Trang chính » Biên Khảo, Dịch Thuật, Nghiên Cứu, Sang Việt ngữ Email bài này

Bên cửa sổ nhìn ra thế giới


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 26.11.2010

 

Trích chương 3 (“Chapter 3: First Impressions”) trong cuốn sách của Ted Kooser, The Poetry Home Repair Manual (Cẩm nang hướng dẫn sửa chữa thơ tại nhà) (University of Nebraska Press, 2005); tựa bài do người dịch chọn từ một tiểu mục trong chương.

 

 

Người nói, hay sự hiện diện

Cách mà nhà thơ phô diễn một người nói thường được gọi là giọng. Đó là cái giọng của con người mà chúng ta không chỉ nghe thấy mà còn trực cảm được ở phía sau từ ngữ. Tính tình, cốt cách, óc hài hước, sự khôn ngoan, tính rườm lời, tính cộc lốc—tất cả những điều đó và nhiều cái khác có thể nằm trong giọng, hay trong cái mà tôi muốn gọi là sự hiện diện. Sự hiện diện trong và của bài thơ có tác dụng lớn tới cách mà người đọc cảm nhận. Thí dụ, một sự hiện diện quyến rũ thì dễ lôi cuốn người đọc hơn là một sự hiện diện chế nhạo thính chúng của nó, hay có vẻ tàn nhẫn hay kiêu ngạo hay tự ti.

(…)

Sự hiện diện trong bài thơ có thể là nhà thơ hoặc một người nói mà nhà thơ tạo ra, một cá tính [nguyên văn: persona]. Sự hiện diện là toàn bộ những gì một người đọc nhận thấy từ những điều được viết về người nói của bài thơ, như kinh nghiệm, tư cách, cảm giác, và vị trí xưng hô. Có những bài thơ cho ta biết rất ít về con người đàng sau các từ ngữ, mà thay vào đó tập trung vào những sự việc quan sát được trong thế giới ở bên ngoài điểm nhìn của người nói. Có những bài thơ khác nói rất ít về thế giới và nói rất nhiều về con người được mô tả bằng các từ ngữ.

Sự hiện diện được bộc lộ không chỉ qua điều được nói, tức nội dung, mà còn bởi cách nói, tức phong cách. Vì mỗi bài thơ đều có một sự hiện diện, hãy nghĩ về khái niệm sự hiện diện trong khi bạn đang đọc thơ của người khác. Bạn sẽ học hỏi được một vài điều bổ ích. Và trong khi bạn viết những bài thơ của mình, hãy nghĩ xem mình đang muốn phóng chiếu nên một sự hiện diện loại nào.

 

Bên cửa sổ nhìn ra thế giới

Đây là một cách nghĩ về mức độ hiện diện của chính bạn trong một bài thơ: Chúng tôi biết nhiều tới mức nào về bạn, hay người nói xưng tôi?

Trong khi chọn từ ngữ, cứ coi như bạn đang đứng bên cửa sổ nhìn ra thế giới. Nếu ánh sáng rơi xuống những gì ở bên ngoài là rất chói chang, bạn nhìn thấy cảnh vật trong màu sắc sống động, và chỉ có ảnh phản chiếu hết sức mờ nhạt của chính bạn trên kính. Nếu ánh sáng bên ngoài cửa sổ yếu ớt, như vào buổi chiều tối, ảnh phản chiếu của người nói trên kính sẽ nổi bật hơn nhiều. Người nói ghi nhận cả ảnh phản chiếu của hắn ta và cảnh vật bên ngoài. Và nếu bên ngoài trời tối, đủ tối để biến cửa sổ thành một tấm gương, người nói, hay sự hiện diện, hầu như không trông thấy gì ngoài ảnh phản chiếu của chính mình. Trong một bài thơ như vậy, sự hiện diện nổi bật và vượt lên mọi thứ bên ngoài.

Bài thơ là bản ghi chép của khoảnh khắc ở bên cái cửa sổ đó, nhưng đây là lúc mà tác giả—chứ không phải thời gian hay thời tiết—có quyền kiểm soát lượng ánh sáng bên ngoài. Đây là lúc mà bạn điều khiển mặt trời. Nếu bạn muốn viết một bài thơ về mình, bạn vặn ánh sáng bên ngoài xuống và nhờ đó làm ảnh phản chiếu của bạn trên kính sáng hơn. Nếu bạn không muốn xuất hiện thật nổi trội trong trong bài thơ, bạn rọi sáng thêm thế giới bên ngoài cho tới khi ảnh phản chiếu của bạn gần như biến mất. Nhưng luôn luôn có cái hình ảnh đôi, tạo ra bởi ảnh phản chiếu của nhà thơ trên kính—có thể sống động, có thể mờ nhạt, có thể đâu đó lưng chừng—cũng như là những sự vật ở thế giới bên ngoài, cũng có thể sống động hoặc mờ nhạt tới mức độ nào đó.

