy mà bị lãng quyên hay áp bức. Trái lại là khác, đọc và nghe suốt văn chương thi ca âm nhạc thời chiến VN, hình bóng người mẹ, người chị, người vợ, người em gái là những hình ảnh đáng kính đáng thương và đẹp.

    Ai từng trãi qua cũng biết, thực tế trong đời sống xã hội hay đời sống lứa đôi. Hay trong những cuộc tình . Con gái Việt Nam, mấy bà nội trợ, họ có uy và thế của họ khá lớn. Dễ thương, chứ thương không…dễ !

    Ngoài ra, tui đồng ý với nhận xét của dịch giả ĐTBT là văn chương của RU hay như là những vần thơ văn xuôi. Có nhiều người cũng nhận xét như vậy. Đúng.

  • Nguyễn Đức Tùng says:

    Nhà thơ Nguyễn Đăng Thường hỏi:
    Trước tiên xin hỏi: “vết sẹo bị rạch trên người… nhưng sâu kín đến nỗi mắt người không nhìn thấy” có mâu thuẫn hay không?

    Thưa anh, không. Figurative.
    Các điểm khác tất nhiên chúng ta chưa bàn ở đây.

    Nguyễn Đức Tùng

  • Nguyễn Đăng Thường says:

    Những vết sẹo sâu kín của Kim Thúy và dân tộc Việt.

    “Khi tôi gặp những đứa con gái ở Montréal hoặc bất cứ ở đâu, những đứa con gái tự ý muốn có được những vết thương trên người, những đứa con gái muốn có những vết sẹo khắc mãi mãi trên làn da, thâm tâm tôi không khỏi ước ao, giá gì những đứa con gái này được gặp những đứa con gái khác cũng như chúng nó có những vết sẹo vĩnh viễn trên người, nhưng sâu kín đến nỗi mắt người không nhìn thấy. Tôi mong cả hai nhóm con gái được gặp mặt để cùng nhau so sánh: giữa vết sẹo được mong muốn và vết sẹo bị rạch trên người, giữa vết sẹo được mua và vết sẹo như giá phải trả, giữa vết sẹo hiển hiện và vết sẹo mịt mù, giữa vết sẹo ửng lên làn da và vết sẹo sâu thẳm, giữa vết sẹo như đồ trang sức và vết sẹo như bài học để đời.” (Kim Thúy/Ðinh Từ Bích Thủy)

    Trước tiên xin hỏi: “vết sẹo bị rạch trên người… nhưng sâu kín đến nỗi mắt người không nhìn thấy” có mâu thuẫn hay không?

    Thiển nghĩ của tôi là sự so sánh giữa hai loại “vết thương được mua như đồ trang sức” và “vết sẹo như bài học để đời” là sai bậy, nông cạn, không đúng chỗ.

    Bởi lẽ, các hình xâm trên mình “những đứa con gái ở Montréal hoặc bất cứ ở đâu” chẳng phải là “vết thương” hay “vết sẹo”. Mà ngược lại. Chúng là những “hoa văn” hay “nhãn hiệu” (xin gọi tạm như vậy) để khẳng định một cá tính, để phơi bày cái tôi riêng biệt của một cá thể, để khoe khoang rằng ta đây “chẳng giống ai/không cần giống ai”. Mặc dù các hình xâm đó, dẫu có khác biệt nhau, khiến “những đứa con gái ở Montréal hoặc bất cứ ở đâu” thành những “kẻ xâm mình”, nghĩa là cũng giống… hệt nhau.

    Các ca sĩ ngoại quốc, các sao Hollywood cũng xâm mình. Và một lần nữa, xin lập lại rằng các hình xâm ấy không phải là “vết thương”, “vết sẹo”. Ðó là chưa kể các tay “anh chị” găng tơ Nhựt có thân hình “chạm trổ” khắp nơi. Người Việt Nam (Giao Chỉ) thời xưa cũng có tục xâm mình. Cái văn hoá cũ theo truyền thống lâu đời ấy nay đã trở thành một cái mốt thời thượng, cũng đang xuất hiện lại ở trong nước với những hình xâm kiểu mới, được nhập khẩu.

    Ðại khái, không ai, không dân tộc nào độc quyền về những vết thương, vết sẹo sâu thẳm hay lộ liễu. Xin đừng tự ái tự ti, hay tự cao tự đại, bi lụy quá mức về những “vết thương”, “vết sẹo” kia. Nhựt với bom hạt nhân, Do Thái với phòng hơi ngạt, Trung Quốc với cách mạng văn hóa, Cam Bốt với diệt chủng, Chiêm Thành với tuyệt chủng, Tây Tạng bị mất nước, v.v… Các vết thương, vết sẹo của Việt Nam và của thuyền nhân nhờ có truyền thanh, truyền hình, báo chí, internet… nên chẳng hề sâu kín, bí mật.

    Cuối cùng, trừ nhà văn Kim Thúy, ai dám bảo rằng những kẻ xâm mình kia không mang trong lòng những “vết sẹo sâu kín… mịt mù… đến nỗi mắt người không nhìn thấy… sâu thẳm… vĩnh viễn… như bài học để đời.”? Thành thật mà nói thì “những đứa con gái ở Montréal hoặc bất cứ ở đâu”, nếu tò mò, có thể dễ dàng biết rõ các vết thương, vết sẹo của Kim Thúy và thuyền nhân hơn là… ngược lại.

