Trang chính » Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 29, Sáng Tác, Trích đoạn tiểu thuyết Email bài này

Một Mảnh “Đường Tự Do, Saigon”

0 bình luận ♦ 30.06.2007

 

Một Mảnh “Đường Tự Do, Saigon”


Thay lời vào truyện

 

Một đầu, dòng sông Saigon lấp lánh. Một đầu khác, tượng bà mẹ trắng toát trước Vương Cung Thánh Đường. Lòng đường hẹp mà vỉa hè rộng. Con đường ấy, một thời, ngắn ngủi thôi, mang tên là Tự Do.

Tên cũ của nó, thời Pháp: Catinat.

Tên mới, thời Cộng sản: Đồng Khởi.

Không biết đã hoặc sẽ còn những tên nào nữa.

Với tôi, mãi mãi, con đường ấy mang tên là Tự Do.

Chính từ con đường này, tôi đã cùng bạn hữu lang thang thời tuổi trẻ ngông cuồng, đã cùng con cái cố thủ những năm bị tù đầy, săn đuổi, trù dập. Đó cũng là nơi tôi được nhìn lần sau cùng bà con thành phố quê hương trước khi phải sống đời lưu vong. Ân nghĩa con đường ấy cho tôi không cách gì kể hết. Nó nhất định mãi mãi phải là đường Tự Do.

Đủ loại gót giầy, từ Nam chí Bắc, từ năm châu bốn biển, đã nện trên vỉa hè Tự Do. Không chỉ giầy dép. Thằng Bò, một em bé ăn mày, bằng cả bốn chân tay teo tóp đã bò lê trên vỉa hè ấy.

Không chỉ riêng em đâu, thằng Bò tội nghiệp, chính tôi, bằng tâm hồn teo tóp của mình, từ hơn mười năm nay, dù cách một đại dương, vẫn không ngừng lê la trên những vỉa hè cũ.

Từ một mảnh đêm xưa…

*

Hôm nay ban nhạc quán Hương Lan chơi sớm. Mới ba giờ mà khách đã chiếm gần hết những bàn sát ngoài, chỗ đắc địa để có thể nhìn ra đường.

 

Những món ăn như thịt bò lúc lắc, cua rang muối, ếch chiên bơ, thơm lừng mùi tỏi, làm mồi đưa bia, và cũng làm bọn ăn xin lấp ló ở bên ngoài, hoặc tì mũi vô cửa kính nhìn chăm bẳm. Bảo vệ làm việc hăng lắm, thỉnh thoảng cũng có đứa chạy vù vào, đổ vội vàng thức ăn thừa mứa vô cái lon rồi chạy vù ra. Nhanh vậy mà đôi khi còn bị xách cổ ném ra ngoài, cả người và lon thức ăn đổ lai láng.

 

Ban nhạc chỉ có hai người, một cô gái nhỏ nhắn, đầu tóc xù như con chó bông, khá xinh kéo đàn violon và anh nhạc sĩ người thấp thấp, nổi tiếng ngón đàn ngọt, ngồi khuất sau cây đàn piano. Họ như đàn tập với nhau, không hề lý gì tới đám khách đang nhậu nhẹt ồn ào. Mỗi buổi, bài bản đã được trình duyệt, nên bên đàn bên kéo như thói quen, từ bản đầu cho tới khi dứt.

 

Lúc đầu, nhà hàng được giấy phép chơi nhạc thì những bản được duyệt là nhạc Cách Mạng, như Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây, Tiếng Chày Trên Sóc Băm-Bo, Dáng Đứng Bến Tre v..v… Hai nhạc sĩ bị buộc phải tập dượt đi tập dượt lại mấy bài nhạc cách mạng. Cứ vậy cho vừa lòng đám khách chủ lực là bọn cán bộ mới ăn lên làm ra, vô đây đãi đằng, móc ngoặc.

 

Kéo qua kéo lại cò cưa như kèn đám ma để so lại dây đàn, cô nhạc sĩ hỏi anh nhạc sĩ:

“Bắt đầu được chưa?”

Anh nhạc sĩ gật đầu, dạo đàn trước rồi tiếng violon mới ăn khớp sau. Ở bàn gần họ nhất có bốn anh mà hết ba anh quần ka ki, áo sơ mi trắng cánh tay, có túi “dết” bên cạnh. Cả ba cùng khe khẽ đánh nhịp và hát theo bản “Tiếng Chày Trên Sóc Băm-Bo”. Bài chưa dứt, một anh giọng oang lên:

 

“Hay. Đàn thế mới là đàn chứ. Tiếp đi. Tiếp bản gì đó, bản gì mà Em đái bên gốc dừa…”

 

Có vậy mà cười đến bắn cả thức ăn đang nhai ở trong mồm ra, rồi còn gõ muỗng vào ly kêu lanh canh nữa. Cả bốn ông đều đã ngà ngà say, vỏ chai bia bày gần kín mặt bàn.

 

“Hiện đại, hiện đại thật. Ở ngoài ta…”

“Cho chơi bài Hà nội Thủ đô ta đi…Hà nội…”

 

Chưa tới thời điểm được chơi nhạc theo yêu cầu mà, cho nên hai nhạc sĩ cứ đàn theo thứ tự. Không đùa được đâu, trong đám bồi bàn bưng dọn kia, đâu biết anh nào là chỉ điểm, anh nào là phục vụ viên…

 

Sàigòn gần như cháy thành than sau mấy trận hỏa hoạn “năm quản” rồi “đánh tư sản mại bản”. Cũng may, còn mỗi con đường Tự Do cũ này, như cái nơ buộc vào sợi dây xích chó. Nhà hàng ăn quốc doanh Hương Lan là cửa hàng đầu tiên có nhạc sống.

 

“Chơi nhạc Tây đi. Nhạc Tây đi”

 

Vẫn ba anh cán hay la lối yêu cầu. Thêm đồ nhậu, thêm bia, có vẻ họ còn ngồi dính cứng ở đây cho đến đêm. Nhưng vẫn chưa nhạc Tây, thường thường, phải chờ khi đường phố lên đèn, ban nhạc mới thay đổi bản. Nãy giờ, nội một bài “Giải phóng quân” đã chơi tới lần thứ ba theo tua rồi…

 

Cánh cửa kính được xô ra, anh bảo vệ lùi lại, nép sang một bên. Khách mới vô là một cô gái. Coi cách ăn mặc bất cần đời quá. Áo sơ mi màu cháo lòng cũ, khuya cài không đúng hàng, xốc xếch, quần jean bạc, mòn đít, cô ta một mình chiếm một bàn trong góc. Đó là Nhung Xì Ke.

