Trang chính » Bàn Tròn: Dịch thuật, Biên Khảo, Dịch Thuật, Phê Bình Email bài này

Đọc “Vision Impaired” bản dịch truyện ngắn “Ám Thị” của Phạm Thị Hoài

0 bình luận ♦ 3.12.2008

 

Pham_Thi_Hoai Tôi vốn thích đọc những truyện ngắn của nhà văn Phạm Thị Hoài, trong số đó có “Ám thị” mà tôi cho là đặc sắc. Tìm trong bộ lưu trữ của damau.org, tôi thấy có bản dịch “Vision Impaired” trong tuyển tập gồm 10 truyện ngắn lấy nhan đề của truyện ngắn “Thực đơn Chủ nhật” (Sunday Menu) do dịch giả Tôn thất Quỳnh-Du (TTQD) bên Úc chuyển ngữ. Sách được xuất bản bởi Pandanus Books, Canberra, năm 2006, bìa in đẹp. Tôi bèn mua và đọc bản dịch vì tò mò muốn biết bản tiếng Anh có chuyển tải được cái hay của “Ám Thị” mà tôi đã đọc từ lâu không.

Tôi không phải là “nhà” [văn hay phê bình] gì cả, chỉ có một thời là dịch giả nghiệp dư có đôi chút kiến thức và tư duy nên không dám mạo muội “điểm” hay “phê” gì hết. Vốn ngoại ngữ của tôi cũng hạn chế trong phạm vi tiếng Pháp và tiếng Anh-[Mỹ] mà thôi. Cho nên vừa đọc vừa so sánh và suy nghĩ, nghĩ sao tôi viết vậy theo sự hiểu biết và cảm quan của tôi.

Một chi tiết sơ khởi nhưng quan trọng phải nói ngay là nhan đề “Ám thị” có thể hiểu hai cách. Một là tác giả muốn nói nhãn thị bị “ám” nghĩa là đen tối. Nếu vậy, đó là một từ sáng tác. Cho nên TTQD dịch là Vision impaired có nghĩa là mắt mờ hay mù, ám chỉ ông thày tẩm quất mắt sáng nhưng đeo kính dâm để đánh lừa thiên hạ. “Ám thị” như vậy thuộc phạm trù giác quan nhưng nghĩa này tìm không thấy trong các từ điển và không được nhắc tới lần thứ hai trong truyện. Hai là hiểu từ ám thị với nghĩa tâm lý. Hán-Việt từ điển của Đào Duy Anh: “(Tâm) Dùng cách âm thầm mà chỉ thị để khiến người ta bất giác mà phải theo mình.” Từ điển Tiếng Việt (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà nội, 1988): “1 Tỏ cho biết một cách kín đáo, gián tiếp. 2 Dùng tác động tâm lý làm cho người khác tiếp nhận một cách thụ động những ý nghĩ, ý định của mình.” Với nghĩa này, “ám thị” thuộc phạm trù tâm lý và tóm gọn được ý nghĩa chủ đạo của đầu đuôi câu chuyện, Tuy nhiên, tác giả và dịch giả hoàn toàn có tự do lựa chọn một trong hai nghĩa, và độc giả muốn hiểu theo cách nào cũng được. Nhân vật trung tâm trong truyện dĩ nhiên là người vợ, người đàn bà hơ hớ 29 cái xuân thì, cái “tôi” thụ động kể chuyện, kẻ chủ động dàn dựng bài bản kín đáo và dùng tác động tâm lý là người chồng, và thày tẩm quất với khả năng đối đáp nước đôi đầy hậu ý và rành tâm lý là kẻ thừa hành. Theo tôi, tất cả ba nhân vật trong truyện đều là những kẻ bị ám thị và ám thị lẫn nhau.

Một điều khác tôi muốn bày tỏ ở đây là văn chương Phạm Thị Hoài rất khó dịch cho sát và hay. Nó đa nghĩa và đa tầng, như Thụy Khuê đã có lần nói. Nó có tính trào lộng, châm biếm, thậm chí cay độc (cynical) và không ước lệ chút nào (đọc “Thiên Sứ”, một tác phẩm hậu hiện đại đích thị). Bút pháp Phạm Thị Hoài sắc bén, gọn, chính xác và đầy trí tuệ. Người dịch văn cô không dễ dàng gì chuyển tải những đặc thù đó. TTQD đã làm một công việc vất vả và khó khăn, rất đáng khen và tưởng thưởng, nhưng theo tôi, một độc giả người Mỹ gốc Việt (người Bắc), bản dịch hãy còn nhiều bất cập. Vấn đề là sự khác biệt về cách hiểu tiếng Việt và tiếng Anh và sự trải nghiệm văn hóa nền tảng của hai ngôn ngữ đó.

