Trang chính » Biên Khảo, Hội Họa, Nghệ Thuật, Nghiên Cứu Email bài này

XEM TRANH “HẬU ẤN TƯỢNG” TẠI SAN FRANCISCO

 

 

 

Một cuộc triển lãm họa phẩm của các nhà danh họa hậu ấn tượng đã lôi cuốn hơn một trăm ngàn người xem trong 4 tháng, và trường phái hội họa ấn tượng (impressionist) của Âu châu xuất phát từ trường phái ấn họa (printing) Nhật Bản từ gần 300 năm trước, là hai điều bài này muốn gửi tới những độc giả ưa thích vấn đề.

Đó là viện bảo tàng (museum) De Young tại số 50 Hagiwara Tea Garden Dr. San Francisco. Đây là cuộc triển lãm các tác phẩm nổi tiếng nhất của các danh họa hậu ấn tượng (Post-Impressionist Masterpieces from the musee d’Orsay) như Van Gogh, Gauguin, Cezanne và còn nữa. Các họa phẩm này mượn của museum d’Orsay, Paris. Chỉ đọc thấy vậy thôi cũng đủ khiến tôi thấy phải đi xem. Tôi đã tới Paris, đã xem museum của Picasso và của Monet và mấy museum khác nữa nên không có thì giờ vào museum d’Orsay. Bây giờ bộ tranh thường trực của d’Orsay lại được mang tới ngay cạnh “nhà” thì bắt buộc phải tới xem rồi. Brochure cho biết De Young là museum duy nhất tại Bắc Mỹ (Mỹ và Canada) triển lãm bộ tranh ít khi được mang ra ngoài nước Pháp này. Đây là cuộc triển lãm lần thứ nhì của ½ bộ sưu tập quí giá về trường phái ấn tượng của museum d’Orsay, Paris. Cuộc triển lãm thứ nhất của ½ đầu của bộ sưu tập cùng tên của museum d’Orsay đã kết thúc ngay trước khi cuộc triển lãm lần thứ nhì này bắt đầu, tức là từ ngày 22/5/2010 tới 6/9/2010 với tựa đề “Sự Ra Đời Của Trường Phái Ấn Tượng” (Birth of Impressionism: Masterpieces from the Musée d’Orsay*).

Cuộc triển lãm lần này bắt đầu từ ngày 25/9/2010 tới 18/1/2011. Sở dĩ museum d’Orsay cho bộ sưu tập quí giá này đi “lưu diễn” tại vài quốc gia có quan hệ mật thiết với văn hóa Pháp là vì museum d’Orsay đang trùng tu. Nếu không trùng tu cơ sở trưng bày thì chẳng bao giờ có chuyện cho mượn cả một bộ tranh quí giá này đi “lưu diễn” dài ngày như hiện nay. Nhưng đặc biệt museum De Young là museum duy nhất trên thế giới tổ chức hai cuộc triển lãm liên tiếp trưng bày toàn bộ các bức danh họa ấn tượng của d’Orsay. Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy, trong bài tựa tuyển tập “Sự Ra Đời của Phái Ấn Tượng” (Birth of Impressionism/ Masterpieces from the musee d’Orsay) đã viết, sự kiện này tạo ra tại San Francisco “một năm thực sự Orsay”. Ông viết tiếp, “Một khi toàn bộ sưu tập này được trả về cho museum d’Orsay thì sẽ hầu như chắc chắn chẳng bao giờ được cho mượn đi trưng bày tập thể như hiện nay nữa. Chính vì thế cuộc triển lãm đang được đề cập trở nên quí giá. Và cũng chính vì thế giá vé hơi cao. $25 đô Mỹ cho người lớn. Nếu mua trước được bớt $5 USD.

