Trang chính » Biên Khảo, Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 30, Email bài này

Cánh phượng hoàng văn học xứ Quảng đã ra đi…

0 bình luận ♦ 15.07.2007

 

Nhà văn Nguyễn văn Xuân – tác giả của các tác phẩm nổi tiếng quen thuộc: Phong trào Duy Tân, Bão rừng, Dịch cát, Hương máu… đã qua đời vào 21 giờ 20 phút đêm 4-7 vừa qua.

Sinh thời, mỗi người có một cách nhìn khác nhau về ông: nhà văn, học giả, người làm báo, người thầy… Với tôi, ông chính hiệu là một người Quảng Nam tinh tế, đa tài, đa tật, đa mang… và trải chịu những trang đời bi kịch chẳng kém gì những trang sách ông đã viết ra.

Dù biết trước sớm muộn điều này cũng xảy ra, thế nhưng, khi nghe tin nhà văn Nguyễn văn Xuân qua đời, tôi cũng hết sức đột ngột và bùi ngùi. Bởi ông ra đi quá vội vàng. Mấy năm qua, cầm cự, chống chõi với bệnh tật, mỗi lần có những việc khó khăn, ông thường nhắn gởi chúng tôi- dăm ba đứa – vốn vừa là học trò, vừa là thân hữu để thăm hỏi, nhờ đở dăm việc, hoặc để trò chuyện vu vơ. Lần này, người nhà ông cho biết, ông chỉ hơi mệt vài buổi, rồi đi luôn…nên chẳng kịp gọi ai.

Còn nhớ, hồi những ngày cận Tết, như dự cảm được điều chẳng lành đang đến gần với nhà văn Nguyễn văn Xuân, anh em báo chí thân quen cứ nhắc nhỡ giục tôi: “Tết này, phải có một bài viết nào đó thật đầy đủ về thầy Xuân. Ông gắng đến gặp thầy, hỏi thêm được gì thì hỏi. Bới có khi chẳng còn dịp để hỏi…” May nhờ vậy, tôi có được chút kỷ niệm cuối cùng với ông.

Lúc này, gặp ông, dù sức khoẻ đã có phần suy giảm so với thường lệ, nhưng nhà văn Nguyễn văn Xuân vẫn giữ nguyên câu hỏi mở đầu hóm hỉnh :

– Lâu ni ra răng ? Có chi vui không ?

Cái “vui” của ông thường bao hàm mọi ý nghĩa thông tin về đời sống, nhưng thường với chúng tôi, ai cũng hiểu : ông muốn hỏi han, chia sẻ cái không khí rộn ràng của công việc báo chí. Bởi, giờ đây, dù không viết được nhiều, nhưng hằng năm, ông vẫn “góp mặt” rất đều trên các tờ báo Tết ( khoảng 30 năm nay. ông vẫn là lao động chính của gia đình, gồm hầu hết vợ con đều bênh tật).

Nhà văn Nguyễn Văn Xuân sinh năm Tân Dậu (1912) tại làng Thanh Chiêm, xã Điện Phương, Điện Bàn, Quảng Nam. Ông có truyện ngắn đầu tay từ năm 17 tuổi, tựa đề “Bóng tối và ánh sáng” được gởi tham gia một cuộc thi do tạp chí Thế Giới (Hà Nội ) tổ chức, nhưng một thời gian sau truyện này lại được Tạp chí Báo Mới (Sài Gòn ) công bố đoạt giải nhất ( không có tên tác giả ). Nhắc lại câu chuyện cũ, ông nói rằng, hồi ấy, khi tìm hiểu, ông mới biết, hoá ra, tạp chí Thế giới đã giải thể và bỏ mất luôn tên và địa chỉ tác giả dự thi kèm theo, song người chủ trương Thế Giới (nhóm Trần đình Tri ) chuyển sang lập tờ Báo Mới và tiếp nối cuộc thi nơi đây (khoảng năm 1939 ).Ông nói, điều này cũng là một trong những động lực đầu tiên làm ông phấn khích quyết tâm theo đuổi văn nghiệp.