Mặc dầu tôi có nói trước đây là tôi muốn dùng thơ đương đại làm thí dụ, bài thơ sau đây của Emily Dickinson (1830-1886, nd.) là một thí dụ hữu ích. Đây là một tác phẩm trong đó ảnh phản chiếu của nhà thơ trên kính sống động, và thế giới khách quan bên ngoài được làm tối lại:

 

          Hôm nay tôi chỉ có bây nhiêu để mang tới—
          Cái này đây, và cả trái tim tôi nữa—
          Cái này đây, và trái tim tôi, và tất cả những cánh đồng—
          Và tất cả những đồng cỏ mênh mông—
          Anh nhớ hãy đếm—nếu tôi quên
          Một cái gì mà tổng số có thể cho biết—
          Cái này đây, và trái tim tôi, và tất cả bầy Ong
          Bầy ong chúng sống trong đám Cỏ ba lá.

 

Không có gì trong bài thơ này cho thấy nhà thơ đang nhìn ra bên ngoài chính mình. Bà đang nhìn vào ảnh phản chiếu của mình. Đồng ý là có những chỗ nói về những cánh đồng và đồng cỏ, nhưng chúng ta biết bà không thực sự nhìn ngắm những cái đó. Bài thơ hoàn toàn nằm trong đầu bà.

Còn đây là một bài thơ của Brewster Ghiselin, viết ra giữa thế kỷ hai mươi. Trong bài thơ này ánh sáng chói lọi bên ngoài cửa sổ, và ảnh phản chiếu của nhà thơ chỉ giới hạn trong việc dùng rải rác đại từ tôi.

 

          Rắn chuông

          Tôi tìm thấy nó ngủ trong cái nóng
          Và bụi đất của một hang chuột,
          Cuộn những nếp rời trên thinh lặng
          Trong hốc lõm sườn đồi ban trưa.
          Tôi thấy chỗ phình lên ngang ngạnh
          Của cái đầu cứng như một quả đấm.
          Tôi nhớ những cử động vi tế của nó:
          Cái miệng là miệng mèo ngáp.
          Tôi dập nó lún vào đất,
          Và nghe tiếng sôi réo rền của sự sống
          Trong những hạt xâu chết của chiếc đuôi
          Tản đi, như cơn gió tản
          Khỏi từng hạt đất hoang sơ của đồi.

 

Các nhà thơ thường khá nhất quán trong lượng ánh sáng mà họ đặt lên thế giới bên ngoài tấm kính, từ bài thơ này sang bài thơ khác. Có những nhà thơ như Ghiselin, mà trứ tác trọn đời cho chúng ta thế giới bên ngoài với sự sống động đến mức chúng ta hầu như chẳng thấy ảnh phản chiếu của ông đâu, và những nhà thơ như Dickinson, làm tối thế giới lại đủ để giữ ảnh phản chiếu của bà lúc nào cũng ở trước mặt chúng ta. Đôi khi có nhà thơ dần dần thay đổi trong suốt một đời viết dài, đi từ chiếu rọi một ánh sáng chói chang lên thế giới bên ngoài sang ngày càng phô diễn nhiều hơn các cá tính của họ. Tôi cũng từng làm như vậy. Hoặc họ có thể đi theo hướng ngược lại, bắt đầu đời viết với những bài thơ về chính mình nhưng dần dần trở nên sốt sắng hơn cho việc vẽ chân dung thế giới bên ngoài.

Bất kể nhà thơ thiết lập hình ảnh đôi như thế nào, bài thơ chung cuộc phải lôi cuốn người đọc không thì nó thất bại. Với bài thơ của Dickinson, giọng mà chúng ta nghe được khi đọc các từ ngữ—cá tính, sự hóm hỉnh, nét quyến rũ của nó—là sức mạnh chính để lôi cuốn. Với một bài thơ như bài của Ghiselin, chúng ta bị lôi cuốn bởi bức tranh sống động mà Ghiselin khơi gợi nên qua việc dùng hình ảnh. Người đọc cũng có thể được lôi cuốn bởi âm nhạc của một bài thơ, những nhịp điệu, những kết hợp âm thanh, cảm giác trong cổ họng khi họ đọc lên các từ. Không có gì sai trái với chuyện một nhà thơ vui đùa.

Những bài thơ thành công thường lợi dụng nhiều phương án, trộn lẫn sự bộc lộ bản thân như trong bài của Dickinson với sự quan sát khách quan như trong bài của Ghiselin.

 

Nguồn các bài thơ theo phụ lục của tác giả:

“It’s all I have to bring today” của Emily Dickinson trong The Complete Poems of Emily Dickinson (Boston: Little, Brown & Co., 1960)

“Rattlesnake” của Brewster Ghiselin trong Windrose: Poems, 1929-1979 (Salt Lake City: University of Utah Press, 1980)

 

 

 

.

bài đã đăng của Ted Kooser


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)