Trang chính » Biên Khảo, Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 27 Email bài này

Bốn mươi lăm năm thi ca Việt Nam (phần kết)

[…]

TÂM TÌNH THI CA VIỆT NAM …

Phần trên, chúng ta nhìn qua về nguyên nhân tổng quát cho mỗi thời kỳ thi ca trong bốn mươi lăm năm qua. Nói đến hai chữ “nguyên nhân” quả tình gượng quá. Trong thơ, nguyên nhân hậu quả đều không nói lên điều gì rõ rệt. Thơ là cả một mơ hồ và cảm nhận. Cái tinh thần thơ trong suốt bốn mươi lăm năm qua có lẽ đã ngấm dần trong xương tủy người Việt. Tinh thần ấy là sự đối kháng dịu dàng giữa chân trời mới và hình thức cũ. Tản Đà, Nguyễn Khuyến, Tú Xương gần chúng ta biết bao so với những cổ thụ văn đàn ngày trước. Bài “Tống Biệt” bài “Dì Gió”[17] của Tản Đà đâu xa lạ gì tâm hồn thơ đa số thanh niên sau này. Vì thế, thay cho nguyên nhân phát sinh mỗi thời kỳ, điều quan trọng nhất chính là tâm tình dụ-hoặc của thi ca. Vừa mở sáng mà vừa khép kín, vừa mời chào mà vừa từ chối, đó là tất cả trung-ý thi ca bốn mươi lăm năm qua.

Một điều rõ nhất để phân biệt tâm tình thơ thời đại 1930-75 với các thời đại trước là sự phát triển và tôn phụng tinh thần cá nhân. Tinh thần cá nhân? Bốn chữ nghe thân thiết mến thương làm sao. Chúng ta vui sướng khi được đọc thơ một người, một người đầy đủ suy nghĩ cảm quan hệt chúng ta đặt chữ nghĩa lên giấy mực. Mà dù khác nhau thì đã sao! Thơ không còn những lời hàm hồ ẩn sau bức bình phong số-đông để nói những lời vu vơ như Bà Huyện Thanh Quan ngày trước nữa. Thơ không còn là sáo ngữ nói tướng nói tá rồi chung quy khoe cái ta tự tôn như kiểu khẩu khí Lê Thánh Tôn. Ngày xưa thi sĩ dùng tập thể làm bình phong múa bút. Điều này trông vừa giả tạo vừa hạn hẹp. Cứ như Thế Lữ thì hay biết bao: “Tôi chỉ là một khách tình si. Ham vẻ đẹp có muôn hình muôn thể”. Như vậy thực thà tự nhiên hơn. Thi sĩ có thể nói thẳng với chúng ta: Tâm hồn tôi đây, xin bước vào và đừng hủy hoại. Chúng ta nhận lời thi sĩ và lạ lùng khám phá bao nhiêu màu sắc hương vị trong ấy. Mà toàn những vị đâu xa xôi gì? Là của bạn ta đấy thôi! Là của ta đấy thôi! Nó bị thành kiến vùi dập, nó bị xã hội bịp bợm. Hôm nay ta nhận diện. Và nỗi niềm sung sướng còn gì lớn hơn?

Nhưng đừng tưởng lúc nào thi sĩ cũng thố lộ tâm tình riêng tư cho chúng ta. Bài “Tương tư … Chiều” của Xuân Diệu là khúc ca tình yêu giữa hai người không ăn nhập gì ta cả. Có đọc, ta chỉ đọc lén thôi. Vừa thưởng thức, ta vừa ghê thay tính liều lĩnh của nhà thơ. Chừng một trăm năm trước thôi – mà có thực cần con số một-trăm này không? – bài thơ trên đã có thể là quái thai kỳ dị bị đàm tiếu còn nhiều lần hơn thơ Hồ Xuân Hương. Thế ra, sự nảy nở thi ca thời vừa qua đã thúc đẩy chúng ta tìm và hiểu được nhau nhiều lắm. Sự vật lộn con người đời sống trong “Làm Thơ Không Biết Mệt” của Trần Dạ Từ là vấn đề của ai vậy? Của thi sĩ? Đã đành rồi. Nhưng cũng của chúng ta đấy. Chúng ta, nào khác gì thi sĩ, chúng ta hàng ngày đối diện bao nhiêu món nợ siêu hình khủng khiếp trên đầu trên cổ. Quả đât méo mó dị dạng trên đình màn thi sĩ[18], quả đất ấy đang ngạo mạn diễu cợt chúng ta đây. Nỗi thất vọng sợ hãi nào cay nghiệt hơn? Hóa ra thi sĩ là hình bóng cá nhân độc đáo, mà cũng là tấm gương phản chiếu bộ mặt muôn thuở, hay ít ra, hôm nay, của loài người lận đận đấy ư?

