Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Chiếc bè


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 5.11.2010

Hoàng Chính chuyển ngữ từ nguyên bản “The Raft
Nguồn: The Best American Short Stories 2001

 

Peter Orner sinh năm 1968 tại Chicago, là tác giả tập truyện ngắn Esther Stories (2001) và tiểu thuyết The Second Coming of Mavala Shikongo (2006). Truyện ngắn “The Raft” xuất hiện lần đầu trên nguyệt san Atlantic Monthly và đã được chuyển thể thành phim cùng tựa (2010).

 

 

WorldWarIIwarship

 

Ông tôi bị chứng hay quên những chuyện mới xảy ra từ những năm dưới nhiệm kỳ đầu của Eisenhower, giờ gọi tôi vào phòng làm việc của ông vì một lần nữa ông  muốn kể cho tôi nghe câu chuyện trước đây ông chưa hề kể cho ai. Ngồi trước bàn trang điểm, với tấm gương hình bầu dục viền quanh bằng những bóng đèn mà dạo trước tôi vẫn thích gỡ ra chơi, bà tôi hét, “Trời ạ, Seymour. Mình có hẹn với nhà Dewoskins ở Twin Orchards lúc bảy giờ ba mươi. Ông lại đi Nam Thái Bình Dương nữa đấy à?”

Ông tôi đóng sập cửa lại và ra dấu cho tôi đến chiếc ghế trước bàn làm việc của ông. Còn hai tuần nữa là tôi tròn mười ba tuổi. “Có điều này ông muốn nói với cháu đây,” ông tôi nói. “Điều mà ông chưa bao giờ nói với ai. Cháu có nghĩ là cháu đã sẵn sàng để nghe chưa? Cháu có nghĩ là cháu đủ bản lãnh không?”

“Cháu nghĩ là đủ.”

“Nghĩ là đủ?”

“Thưa ông cháu biết chắc điều đó. Cháu biết cháu đủ bản lãnh.”

Ông tôi ngồi xuống bàn làm việc và mở một bao thư bằng cái đồ mở có hình dạng thanh gươm vàng thu nhỏ. “Vậy là cháu muốn biết phải không?”

“Cháu muốn lắm.”

“Được rồi, thủy thủ, đứng nghiêm coi.”

Phòng làm việc của ông tôi được lót bằng thảm dầy mầu trắng, êm như len dưới bàn chân trần. Tôi xoáy những ngón chân mình lên nó. Trong phòng cũng có nhiều cây xương rồng. Ông tôi vẫn khuyến khích tôi chạm vào gai của chúng để thử xem một loài cây có thể già gân đến mức nào. Ông tôi là Hạm Trưởng một khu trục hạm trong Đệ nhị Thế chiến.

“Lúc đó đã muộn,” ông nói. “Có người gõ cửa phòng chỉ huy. Ông bật dậy. Dạo đó đi ngủ ông cũng mặc quân phục – đi luôn cả giầy.” Ông tôi mỉm cười. Khuôn mặt của ông tôi thật tròn, tới mức khóe cười của ông trông giống vết nứt trên mặt trái banh dã cầu. Tôi cũng mỉm cười đáp lại.

“Đừng cười,” ông nói. “Chỉ vì ông cười, đừng vội tin rằng ông không thể giết cháu ngay lúc này. Hãy nhớ điều đó về con người.”

“Ô, Seymour, Trời ạ,” bà tôi phản đối từ sau cánh cửa. “Hình như nó phải đi trại hè mà. Gọi cho mẹ nó đi.”

Ông nhìn thẳng vào tôi và gắt với bà, “Hải Quân Thiếu Úy! Bà nói thêm một tiếng nữa là tôi sẽ ra lệnh quăng bà vào phòng giam, và bà sẽ không thấy Beanie Dewoskin cho tới ngày chiến thắng quân Phát Xít Nhật nghe không.”

“Thôi, tôi đi pha cà phê đây,” bà tôi nói.