Giá cao như vậy nhưng số người vào xem đông kỷ lục. Cuộc triển lãm mở cửa gần 100 ngày trong 4 tháng kéo dài từ 25-9-2010 tới 18-1-2011, thế nhưng ngày nào cũng đông nghẹt người. Không có thống kê được thông báo để biết chính xác bao nhiều người đã vào xem, nhưng một diễn đàn trên mạng ghi nhận những than phiền của khách xem trong mấy tuần đầu là “…vừa tốn tiền, vừa mất thì giờ mà không thưởng thức được gì cả, vì khách vào quá đông không còn chỗ chen chân. Đứng gần thì không xem tranh được, mà đứng xa thì đoàn người qua lại liên tục cản trở tầm nhìn.” Khi đọc được những phản hồi đó, tôi quyết định chờ tới ba, bốn tuần cuối mới đi xem. Sau đó tình hình cải thiện nhiều do Museum ấn định mỗi vé vào xem hai tiếng với giờ giấc cố định. Không vào xem đúng giờ là mất vé. Hãy làm con tính nhân, mỗi tuần triển lãm mở cửa 6 ngày, mỗi ngày từ 9:30 sáng tới xuất cuối bắt đầu lúc 4 giờ chiều, tức là có 7 xuất, mỗi xuất 1 tiếng, với khoảng ít nhất hơn 100 tới 150 người vào xem (ước lượng cá nhân) thì con số hơn 100 ngàn người vào coi triển lãm là nói khiêm tốn. Hãy thử tưởng tượng ngày nào garage parking cũng hết chỗ. Ngày nào chỗ đậu xe dọc hai bên con đường quanh museum, khoảng 1 mile (hơn 1 km) cũng hết chỗ thì đủ biết số khách vào xem tranh mỗi ngày lên tới con số bao nhiêu. Hãy nhân với 100 ngày trong gần 4 tháng.

Ngày thứ Bẩy, 1-1-2011, 18 ngày trước ngày kết thúc (kết thúc ngày 18/1), tôi ung dung lái xe quãng đường 53 miles (gần 80 km) tới musem với lòng thơ thới trong một cuối tuần đẹp. Nhưng khá là thất vọng. Vé đã bán hết. Tôi đành trở về với quyết tâm tuần sau sẽ trở lại.

Trước khi ra về, đi dạo quanh mấy phòng phía bên ngoài, cũng có một số tranh, và sinh hoạt hấp dẫn đáng xem. Ngoài ra tôi được thấy một quảng cáo mang lại tin vui, hấp dẫn, “Tại museum Legion of Honor cách đó 3 miles (4.5 km) có cuộc triển lãm mang tên Japanesque/ The Japanese Print in Era of Impressionism (Ấn họa Nhật Bản trong thời kỳ Ấn Tượng), kéo dài từ 16/10/2010 tới 9/Jan/2011”. Brochure cho biết cuộc triển lãm này bổ xung cho cuộc triển lãm các họa phẩm nổi tiếng của các danh họa phái Ấn Tượng Âu châu mà tôi đang mong muốn xem. Cuộc triển lãm này giới thiệu sự phát triển nền ấn họa Nhật trong hai thế kỷ (1700-1900) và tiết lộ ảnh hưởng sâu đậm của ấn họa Nhật trên hội họa phương tây trong thời kỳ Ấn Tượng. Tờ brochure viết, “nhiều họa phẩm Ấn Tượng trong bộ họa phẩm của museum d’Orsay chịu ảnh hưởng của quan niệm mỹ thuật Nhật bản (…paintings from the Musee d’Orsay, many of which are aesthetically indebted to concepts of Japanese art.) Thông tin này khiến tôi ngạc nhiên và cảm thấy mình may mắn. Tôi rất mê tranh Ấn Tượng, mê Monet…vì dễ hiểu. Cách nay một tháng, một người bà con mà cũng là bạn thân cho biết Ấn Tượng Âu châu chịu ảnh hưởng của hội họa Nhật bản nhưng tôi còn bán tín bán nghi, vì chưa có tài liệu kiểm chứng. Thì đây là một dịp may. Tôi quyết định về nhà mua vé qua mạng để xem hai cuộc triển lãm này.