Vẻ cá nhân độc đáo của nhà thơ thời đại vừa qua chính là khuynh hướng thúc đẩy thi ca tiến bộ hơn (tiến bộ, hiểu theo nghĩa thông thường). Nhà thơ càng ngày càng cô đơn, càng ngày càng khắc khoải trong vạn mối suy tư được đặt ra, từ đó nhà thơ càng nhả tơ kiến trúc sự nghiệp mình. Mỗi thi sĩ đều có một bước đi độc đáo riêng. Không người nào dẫm chân người nào. Mà phải có vài ba người chi cho cam. Bốn mươi lăm năm, và xấp xỉ con số đó những thi sĩ lớn. Dù không một đức tin, một bực thánh, một sức mạnh vô hình để nương tựa, nhà thơ Việt Nam cũng có thể tự hào về mình. Rằng mình đã kiến tạo lấy căn phòng nội-tâm-và-thơ riêng biệt. Nỗi cô đơn, dù có, chính là nỗi niềm đầy vẻ riêng tư. Trong lãnh vực khác, chia rẽ cách biệt là điều tự hại. Trong thi ca, việc ấy ngược lại. Vũ Hoàng Chương ngán đời làm thơ[19] khác với thơ-ngán-đời của Trần Tuấn Kiệt sau này[20]. Hồ Dzếnh mong nhớ người yêu khác tư thái Nguyên Sa. Hoàng Lộc kháng chiến khóc bạn chết vì chiến tranh không giống “Chiều Nay Tôi Đi” Mai Trung Tĩnh. Mọi tâm tình, mọi hoàn cảnh đều nói lên những ý thức mới. Khóc bạn, Hoàng Lộc chỉ biết đau lòng và thề trả thù. Hai mươi năm sau, Mai Trung Tĩnh khóc bạn và ngẩn người suy nghĩ về cái chết đã qua, của bạn, và cái chết sắp đến, của mình. Tất cả nỗi niềm đó, trộn với nhau góp phần dị biệt cho thi ca Việt Nam.

Một điều nữa, nhà thơ Việt Nam thời này không hề làm lớn nhiệm vụ và những đứa con tinh thần của mình. Họ thật hiền lành dung dị. Làm thơ với họ là điều cần thiết như đứa trẻ đòi bú, thanh niên cần yêu. Câu thơ của Hồ Dzếnh “Tôi nguyền sau lớn làm thơ suốt đời” nói lên mộng ước giản dị dễ thương biết bao. Giấc mộng làm thơ kia, bằng câu trên, chẳng khác một người trong chúng ta nói: “tôi nguyện sau lớn làm … kỹ sư suốt đời”. Thi ca, từ đó, nồng đượm tính chất chân thật, dễ mến. Trong xấp sỉ năm mươi thi sĩ nổi tiếng nhất Việt Nam thời vừa qua, chỉ Vũ Hoàng Chương và Bùi Giáng mới ngạo nghễ tự đặt lại giá trị ngai vàng thi ca và chức vụ thơ của mình. Những người khác bình thường cả. Không khí kiêu căng của Lý Bạch, Cao Bá Quát thời xưa đã hết. Ngày nay chúng ta nhìn nhà thơ dù vẫn bằng cặp mắt trọng vọng nhưng thân tình hơn. Nhà thơ không hề muốn lập ngôn bằng thơ họ. Dù Huy Lực, Kim Tuấn, Viên Linh có gào thét đau đớn với quê hương dân tộc trong thơ, thì đó vẫn là những lời lẽ riêng của họ. Dù nó cũng là những khát vọng chúng ta, nhưng trước hết và sau hết, nó là của thi sĩ; không như Tú Xương ngày xưa mơ hồ viết bài “Lạc Đường” tỏ vẻ đại diện sĩ phu ưu quốc. Tóm lại, thơ 1930-75 chính là thơ cá nhân.