“Lúc đó đã muộn,” tôi nhắc. “Có người gõ cửa…”

“Gõ hai cái,” ông tôi kể. “Và khi nó đưa tay để sắp gõ cái thứ ba thì ông mở cửa. ‘Thưa Hạm Trưởng, có báo cáo từ đài kiểm soát. Thưa Hạm trưởng, có một chiếc thuyền, ba dặm về phía Bắc. Rất nhỏ, thưa Hạm Trưởng. Có thể là thuyền của địch quân, thưa Hạm Trưởng; nhưng cũng có thể là không phải vậy, thưa Hạm Trưởng. Khó biết được, thưa Hạm Trưởng.’ Ông bảo thằng nhỏ câm miệng lại. Nhiều đứa đưa tin không biết lúc nào nên ngậm miệng lại để người ta còn có dịp suy tính. Tụi nó nghĩ  nếu mình không nói gì có nghĩa là  mình vẫn muốn nghe nó nói. Đâu có phải như vậy. Ông bước lên cầu tầu. ‘Chờ đã,’ ông nói với bọn thủy thủ. ‘Chờ đến khi thấy rõ đã. Và chuẩn bị thủy lôi.’ Ông ra lệnh cho đám thủy thủ như vậy, thì cứ đại khái vậy, ông không còn nhớ rõ từ ngữ quân sự.”

“Thủy lôi à?” Tôi hỏi.

“Ừ, thủy lôi,” ông tôi trả lời, “Ông không thấy rõ, nhưng rất khó có thể là tầu bạn. Cháu hiểu ông muốn nói gì không?”

“Dạ, hiểu.”

“Không, mày không hiểu đâu, thủy thủ ạ.”

“Vâng, cháu không hiểu,” tôi nói. “Không hiểu chút nào hết.”

“Chiến hạm của ông đã được cảnh báo trong một thông tư từ Đô Đốc là phải chuẩn bị đương đầu với những hải đội Quyết Tử Thần Phong. Cháu có biết tí gì về hải đội Quyết Tử Thần Phong không?”

“Đại khái là,” tôi nói. “Nó tấn công vào hông tầu của mình và… tiêu tùng.”

“Mày giỡn chơi với ông đấy hở? Cháu tưởng ông nói đùa chứ không phải đang nói chuyện sống chết đấy à?”

“Ô, cháu xin lỗi.”

“Thế nên ông chờ. Phải mất nửa tiếng mở thêm động cơ phụ, tàu ông mới chạy cách cái đó khoảng một phần tư dặm – rồi ông mới quan sát.”

Ông tôi ngừng lại rồi mở ngăn bàn phía bên phải nơi ông cất một khẩu súng lục đã gài khóa an toàn và một chồng truyện tranh dâm thư. Đó là những cuốn sách khác thường. Những người đàn ông trong tranh hí họa có dương vật dài đội mũ và lông rậm mọc hai bên, tôi thấy chẳng khác gì những trái dưa leo muối, đuổi theo những phụ nữ váy tốc ngược lên đầu và hai mông xâm đầy những chữ như “Chú Sam là bố của tôi” và “tôi không bao giờ hôn một tên Phát xít Đức”. Ông tôi đóng sập ngăn tủ lại và đặt hai bàn tay trước mặt, những ngón cái xoay vòng quanh nhau như thể ông đang sắp cầu nguyện hoặc sắp chơi kéo co ngón cái.

“Bọn Nhật,” ông nói. “Bọn Nhật trần truồng trên một chiếc bè. Một chiếc bè đầy những thủy thủ Nhật trần truồng. Ngày nay bọn trí thức rởm đời sẽ gọi đó là dân tị nạn chiến tranh, còn hồi đó mình chỉ gọi chúng là Bọn Nhật. Xem chừng bọn chúng đã lênh đênh trên biển nhiều ngày rồi. Bọn chúng xoay lưng về phía ánh nắng thành ra mình chỉ thấy mấy cái lưng xương nghênh chiến với da và xương đang có bề thắng thế.”