Tuần sau, khi tìm trên mạng để mua vé xem tranh Ấn Tượng Âu châu thì hết sức ngạc nhiên, tất cả mọi vé đều đã bán hết chỉ còn hai xuất. Nhưng khi bấm vào mua vé thì nhất định không mua được. Câu trả lời trên mạng, một cách vô lý, “Không đủ vé cho quí vị.” Không hiểu lý do. Tôi đành mua vé đi xem triển lãm tranh ấn họa Nhật Bản. Sáng hôm sau, sau khi mang theo đầy đủ áo ấm, nước chai, ghé mua bánh mì, đổ xăng đầy xe, tôi lên đường. Nhưng vẫn còn tiếc cuộc triển lãm tranh Ấn Tượng, tôi quyết định ghé qua viện bảo tàng De Young với hy vọng mong manh mua được một vé vào bất cứ ngày nào trong tuần. Nếu cần tôi nghỉ sở một ngày để đi xem. Thật là may mắn, còn hai xuất vào ngày Thứ Hai 17 và Thứ Ba, ngày 18/1 (ngày cuối). Xuất ngày thứ Hai vào xem lúc 9 giờ 30 tối và xuất ngày thứ Ba vào xem lúc 6:30 chiều. Tôi quyết định mua vé xem vào ngày cuối cùng, vì xem lúc 6:30 chiều sớm hơn là xem lúc 9:30 tối để phải ra về vào nửa đêm, dù rằng bà bán vé cho biết ban đêm trong công viên này an toàn. Dĩ nhiên việc tìm chỗ đậu xe để vào mua vé cũng là một khó khăn, vì như thường lệ, đã có những hàng xe đậu chật hai bên đường. Khi viết những dòng này, lúc 11:20 trưa ngày Chủ Nhật, 9/1 thì các vé đều đã bán hết. Nếu tôi không chịu khó vào mua ngày hôm qua thì kể như là lỡ một dịp bằng vàng.
Tới Museum Legion of Honor, vấn đề đậu xe cũng khó như ở museum trước. Dọc theo khúc đường ngoằn ngoèo trên đồi quanh museum đều không còn chỗ đậu. Khi tôi tới nơi là 12 giờ trưa, nên có một số bắt đầu ra về. Hàng dài xe nối đuôi nhau chạy chầm chậm tìm chỗ. Khi tới gần cuối con đường cụt, một xe chuẩn bị rời chỗ. Tôi may mắn hơn xe trước vài giây nên vừa ở đúng vị trí vào đậu thay thế.

Legion of Honor Museum là một lâu đài được xây cất theo mẫu của lâu đài Legion d’Honneur tại Paris, nhưng chỉ nhỏ bằng ¾. Bởi thế vừa bước vào trước Museum đã thấy không khí Paris ngự trị. Thêm hàng chữ tiếng Pháp lớn ngay trên cổng ra vào, gợi lại một chút âm hưởng tiếng Pháp còn xót lại từ thời trung học xa xưa, “Honneur et Patrie” (Danh Dự và Tổ Quốc). Museum nằm trên một ngọn đồi cao bao quanh là hình ảnh thành phố San Francisco lộng lẫy ở xa xa. Một phía nhìn xuyên qua rừng cây là mặt nước lóng lánh dưới ánh mặt trời vùng Vịnh Cựu Kim Sơn. Khu vực này nhỏ, không như museum De Young nằm ngay giữa công viên khổng lồ Golden Gate Park đông đúc xe cộ và người qua lại, cho nên lên đây vào cuối tuần, sau khi xem museum, tản bộ quanh khu vực cũng thật thú vị.