 

Thằng Lai cũng có mặt tức thì, ngang nhiên đẩy cửa. Anh bảo vệ còn làm màu:

 

“Vô làm gì, mày?”

“Gặp “nữ chúa” được không? Sao bữa nay bày đặt hỏi?”

“Tại mày không biết điều…”

 

Thằng Lai nhìn anh bảo vệ , mắt vừa hỗn vừa khinh:

“Ăn cho lắm vào, cả cứt cũng ăn. Nè cha…”

“Ai thèm đẻ con lai căng như mày… đưa đây.”

Hất cái mặt lên, thằng Lai bỏ vô trong. Anh bảo vệ gắn điếu thuốc lên môi, nhìn ra ngoài, trợn mắt với lũ ăn mày con nít.

 

“Mày có đem cho tao đó không?”

“Sao không? Này bà…”

 

Thằng Lai đặt lên bàn bao thuốc lá ba số còn nguyên si. Nhung “xì ke” đặt tay lên bao thuốc:

 

“Đúng thứ mọi bữa không, cha?”

“Bà cứ thử đi. Sợ bà luôn, đa nghi quá…”

“Sao không đa nghi, mày biết con mụ Huê nổi tiếng tráo hàng mà…”

“Biết. Đù má, dám tráo với tui không? Thằng này dám nói là dám làm…phặc…”

 

Nó đưa tay, chém nhứ lên cổ.

 

“Thôi cha, cha tí tuổi đầu mà đã cô hồn các đảng. Phạm giờ thiêng là dính nghe cha…”

“Cứt. Tao sợ cứt. Thôi bà làm ơn đưa tiền, đừng cà riềng nữa. Tiền trao cháo múc…”

Nhung thò tay vào ngực, rút từ trong xú chiêng ra mấy tờ giấy bạc nhàu nát. Thằng Lai bỏ ngay vào túi.

 

“Tin bà không đếm đó nghe.”

“Ừa, xong, cút cha mày đi.”

“Cho ly bia được không? Thèm quá.”

“Mới nứt mắt mà bày đặt đủ chuyện.”

“Không nhỏ đâu nghe… Đủ hết trơn rồi, bà muốn coi bữa nào cho coi …”

“Được, ngồi đi cha, kêu đi. Bữa nào coi đừng khóc…”

 

Thằng Lai búng tay, gọi hai chai bia. Nó ngồi không yên, ngó ngang ngó dọc.

 

“Bà thấy thằng ngồi bên kia bàn không? Bà bắt đi. Bắt được là tha hồ phê. Tui biết nè, nhà ở dưới Gia Định nhưng bữa nào cũng lên đây, bữa ngồi uống cà phê dưới Bô-đa, bữa uống rượu dưới Cửu Long. Giàu lắm, tháng nào cũng lĩnh thùng đồ bên Mỹ.”

 

“Sao mày biết rành vậy?”

“Xời ơi, tui há, con ruồi bay ngang tui còn biết ruồi đực hay ruồi cái nữa kìa…Thằng cha này nát rượu lắm, uống vô vài ba chai là khai ra hết…Tui biết bữa nay túi nó phồng lắm, chắc đang đợi con Nết hô…Thấy chưa, nhắc là tới liền…”

 

Nết hô. Nết vườn bông, mới đó đã Nết bin đinh rồi. Con nhỏ này không biết từ góc biển chơn trời nào tới đây, sống bám vào thành phố từ ngày giải phóng. Ăn xin có, móc túi có, bắt mèo nhà người ta làm thịt có. Mười ba tuổi đã đủ bộ như mười sáu hai mươi là vô nghề làm gái. Thực tập trước ở mấy vườn bông, mấy công viên. Bộ đội thích nó lắm nên có dạo con Nết là chủ vựa bán đường, sữa, bột ngọt…Có tiền, bớt lam lũ, nước da của con Nết lộ dần ra, trắng bóc. Một anh Ba, trước đây đã vào sinh ra tử trong kháng chiến chống Mỹ, đã thuê một phòng đầy đủ tiện nghi cho Nết. Dạo này anh Ba bận công tác miền Bắc dài dài nên Nết rổi rảnh và buồn, đi “bắt” nhiều hơn.

 

Thằng Lai gọi liền:

“Nết. Nết…Bữa nay mày “trúng mánh” rồi…Nhớ đãi tao chầu chót nghe mầy”.

 

Thằng Lai làm như không nhìn thấy mấy người ngồi gần đó nhăn mặt. Nốc cạn ly bia, nó đứng lên bỏ đi. Ngang qua con Nết, nó còn vỗ vào mông con Nết một cái, cười cười:

“Để dành bớt xài dần mày ơi.”

 

Thằng cha ngồi trước mặt Nết mập ù. Bụng này chứa cả thùng nước lèo còn thiếu. Ở thời buổi, lĩnh thùng đồ Mỹ xài, ăn rồi đi cà nhõng sao không ai hỏi thăm hết vậy? Ở đâu có sứ quân đó, nhà hàng chỉ có việc moi tiền, bắt bớ, tình nghi là việc của công an. Còn quản lý con người là việc của phường khóm, của tổ dân phố. Sở dĩ yên ổn được là vì thùng hàng nào ngoài thuế má cho nhà nước, về địa phương đều “chai hia” nên vui vẻ cả. Rồi còn việc đóng góp, lao động, lúc nào tên hắn cũng hàng đầu, nhà thì treo chình ình cái ảnh bác.

 

Con Nết cầm cổ tay anh ta, ngắm nghía cái đồng hồ:

“Vàng thiệt không anh?”

“Thiệt chớ.”

“Bên Mỹ gửi về phải hôn?”

“Không. Mua ở đây, mà tiền thì ở bển gửi về.”

“Áo quần anh mặc cũng ở bển?”

“Ừa. Em Nết, hôm nay anh bao em, lát nữa lên phòng nghe…”

“Hôm nay ? Hổng được, bất thình lình ổng đi công tác về, biết đâu. Thôi mình ra vườn bông, kín mà mát mẻ. Ý, em phải trả tiền bao thuốc lá ở ngoài…”

“Em cầm tiền nè…”

Con Nết đi ra, không trả tiền mà là mua thêm một bao thuốc lá ở sạp thuốc ngay trước cửa. Chị đàn bà bế con ăn xin lật đật đứng dậy, chìa tay. Đưa mớ tiền lẻ cho chị ta, Nết nói:

“Tối nay có mối, làm chỗ dùm nghe.”