  • Nguyễn Đăng Thường says:

    Tôi chưa đọc “Ru”, cuốn truyện “tiểu thuyết” hay “tự thuật” của tác giả Kim Thúy (tên thật là Lý Kim Thúy) – vừa được dịch giả Ðinh Từ Bích Thủy chuyển ngữ 14 tiểu đoạn. Ðối với các độc giả đã để lại “nhận xét” (commentaire) tại tiệm sách trên mạng Amazon.fr thì người kể chuyện chính là tác giả Kim Thúy. Thế nhưng, khi đọc qua các đọan chuyển dịch, tôi đã có những “thắc mắc” sau đây:

    1. Trong đoạn thứ 3, tác giả viết:” Tên tôi là Nguyễn An Tịnh, và tên mẹ tôi, Nguyễn An Tĩnh…. Qua hai cái tên gần như nhập một này, mẹ tôi đã khẳng định cá nhân tôi như cái mầm được trổ ra từ thân bà, sự nối tiếp cho lịch sử của bà…” Nhân vật Nguyễn An Tịnh kiêm người kể chuyện như vậy là trai hay gái? Nguyễn An Tịnh hẳn không thể là “gái/nữ” vì tác giả viết tiếp: “Tôi đã có một thời sống trong hạnh phúc được rúc đầu vào bàn tay ấm của người lớn, và ba mẹ tôi biết mình được các cháu yêu khi hai thằng nhỏ hôn lên tóc ông bà…[khi còn ở quê nhà]” [Khi đã ra hải ngoại] “Mẹ tôi muốn tôi nói và luyện tiếng Pháp càng nhanh càng tốt, cả tiếng Anh nữa, vì tiếng mẹ đẻ của tôi, tuy chưa trở thành ngô nghê, đã có phần vô dụng. Năm thứ nhì ở Québec, bà gửi tôi đi học ở một trại lính chuyên dùng tiếng Anh với các học sinh dự bị quân sự.” Ngoài ra, cậu hay cô bé Nguyễn An Tịnh này có một cái nhìn phân tích rất “sâu sắc” về mọi việc. [Nhưng ở quân trường] “Tôi không hiểu tại sao tên một thằng con trai đứng cạnh tôi lại được trưởng đoàn lập đi lập lại. Tại sao hắn lại bắt tôi phải nhớ tên một đứa con trai lớn gấp đôi tầm vóc tôi. Bài học vỡ lòng trong tiếng Anh của tôi bắt đầu với câu chào, “Bái bai, thằng lỗ đít.” Lớn bắt nạt, ăn hiếp “nhỏ” tất nhiên. Hu hu.

    2.Tác giả kể lể: Mẹ tôi thường nhắc đến phương châm được viết trên bảng đen trong lớp học Đệ ngũ bà dạy ở Sàigòn: “Đời là chiến trận, nếu buồn là thua.” (nguyên tác: “La vie est un combat où la tristesse entraîne la défaite”) Ðây là một câu “phương châm” thực sự hay do tác giả “sáng tác”. Nếu thật thì cũng chẳng có giáo viên/giáo sư nào viết nó lên bảng đen, ngoại trừ những câu như “Thời giờ như thể tên bay”, hay “Thương người như thể thương thân”, “Một tinh thần tráng kiện trong một thân thể khoẻ mạnh”, vân vân, nhưng ở tiểu học.

    3. “Mới đây, ở Montréal, tôi thấy một bà nội Việt Nam hỏi đứa cháu trai vừa tròn tuổi: “Thương Bà để đâu?” Đứa bé đặt bàn tay lên đầu nó. Tôi quên bẵng cử chỉ mà chính tôi đã làm hàng nghìn lần hồi còn bé”. Xin hỏi: Ðứa bé trai “vừa tròn tuổi” mà đã biết nghe và phản ứng? Tác giả Kim Thúy hay nhân vật kể chuyện đã làm cử chỉ đó “hàng nghìn lần hồi còn bé” thật à?

    4. “Họ cũng niêm đóng tủ gương lớn mà bà ngoại tôi và sáu người con gái của bà đã dùng đựng xú chiêng, nhưng họ không ghi xuống những gì có trong tủ gương ấy. Tôi đoán chắc anh công an trẻ bị bối rối khi tưởng tượng ra hình ảnh những nàng con gái với bầu vú tròn trịa ngồi hồn nhiên ở phòng khách trong những bộ quần áo lót gợi cảm may bằng soie Pháp. Tôi đoán có lẽ anh ta đã để trống trang giấy kiểm kê ấy vì đã quá chấn động bởi sự thèm muốn, nhưng tôi lầm: cho đến lúc ấy, anh công an chưa bao giờ nhìn thấy cái xú chiêng. Anh thấy chúng giống cái đồ lọc cà phê của mẹ anh, với vải bọc quanh khung tròn bằng thiếc, nối bởi tay cầm… Tôi nghe anh kể chuyện thời còn bé với những bạn đồng nghiệp ở một góc thang lầu. Anh ta không hiểu tại sao gia đình tôi lại lưu trữ quá nhiều khung lọc cà phê cất trong những ngăn tủ áo được lót giấy mỏng. Và tại sao những khung lọc này lại đi đôi? Có phải vì ai cũng uống cà phê với một người bạn?”

    Tác giả đã suy bụng ta ra bụng anh công an? Thanh niên miền Bắc ngu dốt đến thế sao? Dù sao khi làm công việc kiểm kê anh công an trẻ này cũng đã vào miền Nam/Sàigòn… khá lâu rồi?

  • vương ngọc minh says:

    – trời ơi, viết tiếng Tây, tiếng Mỹ mà như vầy, thiệt hay quá sức.
    Trân trọng và cảm ơn dịch giả.

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)