Museum trưng bày nhiều vật cổ hơn 6000 năm của văn hóa Ai Cập. Nhưng nhiều nhất là hội họa, điêu khắc và cổ vật Âu châu. Chủ yếu là của Pháp. Cá nhân tôi rất thích xem các tranh, tượng Âu châu qua mọi trường phái. Tôi đã xem rất nhiều lần tại Âu châu và các quốc gia khác nhưng vẫn không chán. Một phần xem để thưởng thức, một phần để học hỏi. Học hoài mà rất nhiều khi nhìn tranh vẫn không phân biệt được nó thuộc trường phái nào. “Kẻ ngoại đạo” mà!
Thường thì các tranh hiện đại và đương đại (modern and contemporary), ngoài trường phái ấn tượng (impressionist) và lập thể (cubism), là một tổng hợp, mà chủ yếu là trừu tượng (abstract). Trong đó cũng có riêng một phòng trưng bày tượng của Rodin. Điêu khắc gia này thì nổi tiếng khắp năm châu. Hầu như ở museum nào nổi tiếng trên thế giới cũng có ấn bản điêu khắc của ông.
Nói về tầm ảnh hưởng của phái Ấn họa Nhật Bản đối với trường phái Ấn Tượng Âu châu, brochure viết, “Một nhóm lớn tác phẩm của các họa sĩ Âu châu và Hoa Kỳ của thời kỳ Ấn Tượng và Hậu Ấn Tượng chịu ảnh hưởng của ấn họa Nhật bản gồm có các tác phẩm của Mary Cassatt, Edgar Degas, Edouard Manet, Henri de Toulouse-Lautrec, Vincent van Gogh, và James Abbott McNeill Whistler. Những họa sĩ này thu thập các bức ấn họa của Nhật và thường sáng tác ra các tác phẩm của mình trong đó về bố cục, mầu sắc, hình ảnh (imagery) mượn trực tiếp của thẩm mỹ Nhật Bản. Tác phẩm “Thirty-Six Views of the Eiffel Tower (1902) của Henri Riviere cho thấy sự ngưỡng mộ họa sĩ Nhật Hokusai, cũng như tác phẩm của các họa sĩ Hoa Kỳ như Arthur Wesley Dow và Helen Hyde, là những người đã tới Nhật học hỏi nghệ thuật ấn họa mầu của Nhật (Japanese color woodcut).

Khi bước vào museum tôi tìm ngay tới phòng chiếu video. Tại đây, video giới thiệu với khách xem kỹ thuật ấn họa Nhật, từ bước khởi đầu là chế tạo giấy, qua kỹ thuật khắc gỗ rồi kết thúc là nghệ thuật in. Mỗi khâu đều được nghệ nhân Nhật bản làm với một thái độ cẩn trọng tỉ mỉ. Giấy để in ấn họa Nhật bản được sản xuất rất đặc biệt. Gỗ để làm bản khắc cũng là loại đặc biệt. Không phải vật liệu nào cũng dùng được cho hai phương tiện cơ bản này. Mấy con dao khắc cũng đặc biệt. Mỗi loại dao được dùng cho một đường nét khác nhau. Những sợi tóc, những nếp áo của nhân vật , v…v đều được nghệ nhân thực hiện một cách công phu tỉ mỉ. Thậm chí cái “bàn ủi” (tên gọi của tôi) dùng để chà xiết lên mặt sau tờ giấy trong lúc in ấn cũng được chế tạo với loại vỏ cây đặc biệt một cách hết sức công phu, tỉ mỉ. Cho tới thế ngồi của người in cũng ngay ngắn, chững chạc. Nếu không mực sẽ không đều hay các đường ghép mầu không khớp nhau. Các nghệ nhân trong kỹ thuật ấn họa Nhật bản thực hiện công trình của mình một cách tập trung, từ tốn, đĩnh đạc nhưng thoải mái như đang “hành đạo”, tương tự như trà đạo. Sau khi xem phim, tôi ra phòng biểu diễn (demonstration) của nghệ sĩ ấn họa. Nơi đây không phải nghệ nhân biểu diễn cho khách xem mà cô Tomoko Murakami, cùng với ba phụ tá, lôi cuốn khách xem vào việc thực tập ấn họa. Cô Murakami là một nghệ sĩ đa dạng (a multi disciplinary artist), tốt nghiệp MA Viện Nghệ Thuật San Francisco (San Francisco Art Institute) và trường đại học John F. Kennedy University. Cô có tác phẩm trưng bày tại một số nơi ở Hoa Kỳ và Tokyo đồng thời cô cũng đã giảng dậy, thuyết trình tại nhiều trường đại học danh tiếng Hoa Kỳ như San Francisco State University…hiện nay cô giảng dậy tại mấy trường trong đó có trường California College of the Arts. Mỗi đợt khách tham dự khoảng 10 người được thực tập kỹ thuật khắc trên gỗ, tô mầu trên bản khắc rồi in. Cuộc thực tập kéo dài một tiếng. Mọi người tham dự vui vẻ. Đông người muốn tham gia nên muốn tham dự phải ghi danh trước và chờ đợi khoảng gần một tiếng.