“Ám thị” là một truyện dục tình (erotic) kể chuyện một người chồng mắc tính khổ dâm (masochism) cố ý mời một ông thày tẩm quất ngày ngày đến nhà đấm bóp và mát xa cho vợ trong hơn một tháng. Người chồng đạo diễn cho vợ đóng một vở kịch thoát y (strip-tease) từng bước, từng bước lột quần áo vợ từ chỗ áo quần nhiều lớp cho đến khi hoàn toàn trần truồng. Màn đầu là màn nằm sấp để ông thầy tận tình đấm bóp, màn sau là màn tênh hênh nằm ngửa cho ông thầy tùy ý mát xa toàn thân từ ngực đến hạ bộ. Kết quả làm cho chính người chồng và người vợ hứng tình (aroused) đi đến chỗ đẩy ông thầy ra để làm tình với nhau. Người vợ hiển nhiên cũng mắc tính khổ dâm và chỉ được cực sướng sau khi thân xác bị hành hạ bầm dập. Kết cuộc là cả hai người đều bỏ đi: thày tẳm quất sau khi thấy mình bị lợi dụng vì nhìn thấy cảnh làm tình, và người chồng thì cảm thấy mình bất lực vì đóng vai bạo dâm (sadist) không kết quả.

Phần lớn những bất cập của bản dịch là hiểu sai nghĩa, bỏ sót, dư thừa, dùng từ không chính xác. Trong bài này tôi làm công việc người làm vườn dọn cỏ và chỉ chú ý đến những gì nổi bật cần phải nói. Lý do là tôi trân trọng lời văn mô tả thông tục, chính xác với ý châm biếm nhẹ nhàng của Phạm Thị Hoài. Ngoài ra tôi không có ý chỉ trích, chê bai người dịch hay tỏ ra vẻ hiểu biết hơn người. Đây hoàn toàn là chủ quan – thông thái cũng như ngu dốt – của người viết.

 

1. Không chính xác.

– three layers of clothes above and two layers below (nguyên tác: hai lượt quần, ba lớp áo): Clothes có nghĩa cả quần lẫn áo. “Áo” là áo cánh hay sơ-mi, đơn giản là shirt hay blouse, “quần” là pants. Việc gì mà phải thêm above and below cho rắc rối?

master of martial arts (số nhiều). Martial arts nghĩa rất rộng, bao gồm thập ban võ nghệ, “Thầy võ” dịch là kung fu master không gọn sao?

a penny a dozen (AnhMỹ nói là a dime a dozen): hơi khiên cưỡng, chỉ có nghĩa rẻ tiền vì ê hề, làm sao dịch thoát được “ông cứ ới hàng bán rong một tiếng là có cả tá”? ( đề nghị: you just holler at any street vendor and you’ve got dozens of them)

Tam quat: dùng chữ gốc mà không chú thích, Tây sao hiểu, mặc dầu đọc dần dà cũng đoán biết. Ngày nay dùng từ shiatzu thay cho tẩm quất là rất phổ biến.

Acerbic nghĩa là chua chát. ‘Chao chát’ thì khác, nó nghĩa là tráo trở, không thật thà. Devious thì đúng hơn.

crack your back. Có thể thay bằng break your back, chính xác hơn.

artistic guests là khách có vẻ nghệ thuật. Nên thay bằng guest artists để dịch “khách nghệ sĩ”.

thorny and unique không thể dùng để dịch “xù xì, đặt vào đâu cũng không vừa” vì đi hơi xa văn bản. Không lý giải dài dòng, tôi sẽ dịch là “rugged types who belonged nowhere” cho sát nghĩa hơn.

sense of abrasive individualism nghĩa đen là “ý hướng cá nhân chủ nghĩa thích gây gổ”, không thích hợp với “thần thái gồ ghề”. Thần thái tức dáng vẻ bề ngoài. Tôi sẽ dịch là “rough appearance”.

machines dùng để dịch máy ở đây thì hơi lố, đáng lẽ chỉ là devices (vibrator, belly massager, infrared emitter v.v.)