 

Chị đàn bà gật đầu. Lúc Nết quay vào thì chị cũng bế đứa nhỏ băng qua đường, về phía công viên.

 

Thằng Bò cũng bò theo chân chị. Con Quê ở vườn bông, nhờ nó sang đường mua dùm khúc bánh mì. Buổi cơm chiều giản dị vậy thôi, để lấy sức mần ăn buổi tối.

 

*

 

Nhà hàng Hương Lan đã hết giờ giải lao. Hai nhạc sĩ bắt đầu “tua hai” bằng những bản nhạc ngoại. Nhung “xì ke” đã hết bốn chai bia và vơi hơn nửa bao thuốc lá. Cô ta đổ nửa bao thuốc còn lại ra, lựa hai điếu để riêng. Uống cạn ly bia cuối cùng, cô đã ngật ngừ lắm. Thằng Lai nói đúng, con mụ Huê không dám “hà tiện”, có tới hai trong số 20 chục điếu 3 số.

Thở một hơi dài, ngồi yên một lúc, Nhung mới bật quẹt, bắt đầu “phi”. Ngọn lửa xòe ra, bén đầu điếu thuốc. Hít một hơi, mắt lim dim nhìn xuống đốm lửa lập lòe, một mùi quen thuộc nồng nàn từ hốc sâu của mũi luồn xuống, ngợp hai lá phổi, đi xuống, tan trong thịt da, đi lên, luồn lõi trong óc não, lấp kín ngăn trí nhớ và dồn dập vào khối tưởng tượng sảng khoái… Chai bia trên bàn không phải chai bia… điếu thuốc không còn là điếu thuốc, sự tê mê đẩy rào rạt những niềm vui, kéo một nụ cười trên khuôn mặt đã ngờ nghệch của cô gái.

 

“Coi, cô ta say bia”

 

Ai đó nói. Nhìn mấy chai bia lỉnh kỉnh, cô gái đờ đẫn, y hệt một người say. Nhưng cô ta không say bia, mà đang “phi” xì ke. Điều này chỉ một mình anh nhạc sĩ biết…Tay anh bỗng nhiên khựng lại, tiếng đàn violon vút lên, một mình, lạc lõng. Anh nhạc sĩ đã làm rơi mấy nốt nhạc.

 

Đến lúc vãng khách, người ta dọn dẹp, lau sàn nhà, chồng bàn ghế lên, Nhung “xì ke” vẫn đang trong trạng thái “phi đậm”. Bảo vệ tới mời ra, Nhung nhướng đôi mắt lờ đờ lên nhìn, miệng cười vu vơ.

 

“Lôi nó ra ngoài.”

Quản lý ra lệnh.

 

Trong một góc, anh nhạc sĩ đang uống nốt chai bia nhà hàng đãi. Anh đặt cái chai không lên quầy, đi đến bên người bảo vệ đang hung dữ kéo mạnh cô gái đứng dậy.

“Có đi ra không? Hết giờ rồi.”

“Anh để tui.”

 

Nhạc sĩ giọng nhỏ nhẹ, hiền lành. Anh đỡ cô gái, dìu ra ngoài. Suốt buổi, trong cái không khí sặc mùi rượu và thuốc, anh như thiếu không khí thở. Giờ đây, đường phố đã vắng , anh đang dìu một cô gái đi dưới hai hàng me cao, và gió như giúp cho anh nhiều khí trời để thở…

 

Anh đặt cô gái tựa vào một thân cây, giọng vỗ về:

“Tôi gọi xe xích lô đưa cô về nhà nhé?”

Đôi mắt lạc thần không nhìn anh, mà hướng lên vòm lá me đen sâu trên đầu:

“Về…không, đưa em đi…em đi…”

 

Anh mím môi, quay người tránh cô gái đang nhón người lên, muốn ghé môi hôn. Từ quần áo, da thịt cô gái toát ra một mùi nhờn nhợn, tanh tưởi. Anh biết, cô ta không những phi xì ke mà còn nằm bàn đèn nữa. Không bao lâu sẽ tới chích choác và… Anh không dám nghĩ tiếp.

 

Vẫy một chiếc xích lô, anh cố đỡ cô gái muốn vùng vẫy mà không còn sức. Anh phải trở về nhà. Khuya rồi, người vợ trẻ đang chờ anh, đêm nào cũng vậy, tới giờ nào anh về tới nơi thì giờ đó người vợ mới yên lòng.

Anh trở lại nhà hàng. Đèn bên trong đã tắt. Ở hàng hiên đã có mấy người bụi đời xí phần. Người đàn bà điên đêm nay cũng về đó. Chị ngồi bệt sát tường, lơ láo ngó mấy gốc cây, mấy chiếc xe chạy vụt qua, ngồi ngó hoài không biết mệt. Không biết ai đã cho chị một bộ quần áo cũ chật bó người…Anh đi vào phía mé hông, vô một ngách nhỏ lấy xe đạp. Người bảo vệ trực cười cười:

 

“Về à? Sao không lên xe về với con nhỏ, coi bộ nó chịu chú nhạc sĩ quá rồi.”

 

Anh biết, khi đang lơ mơ, Nhung đã bị nhiều đàn ông lợi dụng. Bởi thế, mỗi lần nhìn thấy cô gái tự giết dần mình, anh lại đàn sai, lạc điệu.

 

Trời đêm thật mát. Nhưng đường về nhà vẫn xa lắm. Ngang qua nhà thờ Đức Bà, anh thấy một con vật gì bò nhanh qua đường. Anh lạng xe tránh và nhận ra thằng Bò. Đêm nào cũng vậy, cứ khuya lắc khuya lơ, anh thường gặp thằng nhỏ tàn tật bò tới dưới chân tượng Đức Mẹ.

 

*

 

Khuya rồi mà sao mấy cặp trai gái cứ còn ngồi xà nẹo rải rác trên bãi cỏ, trước mặt nhà thờ. Cũng may bao nhiêu bóng đèn đường đã bị gỡ hết nên tượng Đức Mẹ đứng khỏi nhắm mắt. Thằng Bò mãi mới nhớ ra đêm này là Chủ Nhật.

 

Chủ Nhật ông nhạc sĩ mới về khuya, hồi nãy suýt chút là nó ăn bánh xe đạp của ông ta…Vậy mà nó không giận ông nhạc sĩ đâu. Lòng nó sao sao không hiểu nổi. Mỗi lần bị bất cứ ai nhìn, nó đều chỏ miệng chửi một câu. Vậy mà khi thấy ông nhạc sĩ này nhìn nó, thằng Bò muốn chửi mà câu chửi mắc lại trong cổ nó mới lạ. Có lẽ tại cái nhìn của ông ta hiền quá.