Khi đã có khái quát về nghệ thuật ấn họa Nhật bản rồi tôi bước vào phòng trưng bày các tác phẩm ấn họa nổi danh của Nhật Bản. Số lượng khá nhiều, vài trăm cái, đếm không hết. Người xem đông. Đa số là người gốc Âu châu (da trắng), thế nhưng họ không chạm tự ái khi biết một đặc trưng văn hóa mạnh mẽ của họ là hội họa mà lại kể như “sản sinh” từ nền ấn họa Nhật bản. Tài liệu trưng bày viết rằng, “Từ ngữ Japanesque đầu tiên được dùng trong tiếng Anh vào giữa thập niên 1880s để chỉ phong cách hay cách hành xử Nhật Bản (style or manner). Phong cách Nhật Bản tràn vào Paris như bão tố vào hai thập niên 1850’s và 1860’s. Khi người Nhật mở cửa hải cảng giao tiếp với thế giới vào năm 1854 sau một thời kỳ bế quan tỏa cảng, các sản phẩm mỹ nghệ Nhật đổ vào phương Tây tràn ngập các cửa tiệm, các phòng trưng bày (galleries), các cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng ở Paris. Các người say mê hội họa, các nhà sưu tầm (collectors) và các nghệ sĩ mau chóng chú ý tới các sản phẩm mỹ nghệ Nhật. Đặc biệt nghệ thuật Ấn họa Nhật (Japanese woodblock prints) đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển nghệ thuật hội họa phương tây vào thời kỳ Ấn tượng (Impressionism). Nguồn gốc của ấn họa Nhật là những hình ảnh giản dị chỉ với hai mầu đen trắng rồi tiến tới đỉnh cao là những hình ảnh bóng bẩy nhiều mầu sắc. Trong phòng trưng bày cuối cùng của cuộc triển lãm này là những tác phẩm của các họa sĩ phương Tây du nhập chủ đề (subjects), motifs (trọng điểm trong tác phẩm), ý niệm bố cục và ngay cả kỹ thuật ấn họa truyền thống của Nhật vào tác phẩm của họ.”

Trong các phòng trưng bày rất đông người xem. Đặc biệt mấy gian phòng trưng bày các tác phẩm của các họa sĩ phương Tây cạnh các tác phẩm ấn họa Nhật tương tự để thấy rõ nghệ thuật ấn họa Nhật ảnh hưởng mạnh mẽ như thế nào, là đông người xem và trầm trồ nhất. Hầu hết ai cũng quan sát thật kỹ. Hết nhìn xa, lại nhìn gần. Họ ngạc nhiên tại sao những tác phẩm ấn tượng của Âu châu lại tương tự ấn họa Nhật bản thế. Cuối cùng là một sự trầm trồ, “amazing!” (thật kỳ lạ!) Không phải chỉ có một vài bức ấn tượng phượng Tây giống với tác phẩm ấn họa Nhật Bản mà rất nhiều. Có không ít bức tương tự ở mức độ cao. Có những bức vẽ cây cầu ở Âu châu lại rất giống với bức ấn họa vẽ một cây cầu ở Nhật. Có bức vẽ núi Shasta ở bắc California của một họa sĩ Hoa Kỳ trông rất giống bức ấn họa Phú Sĩ Sơn của Nhật. Dĩ nhiên các bức tranh này không thể nói là ăn cắp đề tài, bởi vì chủ đề hoàn toàn khác nhau, một cái ở Âu Châu hay Hoa Kỳ, cái kia ở Nhật. Chỉ có điều kỹ thuật, bố cục, mầu sắc và hình ảnh tương tự. Điều đó cho thấy nhiều họa sĩ Ấn Tượng Tây Phương đã ngưỡng mộ và chịu ảnh hưởng sâu đậm của nghệ thuật ấn họa Nhật. Dưới đây là hai ví dụ:

SDC14679-300x225

(Ghi chú của phòng triển lãm) Bức họa này là của Pierre Bonnard (Pháp 1867-1947), có tựa “Góc phố nhìn từ trên cao” (Street Corner Seen from Above, 1896-1897). Tranh mầu, in thạch bản (lithograph). Bonnard, được gọi là “họa sĩ tiên phong có nhiều phong cách Nhật Bổn nhất’ (the most Japanese Nabi,” đã sản xuất vào năm 1899 một bộ 12 tác phẩm in thạch bản cho thấy đỉnh cao của ảnh hưởng Nhật Bản trong tác phẩm của ông. Mỗi tác phẩm trong bộ này miêu tả một cảnh sống hàng ngày khác nhau ở Paris. Nhiều bức dường như dựa trên tác phẩm ấn họa của Hiroshige, trong số đó có bức “Cảnh Đêm trên Đường Saruwaka” (Night View of Saruwaka Street) ở dưới đây.