Thời điểm từ 1942-1945, ông cộng tác với Tạp chí Tiểu thuyết Thứ Bảy ( Hà Nội ) để lại những truyện ngắn đáng nhớ như : Ngày giỗ cha (1943), Ngày cuối năm trên đảo (1945)…Từ 1945-1954, ông chú trọng nhiều hơn đến hoạt động kịch nghệ và tham gia vào phong trào cách mạng. Là Uỷ viên kịch nghệ của Hội văn nghệ Quảng Nam, Liên khu V. Chính những ngày tháng sôi động trong giai đoạn này đã để lại cho ông những ảnh hưởng lớn cho các công trình biên khảo, sáng tác về sau. Điển hình là tiểu thuyết Bão rừng của ông đã ra đời trong thời điểm ông bị bắt giam tại lao Thừa Phủ Huế (1955) – một câu chuyện ghi chép về cảnh đời những người lao động ở đồn điền Tây nguyên của thực dân Pháp mà ông đã thai nghén trong suốt nhiều năm. Từ 1956 vềø sau, ông vừa dạy học vừa tiếp tục sáng tác, nghiên cứu. Trong đó, những tác phẩm văn học của ông được nhiều người nhớ như: Dịch cát (1966), Hương máu (1969 ), và đặc biệt, các công trình biên khảo của ông đưa ra một cái nhìn mới mẻ độc đáo trong lĩnh vực này như: Khi những lưu dân trở lại (1967), Phong trào Duy Tân (1969), Chinh phụ Ngâm diễn âm Tân khúc (1971). Vài năm gần đây, tên tuổi nhà văn Nguyễn Văn Xuân lại được bàn luận, nhắc đến với tác phẩm mới nhất của ông: Kỳ nữ họ Tống.

Lần cuối gặp ông, dù vẫn còn minh mẫn, nhưng nhà văn Nguyễn văn Xuân không thể nhắc lại những mạch hồi ức dài như xưa. Tôi hỏi ông từng câu ngắn:

– Như vậy, trong số tác phẩm đã viết, thầy tâm đắc tiểu thuyết nào nhất?

Ông trả lời theo cái kiểu rất Quảng Nam :

– Ông cho là ( tôi thích ) quyển nào?

– Nếu không phải Bão rừng thì chắc là nàng Tống Thị…?

Ông nói không lưỡng lự :

– Tôi thích Kỳ nữ họ Tống, chứ không phải Bão rừng.

– Còn về biên khảo ?

– Ông nghĩ sao?

– Giới văn nghệ, báo chí thường nhắc về Khi những lưu dân trở lại…

– Tôi cũng thích cuốn này hơn.

Có thể nói, về số lượng, tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân không nhiều lắm, nhưng hầu như mỗi tựa sách của ông đều là một công trình đặc sắc, ấn tượng. Những sáng tác văn học của ông luôn làm gợi nhớ đến con người, tập quán, thiên nhiên của vùng đất Quảng Nam mà ông vô cùng tâm huyết. Các công trình biên khảo như Khi những lưu dân trở lại, Phong trào Duy Tân được thực hiện hết sức công phu, sáng tạo, làm sống lại những giai đoạn lịch sử đất nước của Quảng Nam và cả nước, cũng như sự dịch chuyển, tiếp biến, tác động qua các vùng miền trong mọi lĩnh vực xã hội.

Tuy nhiên, theo ông, trường hợp ra đời của cuốn biên khảo Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc lại để cho ông nhiều kỷ niệm nhất. Lần đầu tiên, ông đã phát hiện trong đống sách của một gia đình nghèo, có xuất xứ từ gia đình bà Chúa Nhất, dòng vua Thành Thái; lẫn trong các sách chữ Nôm có cuốn Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc, có tựa của nhà xuất bản (Gia Long thứ 14,1815), nguyên tự (tựa) của dịch giả. Ông cho rằng cuốn sách này là một thực tế độc lập mà cũng là một bổ sung cho cuốn Chinh phụ ngâm bị khảo của học giả Hoàng Xuân Hãn ( Minh Tân, Paris, 1953 )- là một kỳ thư về ngành nghiên cứu văn học theo văn bản học. Và ông đã xác quyết dịch giả đích thực là Phan Huy Ích và tên tác phẩm là Chinh phụ diễn âm tân khúc chứ không phải là Chinh phụ ngâm… Điều này đã gây ra sự tranh cải không ít trên văn đàn miền Nam, thời trước 1975.