 

“Ê, đi chỗ khác, nhìn gì mầy”.

“Tao đang đái, không thấy sao mầy?”

Thằng Bò ghếch chân lên. Nó cười lớn. Mấy thằng “cà chớn” này không việc gì phải sợ.

“Rồi cút đi.”

“Tao cứ ngồi đây, tao cứ nhìn.”

 

Cô gái đang ngồi trong lòng người đàn ông lên tiếng:

“Thôi mà Bò. Mày đi chơi đi. Biết mày lì rồi.”

“Việc gì nói tử tế với con vật ghê tởm đó. Để anh đá cho nó một cái.”

“Đừng anh. Nó tàn tật mà. Kệ nó. Mình ngồi đây hóng mát rồi xuống dưới kia, có chỗ tốt mà kín đáo lắm.”

Đúng giọng con Nết. Thằng Bò thấy ghét cả hai đứa. Tên đàn ông to con, bụng phệ hầm hè, nhưng rồi cô gái ôm chặt cổ.

“Thôi kệ nó. Kệ nó đi. Ê, tao nói chuyện tử tế nghe Bò.”

 

Mọi lần thì nó cũng thôi, nhưng hôm nay mắc cái chứng chi mà nó thích chọc cho người ta chửi.

“Tao ngồi đây mắc mớ gì mày. Đù má. Ai thèm nhìn, nhìn cho đui con mắt à.”

“Ranh con mất dạy.”

 

Thằng Bò cố lật người nằm ngửa dưới cỏ, nhưng hôm nay sao khó quá, nó làm hoài không được, đành nghiêng người, và cứ mở lớn mắt nhìn. Người đàn ông giận lắm, biết không làm gì được nó, nên chỉ hằn học ấm ức. Con Nết kéo người đàn ông đứng dậy, không quên được cái tật đưa tay phủi đít quần.

 

Họ đưa nhau đi xuống phía dưới. Thằng Bò biết mà, công viên Chi Lăng chớ chỗ nào nữa. Có một cái góc, phía trên là dàn hoa giấy mọc rậm rì, che chung quanh mấy bụi cây lớn, động của bà Bảy Cà tong đó thôi.

 

Bà Bảy cà tong này ở đâu đến, ai mà biết. Coi như chủ đất công viên này rồi. Không chồng, nhưng có hai thằng con trai và đứa con gái thuộc loại “chằng ăn trăn quấn,” dữ và hỗn khiếp luôn. Thằng Hai Nuôi, chiếm góc đường bày chỗ vá xe đạp. Thằng Tửng cô hồn thì cầm đầu một nhóm “đầu trâu mặt ngựa,” tới mùa, xí mấy chục gốc me quanh khu vực, hái me mà ra tiền. Củi khô cũng do Tửng thầu hết. Đàn em của Tửng tuần tự đúng ngày là giữa ban ngày ban mặt leo thoăn thoắt lên cây như khỉ, cầm dao, rựa vạt cành khô. Xe cộ đi phía dưới, xui ai nấy lãnh đủ.

 

Thành tích hai đứa con trai như vậy nên chị Bảy Cà tong là bà thần ở công viên này rồi. Chị chiếm chỗ ngon lành nhứt, và còn đủ kín đáo cho người ta thuê ngắn hạn mà an toàn vì con Lê, con gái chị ngoại giao giỏi với bọn khu vực. Thằng Bò cũng hay tới đây để giải trí.

 

Biết vậy nó bò theo, nhưng chỉ theo cách xa thôi. Đến nơi không thấy con Nết với thằng chả đâu nữa. Hôm nay chủ nhật, dĩ nhiên con nhà ăn xin còn làm việc khuya ở các hàng quán, chưa ai chịu về. Nó bò lại chỗ kín đáo mọi khi để xem “phim sống.” Nhưng bên trong không phải là con Nết với người đàn ông kia mà là chị Bảy cà tong.

 

Đã gọi là Bảy cà tong rồi thì biết. Thằng Bò sinh ra tàn tật thân thể thì ông trời cho nó đôi mắt. Mắt mèo thì cũng tinh bằng nó thôi, nó nhìn thông suốt bóng tối được. Coi bà Bảy cà tong, toàn xương với da, bà trần truồng coi giống cây tăm quá. Còn thằng cha nào đây? Thằng Bò suýt kêu ồ lên một tiếng. Long Tân Định rõ rành rành. Thằng này cũng ốm nhách, hai bộ xương ôm nhau vật lộn và bà Bảy cà tong thì vừa vật vừa la: “Chết cha mày, chết cha mày chưa.” Và thằng Long Tân Định thì thở phò phò, giọng khàn đặc:

 

“Chưa chết. Chưa chết. Chưa chết đâu má ơi!”

“Đù má!”

Thằng Bò chửi ầm ĩ và cười rống lên. Đáng ra, chắc chắn nó sẽ bị thằng Long Tân Định đá cho mấy cái, nhưng may, giọng thằng Tửng cất lên:

“Thôi má ơi. Má già rồi mà còn… thiệt má dơ quá.”

 

Thằng Long lượm cái áo thun tròng vào:

“Ủa, mày há Tửng.”

“Mày muốn làm cha tao phải không? Đù má. Ra đây.”

“Đù má mày Tửng. Sao mày cứ đợi lúc người ta đang “mùi” mà giựt họng mầy?”

“Mùi chừng nào nữa đây. Sao lúc nào bà cũng bận “mấy chiện” đó vậy? Bà tới tuổi nghỉ hông chịu nghỉ.”

“Ừa, tao chưa chịu nghỉ. Tao hồi soan, mầy.”

“Kỳ cục. Chuyện vậy mà má… Hừ. Long, mày xong chưa?”

“Ê, hông phải tao nghen. Má mày đòi, bả “hiếp” tao…”

“Ha ha, thằng xạo nghe, tao lại…”

 

Long Tân Định lùa bụi cây đi ra, quần áo đã chỉnh tề. Hai đứa kéo nhau ra góc nói chuyện to nhỏ. Thằng Bò nghi quá, chúng sắp “đánh” vụ nào đây… Coi thằng Tửng đưa một cái gì gói trong cái áo cho Long Tân Định.

 

“Tao hông chắc được nghen mày. Còn coi việc mày phụ có nổi không?”