Đây là bức “Cảnh Đêm trên Đường Saruwaka” của Utagawa Hiroshige (Japanese 1797-1858)

(Ghi chú của phòng triển lãm) “Bên trái là bức “Cầu Cổ Battersea” (Old Battersea Bridge, 1879 của James McNeil Whistler (Hoa Kỳ, 1834-1903), xuất bản tại London, Anh quốc năm 1879, trông cứ như cây cầu Edo của Hiroshige (bên phải) được mang từ Nhật sang London.”

Cùng là người Á châu nhưng người Nhật đi tới đâu cũng được các dân tộc khác nể trọng, và họ xứng đáng với điều đó. Nhưng mỗi lần, của rất nhiều lần, bị hỏi lầm, “Ông là người Nhật hả?” tôi lại cảm thấy đau lòng.

 
2011-Jan. 9

* http://deyoung.famsf.org/deyoung/exhibitions/birth-impressionism-masterpieces-mus-e-d-orsay 

 

————————————-

Bổ túc hình ảnh từ mạng, để thêm chi tiết về các tác phẩm nêu trên:

 

fasf.152632
Pierre Bonnard
Góc phố nhìn từ trên cao

 

work_1782
Utagawa Hiroshige – Cảnh Đêm trên Đường Saruwaka

 

20091116_SnowBridge2
Utagawa Hiroshige – Cầu Edo

 

Whistler-Old_Battersea_Bridge2
James McNeil Whistler – Cầu Cổ Battersea

 

 

 

.

bài đã đăng của Nguyễn Tường Tâm


5 bình luận »

  • vinh bang viết:

    Một bài viết rất lý thú và đã giúp tôi hiễu nhiều về sự tương quan giữa hai nền nghệ thuật.
    Và cũng tiện đây, với “Cùng là người Á châu nhưng người Nhật đi tới đâu cũng được các dân tộc khác nể trọng, và họ xứng đáng với điều đó. Nhưng mỗi lần, của rất nhiều lần, bị hỏi lầm, “Ông là người Nhật hả?” tôi lại cảm thấy đau lòng.” của chính tác giả, tôi xin hỏi: Tại sao “lại cảm thấy đau lòng”, hãy hãnh diện mình là người VietNam, hãnh diên những gì mình có, và cố gắng học hỏi thêm…
    Cám ơn nhiều

  • Lê Minh Tuấn viết:

    Cám ơn Bác đã mở mắt cho em về cội nguồn của Trường phái ấn tượng ở Châu Âu. Khi ở Nga, em cũng đọc khá nhiều về trường phái này, mê Monet, Gauguin, Van Gogh, nhưng chỉ hiểu là nó xuất hiện ở Pháp rồi loan tỏa ra khắp Châu Âu, mà không biết nguồn cảm hứng lại từ Nhật. Năm 1980, em còn học ở Moscow, đọc được câu: Nhật Bản có phải là Châu Âu không? Không, Nhật Bản là siêu Châu Âu.
    Tháng 9/2015, vợ chồng em sang thăm cô út định cư ở Eindhoven, Hà Lan, cách Làng Van Gogh khoảng 20Km. Chúng em đi xe buýt tới đó thăm: Làng đẹp lắm, người Hà Lan nâng niu từng viên gạch xưa, nâng cấp cảnh quan xung quanh, cà làng như một bức tranh. Van Gogh cả đời không bán nổi một bức tranh, nay bảo tàng Van Gogh gần bảo tàng quốc gia có số người thăm chí ít là như nhau.