Perfunctory handshake: perfunctory là chiếu lệ; “bắt tay khách sáo” nên dịch là formal handshake.

Thích nghe cái thành tích răng rắc ấy dịch là ten cracking sounds không chuyển tải được cái ý châm biếm bằng “that cracking performance”, nhái lại cái “thành tích răng rắc” mà ông thày khoe ở trên (nhưng bỏ sót, không dịch)

My husband said: “And you said that tam quat was barbaric”. Nguyên văn: “Chồng tôi thốt ra: ‘Thày bảo tẩm quất là món man rợ phải không?’” Chính xác hơn nhưng hơi nặng nề: My husband blurted out: “You said that tam quat was barbaric stuff, didn’t you?”

 

2. Hiểu sai nghĩa

lots of front but not much flair sai nghĩa “có liều mà không ngông” (they are reckless, yet not hotheaded).

should also feel at ease (nên cảm thấy thoải mái). không đồng nghĩa với please make yourself at home hay please take it easy (xin thày cứ tự nhiên cho).

marginal extremities có quá lời không để dịch “thứ râu ria” (fringes)?

If you practice at it you’d master it in no time, Mr Teacher. Trật ý với câu “ông Giáo nên tập cho biết cái ấy không cao siêu gì.”

Đề nghị: Mr Teacher, you should practice it to see it’s no big deal.

I like whatever my husband likes (chồng tôi mê gì tôi thích nấy). Thay vi lập lại “like”, có thể nói; I like whatever fascinates my husband.

– Bản dịch: His thumb moved smoothly along the knuckes of my hand as though they were the ivory keys of a piano.

Nguyên văn: “Ngón cái tay thầy dạo một đường như bấm phím nhạc trên mỗi mấu giữa hai đốt đầu bốn ngón tay tôi”

Nhận định: “Phím nhạc” không nhất thiết là phím đàn piano. Và “bốn ngón tay’ dịch ra “of my hand” không chính xác.

Đề nghị: “His thumb slid its way along the upper knuckes of my four fingers as though they were the frets of a stringed instrument (or guitar)

– My husband smiled at me. Nguyên văn: “anh bỗng nhìn vợ.” (Đề nghị: He suddenly looked at me)

all day long. Nguyên văn: “cả buổi.” (đề nghị: all session long)

That’s sufficient. Khó hiểu. Nguyên văn: “Thế là đủ kín đáo” (đề nghị: That’s discreet enough)

your layers of sartorial resistance. Có vẻ hơi hàn lâm, vả lại không đúng. Nguyên văn: “mấy lớp mo nang em khư khư khoác vào người”. Đề nghị: the layers of body shield you insisted on wearing.

if it’s a curved spine. Đang nói tới hông lệch (misaligned sides) lại xoay ra cột sống cong. Nếu là nguyên nhân thì phải nói rõ (if it’s caused by…).

who were equipped with only cheap sticky medicated patches but claimed to be able to treat all kinds of illness. Nguyên văn: “có mỗi lá cao đen đen bẩn bẩn mà hô rằng chữa bách bệnh.” Câu dịch trên lòng thòng mà không đúng ý. Có thể dịch: unlike quacks who boasted to cure all illnesses with just an unclean, blackish medicated patch.

We would like to retreat (chúng tôi xin kiếu) nghe cứng ngắc. Sao không nói: Leave us out of this.

Useless Asian style of discourse (dịch: “nệ rởm tinh thần ứng xử Á đông”). Sai. Phải hiểu là: false scruples of the Asian behavior.

propositions. Nặng nề, nên thay bằng suggestions thì hơn. (tiếng Việt là: những đề nghị).

The master gave an involuntary start. (hình như thày thoáng giật mình). Sai. Đúng ra là: Instantly, the master seemed startled.

mishandled (your wife’s breasts) không phải là “lỡ tay”. Đề nghị: mauled …by accident.

Darkness descended and enveloped both of us. Đây là sáng tác hiền lành, không phải dịch ý châm biếm của người vợ: “Bây giờ lấy bóng tối mà bọc lại.”

Đề nghị: And now you tried to cover them all with darkness?

3. Bỏ sót, tránh không dịch

– “những người suốt đời chụm tay cầu cúng, tay này cũng còn không biết tay kia thế nào…”

– cây cảnh và sách vở không chừa chỗ nào.

– có thành tích răng rắc

– Vâng, chúng tôi không cốt nói cho ra vẻ đâu.