“Đù má. Tao đã run tay bao giờ chưa?”

“Tao tin. Thôi được rồi cha. Cha đi khuất mắt cho con nhờ.”

 

Long Tân Định biến. Trong góc tối, chị Bảy ca cải lương hồ quảng giọng vẫn còn mùi lắm. Thằng Bò dời chỗ, nó đến nơi cái ghế đá con Quê thường ngủ. Không thấy con Quê đâu, trên ghế có hai người ngồi. Lạ chưa, sao ông Bảnh không ngồi với chị Mùi như mọi lần mà là một thằng? Lại đi với mấy thằng bê đê chớ gì nữa. Tham quá, đã làm ông chủ quán Bạch Ngọc mà vẫn không bỏ mối đi khách này.

 

“Anh à, ở ngoài đó khổ lắm. Mẹ và mấy đứa em nhất định phải tìm cách vô Nam.”

“Sao không nói bà già gả quách con Tầm cho xong, nhớn rồi, nuôi mãi à?”

“Lấy ai ở ngoài đó mà gả? Bộ đội giải ngũ nghèo rớt mồng tơi, nuôi thân không nổi, lấy gì nuôi vợ. Em thấy anh phải khẩn trương lo cho gia đình vô đây mới mong không chết đói. Mẹ giờ yếu lắm, mà phải đi lao động suốt. Tiền bạc? Làm gì có, chỉ đi nghĩa vụ đê điều… Già cũng phải đi. Cả nhà nói em vô trước gặp anh, bàn tính cách nào…”

 

“Tao đang lo. Đâu phải nói là được ngay.”

“Nghe nói anh đã là ông chủ quán Bạch Ngọc…”

“Chủ chủ cái búa. Con mẹ khôn lắm, tao coi vậy chớ chưa sơ múi gì…”

“Anh đã ăn ở với bà ta rồi, ván đã đóng thuyền, sợ gì?”

“Thôi mày ơi, đóng thì gỡ ra mấy hồi. Tao đang lo, ông chủ có thể sắp về đến nơi. Tao đang khẩn trương, trong giai đoạn này mày mà vác mặt tới là hỏng việc nghe chưa…Mày biết, tao nát óc ra, phần bà ta chưa tin lắm, phần con Mùi nó phá…”

 

“Mùi nào nữa.”

“À, nó là chị ở, mày không biết đâu. Thôi mày đi đi, tao phải về cho lẹ, bà này đa nghi lắm.”

“Anh còn tiền cho em… Mấy hôm nay ngoài bến găng lắm.”

“Khổ quá. Tao vắt xác ra. Mày bớt xài với chứ?”

“Em chỉ dùng để ăn mà ăn không no, dám xài đâu.”

“Ừ. Nhắc chừng thế. Thôi, đi đi.”

 

Hai anh em ông Bảnh nắm vai nhau. Ông anh béo trắng mà thằng em đen thui, ốm lóc chóc trông rõ thiếu ăn… Nhét vào tay người em cái gói nhỏ, chắc là tiền, Bảnh còn dặn:

“Nhớ đừng tới tìm tao ở quán nghe. Khi nào cần lắm hãy nhắn.”

Mỗi người đi một phía. Thằng Bò vẫn lẩn trong bóng đêm. Gớm, cái công viên này, hễ có bóng điện nào máng lên thì tức thì có đứa gỡ xuống. Khuya lắm rồi mới thấy bà con bụi đời lần lượt về. Mệt mỏi, mạnh ai nấy sắp chỗ ngủ. Nó thấy con Quê mới về cũng đang thu dọn chăn chiếu trên chiếc ghế đá thường khi. Nó bò tới:

 

“Quê. Bữa nay mày ế hả mày?”

“Đây đâu phải chỗ của mày… Mày láng cháng đây chi vậy?”

“Mày xuống đây tao nói chuyện này cho nghe.”

 

Con Quê xuống ngồi cạnh nó.

“Bữa nay mày cho tao ngủ đây, tao nằm dưới đất. Tao biết đêm nay có chuyện.”

“Chuyện gì vậy? Công an ruồng phải hôn?”

“Không.”

“Mày nghe. Mày muốn rình cái động của con mẹ Bảy cà tong phải hôn? Thôi mày ơi, để cho người ta làm ăn… mày biết, thằng Nuôi, thằng Tửng du côn mà.”

“Tao có làm gì đâu …”

 

Nó định nói về chuyện thằng Long Tân Định, nhưng lại làm thinh.

“Tao hổng bảo đảm gì hết nghe, mày muốn ngủ thì cứ ngủ.”

 

Con Quê nằm xuống, kéo chăn trùm kín đầu. Thằng Bò vẫn ngồi chổm hổm, mắt mở thao láo. Nó vừa thấy con Nết với người đàn ông đi về phía bụi cây, chỗ kín đáo của bà Bảy cà tong, rồi thằng Tửng thì thầm gì với thằng Long Tân Định, cứ thoáng hiện thoáng biến. Còn chị Bảy cà tong thì nằm một góc khác, vắt chéo chân, ca cải lương. Lần nào chả vậy. Bả vừa ca vừa canh, vừa chờ thu thuế chỗ. Nó nghe giọng con Nết cười, rên ầm ĩ.

Một lúc sau, thằng Bò bò được đến cái xó tối kín đáo thường ẩn mình. Nó thu mình trong bóng tối, mở thao láo mắt nhìn con Nết đang chơi trò cỡi ngựa. Thằng chả không biết có mắc gió kinh phong gì không, sao rên không ra tiếng. Vậy mà con Nết vẫn không tha, thằng chả đã hết vùng vẫy, nằm im như chết rồi…

 

Thằng Bò bỗng đưa tay bụm chặt miệng bít tiếng kêu đang muốn thoát ra. Hai Nuôi thình lình xuất hiện, hắn nhấc bổng con Nết quăng ra bên, rồi thằng Long Tân Định dí con dao vào cổ người đàn ông.

 

“Cấm la. La là giết liền.”

“Xin đừng… đừng giết…”

Người đàn ông van lạy:

“Vàng mới sắm lúc trưa mày để đâu?”

“Trong áo ba-dờ-xuy, túi túi trong trong…trong túi…túi…”

 

Hai Nuôi vớ mớ quần áo của người đàn ông ra lục lọi. Hắn tìm được một cái gói và ví tiền . Mở gói ra chỉ có hai cái khâu. Hắn lột nốt đồng hồ và cái nhẫn trên tay người đàn ông rồi ra lệnh:

 

“Ngồi dậy, mặc quần áo vào. Đù má, mất công tụi tao, vàng bạc có tí nhíu.”