  • Trịnh Cung viết:

    Sau khi đọc bài “Xem tranh Hậu Ấn tượng tại San Francisco do Nguyễn Tường Tâm viết, theo tôi, đây là một bài viết thiếu giá trị chuyên môn. Tác giả đã kể nhiều về chuyện đi xem triển lãm mà không đưa ra chỉ dẫn thế nào là tranh Ấn tượng và Hậu Ấn tượng, lại còn gây hiểu lầm khi tác giả bài viết cho rằng hội họa Ấn tượng được sinh ra bởi tranh Ấn họa Nhật Bản khi căn cứ vào một số tranh của Monet, Van Gogh,… có ảnh hưởng tạo hình từ tranh Ấn họa Nhật bản.

    Tranh ấn họa là tranh đưiợc in ra từ bản khắc gỗ hay kẻm nên màu thường phẳng, không đa sắc và đan xen đầy biến hóa và mạnh bạo như tranh sơn dầu hay tranh bột màu của phái Ấn tượng. Sự ra đời của hội họa Ấn tượng là một cuộc cách mạng bắt nguồn từ cuộc cách mạng dân chủ Pháp năm 1789, dựa trên tự do và khoa học. Còn tranh Hậu ấn tượng của châu Âu là cách gọi chung cho các trường phái ra đời sau Ấn tượng như Biểu hiện, Hồn nhiên, Dã thú,… những tranh này cách thể hiện hoàn toàn mới lạ, hoàn toàn khác xa với tranh Ấn họa Nhật Bản.

    Mặt khác, một trong các cách làm mới nghệ thuật, các nghệ sĩ phương Tây tthường tìm kiếm những gợi ý từ những nền nghệ thuật của những dân tộc khác, Picasso đã tìm đến nghệ thuật châu Phi, Henri Moore lấy cảm hứng từ tượng đá thời cổ đại Nam Mỹ,… nhưng không thể kết luận là những nền nghệ thuật đó đã sản sinh ra phong cách nghệ thuật của Picasso hay của Henri Moore.

  • Đặng Thơ Thơ viết:

    Tôi có vài điểm không đồng ý với nhận xét của hoạ sĩ Trịnh Cung.
    Các hoạ sĩ trường phái Ấn Tượng (không kể Dã Thú, Biểu Hiện, Hồn Nhiên thuộc Hậu Ấn Tượng) chịu ảnh hưởng nghệ thuật ấn hoạ/mộc bản Nhật Bản khá nhiều, trong đó chắc chắn có Monet, Gaugin, Cassatt, và Van Gogh. Tôi đã xem một cuốn phim tài liệu về triển lãm ở Tate Museum về hoạ sĩ Nhật Hokusai (1760 –1849) và ảnh hưởng của ông trên Monet (1840-1926), trong đó người curator phân tích cách thể hiện ánh sáng trong những bức tranh của Monet và ánh sáng từ loạt tranh 36 cách ngắm Núi Phú Sĩ của Hokusai, và những tương đồng giữa hai hoạ sĩ. Monet đã sưu tập gần 250 tác phẩm mộc bản Nhật, trong đó có hơn 20 bức của Hokusai. Viện bảo tàng dùng những phương tiện kỹ thuật hiện đại để xem lại quá trình Monet vẽ cảnh mặt trời mọc và mặt trời lặn, phân tích các tầng màu sắc để tạo ra hiệu quả ánh sáng giống như trong loạt tranh mộc bản Núi Phú Sĩ. Bức Water Lilies and Japanese Bridge (Hoa Súng và Cầu Nhật) của Monet có bố cục gần hệt bức Under Mannen Bridge at Fukagawa (Dưới Cầu Mannen ở Fukagawa) của Hokesai.
    Tạm dịch lời giới thiệu của Tate Museum: “Việc tái khám phá các hoạ kiểu và mỹ thuật Nhật Bản đã gây ảnh hưởng không kể xiết được (incalculable) lên mỹ thuật Tây Phương. Hội hoạ ấn tượng chịu ảnh hưởng sâu đậm từ mộc bản Nhật về cách thể hiện độ phẳng, ánh sáng, và phong cách, kết hợp với những chủ đề hiện thực. Các hoạ kiểu cũng chịu ảnh hưởng tương tự như đã thấy trong phong trào mỹ học và tân nghệ thuật.” (The rediscovery of Japanese art and design had an almost incalculable effect on Western art. The development of modern painting from impressionism on was profoundly affected by the flatness, brilliant colour, and high degree of stylisation, combined with realist subject matter, of Japanese woodcut prints. Design was similarly affected in as seen in the aesthetic movement and art nouveau.) https://www.tate.org.uk/art/art-terms/j/japonisme