– Chúng tôi phải nói trước để ông Giáo khỏi thất vọng.

– cổ lỗ, rị mọ, à uôm.

– vất vả nhất cơ thể.

– sướng dã man.

– Bóp dây chằng bẹn (một mệnh đề quan trọng vì sát cạnh cái ‘lá đa’)

– mấu chuyển lớn, tọa cột, ngấn mông, khớp háng, bắp thịt xương cùng. (dịch qua loa

bằng collapsed discs, arthritic hips and exercises of the pelvic floor không những thiếu sót mà

còn không đúng.

– đành mời thày ra hướng dẫn lại.

– dễ sợ

– Giần cho xác thịt tôi ngắc ngoải rồi bỏ.

– long ly quy phượng.

– sằng sặc, giả đò.

– Chuộng đòn dân tộc cổ truyền một chút là dân tộc cổ truyền rờ hồn.

– Chờ chiều chuộng.

 

4. Dư thừa, dài dòng

quite savage and beastly. Chữ Beastly là dư. (tiếng Việt là: khí man rợ)

– Everything under the sun is available these days là vẽ chân cho rắn. (Đây chỉ là sự khai triển thêm một ý còn dở dang với “a penny a dozen”, nhưng nghe nhàm chán.)

– public arena. Arena đã bao hàm public rồi. Arena thường có nghĩa đấu trường. Dùng public place là đủ.

– If we hide behind these qualifications and hedges. Câu này quá dài dòng văn tự chỉ để dịch lời nói dân dã “rào trước đón sau”. Đề nghị: hedge your bets.

Give her the real experience, you must not pull your punches: quá dài dòng chỉ để dịch “Xin thày cứ tẩn mạnh cho”? “Tẩn” là một từ thông tục ở miền Bắc. Dùng câu thông tục “Please sock it to her real hard.” cho gọn và sát.

– and so weightless. Thừa, không cần thiết, so light là đủ

spoiled rotten (two feet). Rotten dùng lần thứ nhì hơi lố. (Tiếng Việt là: để xúc động, để vòi, để hư, để nghĩ)

Boastful quacks. Dùng quacks ở đây cho “lang trọc”** là đúng và đủ, boastful là thừa. Có lẽ dịch giả TTQD không hiểu nghĩa “lang trọc.”

realigning the affairs of the world. Thừa thãi. Tiếng Việt là: “đến lúc phải nắn trời thì làm thế nào?” Dịch “realigning the stars of fate”, thế là đủ và hay.

like the back of his hand. Đây là cao hứng viết văn chứ không dịch cụm từ “hơn anh”. (đề nghị toàn câu: Didn’t he get to know my body, from head to toes, better than you did?)

– Mấy chữ “nghề” trong câu: “Hỏi là người ta…” không cần thiết phải dịch bằng động tính từ hiện tại (present participle) vì không có động từ to busk và dài dòng. Có thể chuyển thành: “earn their living as…buskers, beggars…,etc.”

 

Toàn bản dịch ngoài những chỗ cần thiết, đều dùng thì quá khứ (past tense). Dĩ nhiên là chuyện kể đã qua nhưng theo tôi không nhất thiết phải dùng past tense vì chuyện kể không xẩy ra ở một thời điểm cụ thể nào để quy chiếu, thí dụ cách đây vài tháng, mùa thu năm nay, v.v. Hãy nghe nhân vật “tôi” kể chuyện: Buổi đầu…, ban đầu…, Buổi thứ hai…, Hôm nay…, Hôm tôi bỏ áo ngoài…, Một hôm nào đó… Hơn một tháng…, Hôm sau…”, toàn là những đoạn của một câu chuyện đang xẩy ra trong hiện tại chứ không đã diễn ra trong quá khứ. TTQD dùng “thì” lẫn lộn nên có vài chỗ sai (ví dụ has been/had been) hoặc gây nên hiểu lầm. Theo ý tôi, có thể dùng toàn thì hiện tại (present tense) trừ một chỗ nói đến “năm ngoái” để cho câu chuyện sống động hơn, hấp dẫn người đọc hơn. Hãy đọc lại nguyên văn bản tiếng Việt thì rõ. Tuy nhiên văn phạm tiếng Việt khác tiếng Anh và vấn đề dùng present tense để kể chuyện vẫn là vấn đề còn tranh cãi trong văn giới Mỹ.