Hắn ném mớ quần áo cho người đàn ông. Long Tân Định vẫn kèm sát con dao dí trên cổ hắn.

“Đem nó đi đi.”

 

Thêm Tửng xuất hiện. Cả hai kèm người đàn ông men theo bóng cây đi khuất. Lúc này con Nết đã mặc xong quần áo:

“Bất nhơn. Muốn gì cũng đợi cho con người ta ăn cơm xong đã chớ. Đang ăn lưng chừng…”

“Thôi bà nội. Bà cho con người ta ăn no quá, tức bụng muốn thở hắt ra rồi… Giờ bà về đi, quá khuya…”

“Khuya thì sao? Chia đã mới đi.”

“Nó còn ở đây, thủng thẳng được không?”

“Bọn mày còn đem con người ta đi đâu nữa…”

“Thì xong rồi, đem đi phóng sinh. Giờ bà nội về ngủ đi. Nhớ tắm táp sạch sẽ, bà.”

“Ê, cái gì phóng sinh. Giao hẹn rồi nghe, mình chỉ trấn lột…”

“Biết em giỏi rồi.”

Hắn nựng cằm con Nết:

“Không sợ nó thưa đi tù há. Đi tù là thằng cán của em nó tìm một con khác mới toanh, lúc đó oán anh không?”

“Bộ mày…”

“Tao biết tính.”

 

Giọng chị Bảy cà tong ré nhỏ:

“Hai, mày xong chuyện chưa? Sao lâu vậy? Mày muốn chết với con hà bá nào cà? Tao buồn ngủ riệu cha hai con mắt rồi đây.”

“Xong. Má vô đi.”

Hắn kéo con Nết:

“Đi. Tao lên trên với mày”.

“Lên làm gì. Tao hết xí oách rồi nghe mày.”

“Ngủ. Hổng làm gì hết.”

“Tin được hông.”

 

Thằng Bò nằm bẹp người xuống, thấy cấn cái ở bụng dưới. Mọi sự yên tĩnh dần. Một lúc sau nó chui ra khỏi bụi cây, bò tới nơi ghế đá con Quê ngủ. Đêm như than tro, vùi hơi nóng kinh khủng. Con Quê đá tung mền từ lúc nào, lại nằm ngửa tênh hênh, vạt áo kéo lên thấy lờ nhờ một khoảng da bụng…Thằng Bò mở thao láo mắt nhìn.

 

Một mùi hăng hắc của cỏ, của rác rưởi, của cả con Quê bốc ra từ quần áo, da thịt làm thằng Bò cứ hít lấy hít để. Nó chồm lên, mấy lần tính đưa tay lên, nhưng nó sợ con Quê thức dậy. Nó chống tay, cố hếch mũi vào sát chỗ bụng dưới con Quê. Nó nuốt rồi hít, hít rồi nuốt. Một mùi ma quái gì đâu đặc dần trong họng, rồi thình lình bung ra làm cả người nó như phồng lên, căng cứng.

 

Chính cái mùi kỳ dị ấy đẩy nó té sấp, rồi buộc nó lăn lộn trên cỏ.

 

*

 

Bốn giờ sáng hôm sau, một xác chết được phát giác ở con đường vắng gần bệnh viện Đồn Đất. Xác nằm bên lề đường không biết chết trước hay sau khi bị những chiếc xe chạy khuya cán qua. Tới sáu giờ sáng, các công viên có cuộc bố ráp, nhưng tin đi lẹ lắm, giới bụi đời đã rời chỗ, đi tứ tán hết trơn. Lúc đó con Quê bị đánh thức dậy, nó dụi mắt ngơ ngác:

 

“Cái gì vậy? Mới bét con mắt, mấy ông làm gì vậy?”

Thằng Bò :

“Bố ráp đó. Lo mà dông đi.”

“Ráp ráp cái gì? Tao đếch sợ.”

 

Không ai thèm hỏi con Quê với thằng Bò. Chị Bảy cà tong bị dẫn về phường để “hỏi thăm”. Cuộc bố ráp tan mười phút sau đó, chỉ dính có chị Bảy.

 

Thằng Lai chứng kiến từ phút đầu tới lúc người ta khiêng cái xác đi. Nó kể với cô Mai Bắc:

 

“Cái thằng “có bầu” hay đi với con Nết đó. Hổng biết ai giết hay bị xe đụng mà cái bầu bể, ruột chảy ra một đống, gớm quá, ruồi bu đen kịt.”

Thằng Lai nhổ nước bọt. Thằng Tửng đang soạn đồ nghề sửa xe đạp bày ở góc đường, nghe, nhăn nhăn cái mặt:

 

“Mày có nhìn gà hóa cuốc không đấy? “

Con Chiến nhảy vô:

“Tao thấy ổng ngồi với bà Nết ở Hương Lan chiều qua, rõ ràng quần áo đó.”

“Sáng nay, đem sữa lên cho cô Bảo, tao thấy thằng Hai Nuôi trong phòng bà Nết mày.

Mắt tao thấy rõ ràng chớ không nghe ai nói nghe mầy. Đi ngang nghe tiếng chửi nhau tao dừng lại, giọng bà Nết thì ba cây số cũng nghe mà. Bả chửi: Đù má mày, Nuôi. Mày có cho tao nghỉ một chút không, mò cả đêm, đ…m, cho xứng đồng tiền bát gạo há mày… Ê Tửng, thằng anh mày đừng tưởng ngon nghe, giao cho con Chiến là khóc không can nổi.”

 

“Thôi bà, đừng chuyện nọ xọ chuyện kia.” Thằng Lai nạt. “Tao nghi thằng cha bị giết, nhẫn, đồng hồ, ví tiền bị lột hết trơn. Vụ này không yên với công an.”

“Mà sao bà Bảy cà tong bị mời về phường vậy?”

“Tao hổng biết. Sao hỏi tao mầy?”

Mai Bắc dừng lại nghe chuyện một lát rồi đi. Cô gặp Bảnh đang đứng ở cửa, trông thấy Mai Bắc, hắn cười:

“Bộ bà đi coi về đó à? Bà này gan.”

“Nghe nói chớ ai dám coi.”

 

Bảnh nhìn đám thằng Lai xì xào bàn tán, lắc đầu:

“Con đường này mà không dẹp được tụi bụi đời là còn chưa yên. Bà thấy tui không? Đám xì ke sau hẻm tui dẹp cái một. Bà vô đây, uống cà phê. Bà nghe, không hề đặt chân vô quán tui, bộ chê hả?”