Với Kỳ nữ họ Tống – một đề tài được ông ấp ủ, xây dựng khá lâu, dựa theo câu chuyện về một người đàn bà có thật trong lịch sử xứ Đàng Trong, đã một thời làm đảo điên cả triều đại chúa Nguyễn, suýt xoá bỏ cả tên triều đại này trong lịch sử Việt Nam ngay những thập niên đầu của thế kỷ 17. Hiếm thấy người đàn bà nào lại có cuộc đời sóng gió, ghi dấu ấn sâu sắc, rùng rợn, tác dụng mãnh liệt đến xã hội, chính trị, quân sự, đạo đức như vậy. Bà Chúa Chè làm điên đảo cơ nghiệp Trịnh Sâm ghê gớm là thế, cũng chỉ là bóng mờ bên cạnh Tống Thị. Đặng Thị Huệ chỉ tác động được chúa Trịnh bỏ trưởng lập thứ. Còn Tống Thị thì thật sự chủ động, ích cực trong việc hại dân, tích luỹ thành phú gia địch quốc, thay ngôi chúa bằng những hành động táo bạo. Cả Chúa Nguyễn ( Phước Lan rồi Phước Tần ), Chúa Trịnh ( Trịnh Tráng ) đều bị lung lạc cho vào bẫy và Dũng Quận Công người kiêu hùng nhất của triều chúa Nguyễn, trong đánh bại quân Trịnh, ngoài tiêu diệt hạm đội Hà Lan, mở đường khai thác Nam bộ oanh liệt một thời cũng suýt bị bà lật đổ.

Bằng một giọng văn hấp dẫn mạch lạc, trong tác phẩm này, ông đã phác hoạ cho người đọc trở lại một bối cảnh xa xôi của Hội An, Non Nước, Quảng Nam…thật sống động và gần gũi. Thường khi mỗi lần gặp gỡ thân hữu ở các buổi rượu trà, đàn đúm, câu chuyện của nhà văn Nguyễn Văn Xuân đều luôn xen vào những câu thơ giục giã của Xuân Diệu : “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ!/ Em ơi em, tình non sắp già rồi“. Ông cho rằng, những câu thơ này không chỉ có ý nghĩa suông nói về tình yêu, mà nó phản ảnh lên một sự nôn nóng đổi mới, cách tân đất nước từ trào lưu thơ mới, nên nó vẫn luôn có giá trị bất cứ lúc nào. Ông cũng có lối đọc thơ song ngữ Pháp – Việt hết sức độc đáo, cuốn hút những bài thơ trữ tình của Verlaine, Apolinaire…Chẳng hạn một đoạn trong Le Pont Mirabeau ( Cầu Mirabeau ) của Apolinaire : Passent les jours et passent les semaines/ Những ngày tháng trôi qua những tuần lễ trôi qua. Ni temps passé/ Quá khứ cứ trôi xa. Ni les amours reviennent/ Chẳng tình yêu nào trở lại. Sous le pont Mirabeau coule la Seine/ Dưới chân cầu sông Seine, dòng nước cứ mãi trôi… ( đọc đến đâu dịch đến đó, cách dịch sát nghĩa , nhưng lại rất tạo nên xúc động ). Nhưng giờ đây, ông không đủ sức để hăm hở như vậy. Tôi hỏi :

– Ngoài những bài thơ thường đọc, thầy thích đọc tác phẩm văn học những ai?

– Thì cũng là các những nhà văn Pháp chúng ta thường biết…

– Còn tác giả trong nước ?

– Là Thạch Lam của Tự lực văn đoàn. Ông này có nhiều truyện ngắn hay, văn dễ thương.

– Hồi trước, với những bạn văn cùng thời, thầy thường chơi thân và có kỷ niệm với ai nhất?

– Chắc là Lưu Trọng Lư…

– Thầy còn nhớ kỷ niệm nào đặc biệt không ?

– Chỉ là la cà với nhau. Tôi thích chơi với Lưu Trọng Lư lắm!

Mấy năm qua, như một thông lệ, vào chiều tối 30 Tết, cùng với những nhóm thân hữu đến thăm nhà văn Nguyễn văn Xuân, ít nhiều, luôn có sự hiện diện của một vị lãnh đạo địa phương như là cách bày tỏ sự tri ân đặc biệt đối với một cây đại thụ văn học còn lại hiếm hoi của đất Quảng. Chợt nhớ đến điều này, tôi hỏi ông :

– Mai này thầy có đề nghị nào với chính quyền địa phương dành cho mình không? Chẳng hạn, việc ấn hành các tác phẩm, hoặc là một vấn đề nào đó…?

Lần này, ông không trả lời theo cách hỏi ngược, mà nói rất nhanh:

– Không.

Đâu ai biết đuợc, tiếng “không” ấy chính là âm thanh từ biệt cuối cùng của cánh phượng hoàng văn học đất Quảng, trước khi rơi vào vực thẳm im lặng vĩnh hằng… ./.

Trần Trung Sáng

bài đã đăng của Nhã Ca


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)