Về đại thể, có thể nói đây là một bản dịch dễ đọc, nhưng dễ hiểu sai, có phần dài dòng và hơi nặng nề. Văn phong có tính hàn lâm hơn là thông tục, dân dã, thanh thoát như trong truyện. Việc chuyển, ngắt câu tuy nhịp nhàng nhưng không đạt được sự tinh tế và khéo léo của văn bản gốc. Ông Tôn Thất Quỳnh Du học Anh ngữ tại Úc và ở Úc lâu năm tuy có thỉnh thoảng đi đi về về Việt nam. Có lẽ ông thông hiểu tiếng Anh hơn tiếng Việt, nhất là tiếng Việt dân dã miền Bắc. Ông lại là người Huế chạm trán với ngôn ngữ thuần gốc Hà nội, nên chưa đạt được sự tinh vi và cảm khái được cái hồn của nó, nhất là ngôn ngữ văn chương Phạm Thị Hoài.

 

——————————————————-

** Dịch thuật dĩ nhiên đòi hỏi phải thông hiểu cả hai ngôn ngữ, gốc (source) và mục tiêu (target). Thú thật, tôi không hiểu ý tác giả ở đây khi dùng từ “lang trọc”. Trọc chỉ có nghĩa là trọc đầu, không thể là gì khác. Tôi đoán đây là một trường hợp thói quen sử dụng. Thế hệ tôi biết rằng khoảng thập niên 40-50 ở Hà-nội, trên tàu điện thường hay có người lên quảng cáo “thuốc ho bà lang trọc”, có khi nói khôi hài: “bà lang có đạo trọc đầu.” Có thể từ “lang trọc” được phổ biến cho những thế hệ sau với nghĩa là “lang băm”, “lang vườn” vì quả thật thuốc ho của “bà lang trọc” này không công hiệu như lời quảng cáo.

bài đã đăng của Chu Việt

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

  • NhiSa says:

    Một bản dịch hoàn hảo thật là điều người dịch mơ tưởng nhưng không vì vậy mà không nhìn nhận những sai sót hay yếu kém trong chuyên môn. Việc ông Chu Việt có dịch được hay hơn hay không không làm giảm hay tăng giá trị của những phê bình đã nêu. Sự thành công của bản dịch được đánh giá bằng tiêu chuẩn nào? Bằng sự hoan hô tán thưởng của độc giả không có khả năng đọc hay cảm nhận đúng nguyên tác? Cái tinh thần thà làm dở còn hơn không làm nhiều khi là lực cản trong tiến trình hướng tới sự hoàn mỹ trong nghệ thuật.

  • Một Độc Giả says:

    Tiếng Anh tôi không rành và tiếng Việt tôi cũng không giỏi vì thế tôi đọc bài của Quỳnh Du với sự mến phục. Tôi thấy bài dịch của anh rất hay, ít ra cũng đủ hay để người Úc phát giải thưởng cho anh. Có thể người khác cho là nó chưa toàn hảo nhưng khó mà đi tìm sự toàn hảo mà tất cả mọi người đều đồng ý. Nhất là Việt nam mình có câu “văn mình vợ người.” Hay nói như nhà thơ Xuân Quỳnh “Thơ mình mình đọc câu nào cũng thương.” Có đôi khi chúng ta không nên chờ có đủ điều kiện toàn hảo để bắt tay làm một việc gì đó, như dịch văn chương chẳng hạn. Chờ cho toàn hảo cũng như khi đang đói mà phải có thức ăn ngon mới ăn, hay nín thở chờ có không khí trong lành mới thở. Tôi nghĩ mang một phần nhỏ văn học Việt Nam giới thiệu với độc giả Úc một cách thành công đã là một hành động đáng phục. Nếu mọi nỗ lực giới thiệu văn học Việt Nam với quốc tế đều được dạy cho một bài học công cộng chắc ít ai dám làm và nhất là làm không ăn lương.

  • Hà Minh says:

    Những nhận xét của ông Chu Việt khá xác đáng, nhưng ở góc độ người dịch, tôi nghĩ dịch giả Tôn Thất Quỳnh Du đã rất dũng cảm và đam mê khi chuyển ngữ văn Phạm Thị Hoài, cho nên tác phẩm dịch vẫn rất đáng trân trọng. Liệu ông Chu Việt có thể cung cấp một bản dịch khác để so sánh hay không, phê thì lúc nào chả dễ.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)