Mai Bắc cười, lắc đầu, bỏ đi. Bọn thằng Lai cũng kéo nhau xuống phía dưới. Chúng nó đi ngang qua mặt Bảnh, cười cười nói nói, một con “bà chòi” còn ngoáy ngoáy cái đít chọc tức và thằng Lai Phá thì vừa chửi tục vừa cười ầm lên. Hình như chúng cũng không hề coi vụ giết người vừa được phát giác kia là quan trọng.

 

Còn lại ở công viên, ông già ăn mày ốm cả mấy ngày nay, đắp chiếu nằm mê man, thỉnh thoảng giật giật người và kêu la trong cơn sốt: “Trả lại cho tao. Trả lại tao”. Ông già này, nghe đâu cùng vợ con đóng tiền đi bán chính thức. Tàu nổ khi vừa ra khơi, chỉ một mình ông sống. Trở về không nhà cửa, không tiền bạc, ông lang thang bụi đời, dở điên dở khùng. Ông đã nhiều lần sốt mê man, nằm cả tuần lễ như vậy, không thuốc men, rồi bỗng dưng lành mạnh, đi đứng như thường, nên lần này cũng như mọi lần, ông nằm một chỗ cũng không làm ai quan tâm nữa.

 

Con Quê đã tỉnh ngủ hẳn, nó nhìn thằng Bò nằm phục xuống cỏ, thở khò khè ra dáng mệt nhọc, nó hỏi:

“Mày bịnh?”

“Không.”

“Mày đi tắm đi. Tao cho tiền nè.”

 

Nó đưa tiền cho thằng Bò. Có cái máy nước công cộng thì đã “cặp rằn” canh giữ. Mỗi xuất tắm chỉ 5 phút phải nạp từ mười tới hai mươi đồng. Như vậy còn chưa ác nhơn bằng cái thằng già dịch bảo vệ ở cơ quan kia, mỗi lần nó tắm táp phải ban đêm, nạp tiền cho thằng cha rồi mà đôi khi còn phải nạp thân nữa.

 

Con Quê nhìn thằng Bò lê lết trên mặt đất. Lòng nó se sắt thương thằng Bò. Phải vậy không? Nó thương thằng Bò hay thương chính nó? Nó không biết.

 

*

 

Xế trưa, lúc chị Bảy cà tong từ phường tám trở về, công viên vắng ngắt chả còn ma nào. Nhức cái đầu quá, hỏi qua hỏi về cũng chừng đó chuyện mà thằng chả chết quay đơ rồi có sống lại được đâu. Thì chị đã có tên cà tong rồi, cà tong thì cũng cà tửng nữa. Biết cái gì thì nói cái đó, còn không biết thì trả lời không biết. Đù má, mấy thằng công an chưa đáng tuổi con chị, mà hoạnh họe dữ quá làm có lúc chị cũng quíu cả lưỡi. Lúc đó, chị nổi hung lên:

 

“Cái gì, tui hổng biết thì nói hổng biết. Hổng biết mà nói biết sao được. Trời đất, tui đã nghèo tận mạng, sống nhờ cơm thừa canh cặn của bá tánh, giữ cái thân chưa xong cán bộ ơi. Bởi nghèo mới khổ, đâu có ai dám hoạnh hoẹ người giàu không nè…”

 

“Chị đừng già mồm đánh trống lấp. Chị ở đó thành tinh rồi, ai làm gì chị không biết.”

“Đâu phải vậy, bộ tụi nó đi tiêu đi tiểu tui cũng đi theo dòm? Xời ơi, toàn một lũ nghèo đói sắp thành ma hết trơn, cán bộ thấy hông? Tui, xương với da…”

Mấy tiếng đồng hồ mới thoát được. Phẻ re. Chị lục mớ đồ trang điểm ra, tô một đường chì ở con mắt. Quen rồi, không tô coi nó trơ làm sao.

Thay cái áo rồi nhét đống áo quần dơ vào bụi rậm, chị chải lại đầu tóc đi kiếm con Lê. Con hà bá thiên lôi giờ này biến đâu rồi. Chị phải đi tìm mấy đứa nói cho chúng biết để có gì thì cùng một lời khai giống nhau.

 

Con Lê đang ngồi chạch bạch ở hàng bún riêu góc đường, thấy chị, cười tươi:

“Định ăn xong tô bún là đi ra phường coi má có gì không? Xời, yên rồi há? Thấy bà son quánh đình huỳnh, diện vô vậy là yên rồi, hết lo.”

“Lo ông nội mày. Tao bị mời ra phường mà mày ngồi ăn tỉnh quá há. Đồ bất hiếu.”

 

“Thôi đủ rồi, bà. Hễ thấy mặt là chửi.”

“Đẻ mày cho đau đít.”

“Bà có đẻ ở đít đâu mà đau, vô duyên hông.”

“Nuôi mày tốn cơm. Bà nội mày.”

“Đủ rồi nghe. Tui hổng có ông nội bà nội gì hết. Mà bà cũng hổng nuôi tui ngày nào, đừng kể.”

 

“Không nuôi rồi mày bú sữa chó mà lớn hả mày?”

“Chắc vậy, sữa chó, má. Tui biết đi là tự đi ăn xin rồi, má nuôi ngày nào hén. Mà thôi, bà khó quá làm sao sống. Nè, má ngồi xuống đây, tui mời má ăn một tô bún. Một tô cho bả. Má ngồi đi.”

Chị Bảy cà tong cũng thấy cồn cào trong bụng rồi nên ngồi xuống một ghế đòn thấp.

“Tao hỏi, đêm qua mày ngủ đâu?”

“Ngoài phường.”

“Ha, bộ bị dính hả mày?”

“Tui còn khuya mới dính vụ đó. Hôm qua là đúng phiên tui “đãi”, vậy thôi.”

 

Chị Bảy cà tong thở ra một hơi dài:

“May quá. Hồi nãy tao cũng khai là đêm qua mày hổng về ngủ, mày ngủ nhà bạn. Đù má, thằng phó phường còn hỏi tao biết bạn mày là ai không? Xách mé nữa.”

“Hì hì. Thì cũng phải làm cho có lệ, thằng chả bị xe đụng ở đâu đâu, nhằm nhò gì khu vực mình chớ. Má biết không, đêm qua anh Nuôi bị con Nết nó vật cho, sáng nay về đi hổng nổi, phải đi kiếm hai cái trứng la-cót lấy lại sức.”

“Nó đâu rồi?”