Tôi bước lùi lại. Muốn ngồi xuống nhưng rồi tôi không ngồi. Ông tôi đứng nghiêng người ra phía trước mặt bàn, chăm chú nhìn vào mặt tôi. Ông chỉ ra phía cửa, thì thào, “Bà mày không biết.” Rồi ông viết ngoằn ngoèo bằng chữ in trên xấp giấy nhắn điện thoại “BẮN CHO TÀU NỔ TAN TÀNH.” Ông thì thào, “Ông ra lệnh như thế.”

Ông tôI đi vòng quanh bàn và ra dấu cho tôi đi về phía kho đựng quần áo, “Mình nói chuyện trong đó,” ông nói và tôi đi theo ông vào căn phòng dùng làm kho chứa đầy áo quần của ông. Ông tôi đã dời tất cả áo quần ra khỏi cái tủ quần áo chật như nêm của bà tôi từ lâu lắm rồi. Ông cứ để đèn tắt. Qua kẽ hở của nắng bên dưới  khung cửa, tôi có thể thấy đôi giầy và vớ trắng của ông. Ông tôi mặc quần soọc. Mới vừa đây ông tập cú đánh gôn trên đường ôtô trong sân nhà.

“Cho phép nghỉ, thủy thủ,” ông tôi nói. Tôi quỳ xuống giữa những bộ đồ vét, giữa những cà vạt và dây thắt lưng treo lủng lẳng. Và tôi nhận ra rằng không phải điều mình đã nghe câu chuyện đó bao nhiêu lần mà là nghe ở đâu mới hệ trọng. Trước đây tôi đã nghe chuyện ông kể, nhưng đây là lần đầu tiên tôi được nghe nó trong kho quần áo, một mình với ông tôi.

“Tại sao?” Tôi nói. “Tại sao, nếu như ông đã biết đó không phải…”

“Tại sao?” ông tôi nói, không phải là lập lại câu hỏi của tôi mà như thể ông tôi thực sự không biết tại sao. Ông thở dài. Rồi, lại thì thầm dù chúng tôi đã ở tịt trong kho chứa quần áo, ông tôi bảo, “Có kẻ sẽ nói dối với cháu, họ sẽ đổ thừa cho chiến tranh. Ông không nói dối cháu. Chẳng ăn nhằm gì tới chiến tranh hết mà chỉ liên hệ tới bộ quân phục ông mặc trên người. Ông là người giữ vai trò quyết định. Ngoài ra ông sẽ phải làm cái quái gì đây với một chiếc bè đầy lính Nhật trần trụi? Đang có chiến tranh mà.”

“Nhưng ông vừa mới nói…”

“Nghe đây, ông làm cái việc ông phải làm. Chỉ vì những người như ông làm cho thế giới này an toàn hơn cho những người như bố mày đóng vai những thằng hèn không có nghĩa là chúng bay không bao giờ cho nổ tung bất kỳ đám thường dân nào. Bởi vì chúng bay sẽ làm. Mỗi tuần ông làm việc ấy một lần ở ngân hàng.” Ông đặt một bàn tay sần sùi, mạnh bạo lên vai tôi. “Comprende?”

“Không bao giờ,” tôi thở.

“Tốt,” ông nói, và chúng tôi đứng trong bóng tối nhìn nhau để thấy rằng câu chuyện giống hệt – nhưng lại khác – lần trước, ngoại trừ lần này nước mắt ông tôi chẩy xuống thật nhanh trông như cụm bọt sà bông. Ông hỉ mũi vào tay. Tôi vói tay đưa cho ông tay chiếc áo vét của ông treo cạnh đó. “Ông đi ra đây,” ông tôi nói, và bỏ tôi lại trong cái tòa giải tội ấy, khép cửa, bước ra ngoài.

Tôi không hình dung điều gì cả, ngay lúc một bàn tay như con cá đang níu lấy cổ chân tôi. Một cánh cửa khác mở ra. “Seymour? Seymour?” bà tôi nói. “Thằng bé đâu rồi?”

 

 

 

.

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)