    Để tham khảo thêm, có thể vào những trang mạng sau để đọc và xem những bức hoạ được đưa ra đối chiếu với nhau:
    – Gaugin là người ứng dụng mỹ học tranh mộc bản nhiều nhất vào tác phẩm, dựa theo bố cục, mượn nhiều chủ đề của tranh mộc bản, trong tiểu luận “Japonisme and the Art of Paul Gauguin” của Jingqi Cong: http://www.sylviacong.com/uploads/3/1/6/0/31609481/japonisme_and_the_art_of_paul_gauguin.pdf
    – Ngoài việc vẽ một số tranh hoàn toàn theo phong cách Nhật, Van Gogh là người đã vận dụng bố cục và hình thể của The Great Wave của Hokusai khi vẽ những bức The Starry Night:
    https://www.theartnewspaper.com/blog/was-van-gogh-inspired-by-hokusai-s-great-wave-when-he-painted-his-starry-night
    – Henri de Toulouse-Lautrec (Pháp, 1864–1901) cũng chịu ảnh hưởng của mộc bản trong cách dùng những mảng màu phẳng, nét viền mạnh, các góc xiên, bố cục bị cắt sát và bất cân xứng khi vẽ những tờ quảng cáo (trang mạng Driehaus Museum: http://driehausmuseum.org/blog/view/japonisme)
    – Bố cục phẳng và cách phối cảnh của Mary Cassatt chịu ảnh hưởng rất nhiều của tranh mộc bản: https://mymodernmet.com/japanese-art-impressionism-japonism/2/

  • black raccoon viết:

    The Great Wave off Kanagawa mộc ấn họa của Nhật
    Và The Starry Night sơn dầu của Vincent van Gogh

    Vincent van Gogh chịu ảnh hưởng vài nét ấn họa mộc bản Nhật – Japanese woodblock printing. Chính họa sĩ cũng nhìn nhận điều này. Ông có một bộ sưu tập gồm 660 tấm tranh mộc ấn họa của Nhật. Trong thư ông viết cho Theo:

    “We wouldn’t be able to study Japanese art, it seems to me, without becoming much happier and more cheerful,” wrote van Gogh to his brother, Theo, in 1888.

    “Chúng ta nếu đã không nghiên cứu nghệ thuật Nhật Bản, theo tôi, sẽ không có được niềm vui trong hạnh phúc,” van Gogh đã viết cho người em Theo, năm 1888.”

    Tuy nhiên, thứ so sánh 2 tranh The Great Wave mà nhiều người cho là van Gogh đươc gợi hứng để vẽ nên The Starry Night. Có thể đúng. Nhưng mọi người đã quên chuyện này: Nét cong của Great Wave vẽ sóng nước còn nét cong (hao hao giống nhau) của Starry Night là cuộn mây trời. Từ dưới biển đưa lên trên trời. Khác nhau và cách nhau rất xa. Chuyện này khá quan trọng.

    Bởi vì người Nhật khi vẽ tranh thì ảnh hưởng phong thủy không thể không có. Nói đúng hơn là chịu khái niệm âm dương ngũ hành của Kinh Dịch, Thủy Hỏa Phong Vân. Sóng Xung Lãng của The Great Wave off Kanagawa biểu tượng của sức mạnh dữ dội (powerful and formidable) trở thành cuộn mây đêm Starry Night tĩnh lặng nhưng bồi hồi thao thức.

    Cũng giống như trường hợp cây đàn Guitar Tây Ban Nha biến ra cây Lục Huyền Cầm hay Ghi Ta Phím Lõm của VN. Sự giống nhau hình dạng hiển nhiên bên ngoài không thể nào là sự khác nhau rất xa giữa hai cây đàn trong kỹ thuật và nghệ thuật diễn đạt. Và đó chính là sự sáng tạo trác tuyệt của van Gogh trong hội họa.

    https://hyperallergic.com/470161/the-japanese-prints-that-inspired-vincent-van-gogh/

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)