 

“Biết đâu. Sáng thấy gây lộn với con bán xe đẩy trái cóc quá trời. Con nhỏ ghen vì đêm qua đợi suốt đêm hổng thấy. Con nhỏ chửi tưới hạt sen mà anh Hai cứ cười cười. Rồi huề, nó dẫn anh Hai đi ăn trứng gà chớ ai.”

Chị Bảy cà tong đặt cái tô xuống, đứng dậy kéo chéo áo lại cho thẳng thớm:

“Mày trả tiền nghe. Tao đi kiếm thằng Tửng.”

“Được rồi. Lúc nào chẳng tui trả. Bà trả hồi nào đâu.”

“Mồ tổ mày. Kể.”

 

Chị Bảy đi tới góc đường, Tửng đang ế hàng, ngồi không hút thuốc.

“Má về rồi à?”

“Chớ mày muốn tao ở luôn trỏng sao mày? Thiệt ách ngoài đàng choàng vào cổ. Thằng cha hổng chịu đi đâu mà chết, chết ngay gần nơi đây mới làm khổ dân cùng mạt này chớ. Tự nhiên chỉ lôi một mình tao ra.”

 

“Chớ má muốn cả anh Hai và tui ra ngoải nữa sao? Yên chưa?”

“Gì mà không yên mày? Đêm qua, con Lê còn đãi thằng phó. Còn tụi ở đây đứa nào hổng biết thằng Hai cả đêm bị con Nết nhốt. Chỉ có mày…”

“Tui làm sao. Đù má, bà coi chừng cái miệng…”

“Đù má. Tao ngu cũng ngu vừa thôi. Đêm qua mày ngủ bên cạnh tao chớ đi đâu nữa. Tao nói chủ nhật mày làm khuya lắm, nên ngủ như chết.”

“Rõ là vậy. Làm bao nhiêu cũng không đủ cho má đánh bài với ăn hàng. Nổi tiếng nghe bà.”

“Mồ tổ mày, mày đưa tao được nhiêu mà kể. Bởi mẹ nuôi con biển hồ lai láng, con nuôi mẹ kể tháng kể ngày…”

 

Giọng thằng Tửng hạ thật nhỏ:

“Nè, tụi nó có hỏi gì con Nết không?”

“Không. Ơ, chẳng có gì hết. Phẻ re. Thôi mày làm việc đi. Có mối kìa mày.”

 

Một anh bộ đội vác cái xe đạp đi tới. Chị Bảy cà tong te te băng qua đường, tới trước nhà thuốc tây quốc doanh. Hai ba tấm biển ghi: “Coi chừng mất xe, có khóa vẫn mất.” Chị thấy mấy tên “nhà nghề” đang rà rà quanh đó. Còn phía bên kia, quán cà phê Bạch Ngọc cánh cửa sắt vừa được mở ra. Bảnh và bà chủ Ngọc Hoa song song đi ra. Chị người làm kéo cửa sắt lại, nhìn theo nhổ toẹt một bãi nước bọt.

 

Một tên “nhà nghề” nháy mắt với chị Bảy cà tong. Hiểu ý, chị tới đứng sắp hàng sau lưng một người đàn ông đang sắp hàng mua thuốc. Lúc người đàn ông mua xong, sắp quay ra, chị Bảy hích vào anh ta một cái như vô tình. Gói thuốc trên tay rơi xuống đất, anh ta cúi xuống nhặt và chị Bảy cà kê xin lỗi đi xin lỗi lại.

 

Một thoáng sau, lúc chị Bảy cà tong vẫn xếp hàng sau đuôi thì bên ngoài, giọng người đàn ông hớt hải:

“Cướp. Cướp. Cướp xe đạp”

 

Anh ta vừa la vừa chạy theo. Chiếc xe đạp của anh đã quẹo sang đường Lê Lợi và mất hút. Anh ta quay trở lại tiệm thuốc tây quốc doanh, nhìn vào cái chỗ trống không nơi chiếc xe đạp anh đã dựng với đôi mắt ngẩn ngơ vô hồn. Ai đó đụng vào vai anh:

 

“Đi thưa công an đi. Ra phường đi.”

Một người khác chỉ cho anh cái bảng:

“Không biết đọc à, người ta đã ghi, khoá vẫn mất.”

“Thưa vô ích, biết đâu mà tìm”.

 

Mỗi người một câu, kể cả vài dân “nhà nghề” ở lại để nhỡ có nguy cơ thì chặn, cũng nhảy vào hỏi han:

“Xe anh có khóa không”

“Có khóa.” Người đàn ông nói như mếu.

“Thì có khóa vẫn mất, người ta ghi rành rành sao anh không thấy?”

“Tui mới học tập về…”

 

Da mặt anh ta vàng khè. Trông bộ dạng dở khóc dở cười tội nghiệp. Nhưng không ai ở lâu mà tội nghiệp cho anh, người ta dãn dần ra hết, và chính chị Bảy cà tong là người sau cùng lớn tiếng nhất:

“Mèn ơi, anh ra thưa phường ngay, đi trình ngay, phía này này…đi đi.”

 

Người đàn ông đi theo hướng tay chị Bảy chỉ. Chị Bảy cũng đi nơi khác, chỗ chị ngắm là cửa hàng kim khí điện máy. Kiên nhẫn một tí thôi, thế nào chẳng có một con mồi “khờ” tin vào cái khóa.

 

Ở góc đường, thằng Tửng vẫn siêng năng cắm cúi vá ruột xe đạp. Hai tay đều bận, nhưng điếu thuốc lá gắn trên môi Tửng vẫn cháy đỏ.

“Đù má nó.”

 

Chị Bảy cà tong tự nhiên bực tức. Sao cái miệng như mếu trên khuôn mặt người đàn ông mất xe đạp cứ ám chị hoài. Bậy thiệt, nếu biết thằng cha học tập cải tạo về, thì chị đã không cho thằng “nhà nghề” xớt ngọt. Nhưng thôi, đời mà, xui ai nấy chịu.

Một tên khờ lại sắp nạp mạng nữa. Ừ lúi húi khóa cho chắc vào. Có phải dân học tập nữa không? Con chuồn chuồn này may ra không phải là dân học tập. Mắt chị Bảy Cà Tong sáng trưng, ngón tay trỏ và ngón tay cái chập lại với nhau, hệt như hồi còn bé, rình bắt chuồn chuồn ở bờ ao.

 

nhã ca

(Trích “Đường Tự Do Saigon”)

 

 

 

bài đã đăng của Nhã Ca


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)