Tuy thế, tính cách cá nhân chỉ tổng quát. Mỗi thời kỳ, mỗi nhà thơ, đều có những giống nhau khác nhau ngoài bộ mặt “cá nhân” ấy. Thi sĩ tiền chiến chẳng hạn, trên khía cạnh nào đó (tình yêu?) thường có khuynh hướng lãng mạn. Gần hai mươi nhà thơ nổi tiếng tiền chiến đều viết về tình yêu. Có lẽ tình yêu là một mode thời trang, nói nôm na, của thi ca thời này. Đây là điều kỳ lạ thích thú mà vừa bất nhẫn. Giới làm thơ, và giới đọc thơ, đều có học, không dư dả tiền bạc thì cũng không phải giam mình ở thôn quê lạy lục cường hào ác bá kiếm cơm. Nói rõ hơn, tầng lớp làm và đọc thơ tiền chiến thường thuộc hạng trung lưu (hoặc tinh thần hoặc vật chất hoặc cả hai). Hoài Thanh đã viết: “Ở cái xứ vô sự này, câu chuyện văn thơ cơ hồ là câu chuyện độc nhất của số đông thanh niên nam nữ” [21]. Thật sự Việt Nam mình ngày ấy không những “không-vô-sự” mà còn “nhiễu-sự” là khác. Phần đông thanh niên nam nữ Hoài Thanh nhắc tới, chúng ta cần hiểu là con số tính ở các thành phố hay nhà giàu thôn quê. Điều này không những dễ thấy mà còn giúp ta tìm được nhanh hơn tâm tình thơ tiền chiến. Thanh niên thành phố được giáo dục trường Tây (đa số thi sĩ đều có bằng Tú Tài Pháp trở lên), sống an nhàn khi làm việc với nhà nước bảo hộ. Vậy thì họ không yêu nhau, không phát triển sức mạnh lãng mạn mơ mộng (mà lạ, chỉ lãng mạn mơ mộng về tình yêu!) thì biết làm gì bây giờ. Thế là đủ lắm, cả thi sĩ lẫn độc giả đều hợp tâm đầu, đều du dương nói với nhau bằng những tiếng nỉ non than khóc nức nở tình yêu. Trong thơ tiền chiến, ái tình đành là có trăm vẻ nghìn sắc độc đáo riêng biệt, nhưng cùng nhau (dù tương đối) một điểm: yếu đuối và tối tăm. Từ Xuân Diệu với “Hai người, nhưng chẳng bớt bơ vơ” [22] diễn tả nỗi xa lạ kỳ dị giữa đôi tình nhân (sự xa lạ có vẻ ảo giác và bịa đặt); cho đến J. Leiba với “Để phụ cho nhau một mối tình” [23], hàng chục hàng trăm mối tình đau thương (quái! phần lớn đều rầu rĩ đau thương, trừ Nguyễn Nhược Pháp. Vậy dễ không có cặp vợ chồng nào trên đời à?). Tình yêu xảy ra đủ nơi đủ cách. Chút hương thừa trên đường cũng mơ tưởng được, là tình (Huy Cận). Xem tiểu thuyết rồi buồn rầu nhớ trai, là tình (T.T.Kh.). Đọc thơ người khác rồi yêu quơ quàng, là tình (Thâm Tâm). Vì chuyện thiên hạ mà đòi yêu bạn trai mình, cũng là tình (bài “Tình Trai” của Xuân Diệu). Tình yêu trùm kín không khí thi ca tiền chiến. Mới biết yêu, đã yêu lâu, chưa yêu, yêu nhiều, ghen, hờn, giận, nhớ, không lấy nhau, sắp lấy nhau, gần nhau, xa nhau … Tất cả đều là tình yêu. Một không khí lãng mạn đến ngộp thở u uất. Một loại tháp ngà lạnh buốt như Mai Thảo từng viết. Người ta hoàn toàn không thấy sinh khí và tính chất phóng khoáng tình yêu trong thơ tiền chiến. Từ những thứ tình che dấu lờ lững Thế Lữ, Đoàn Phú Tứ đến tình trần truồng lộ liễu Xuân Diệu, Thái Can rồi tình bí hiểm (?) cao siêu Hàn Mặc Tử, Bích Khê, chúng ta khó lòng thấy gì khác nữa. Nói một cách đứng đắn thì những tiếng sau là mẫu số thi ca tiền chiến: anh, em, yêu, tình, nàng, chàng. Sáu chữ này tha hồ cai trị tâm tình thi ca tiền chiến. Những điểm khác, ở đâu?

Những điều khác là đời sống xã hội, là hướng đi cuộc đời, sự sống. Những điều khác là sự suy nghĩ về cá nhân và tập thể; hầu như vắng bóng trong thơ 1930-45. Thật kỳ lạ và đáng buồn. Ngoài đôi chút cảnh quê Đoàn văn Cừ, đôi chút đời sống thảnh thơi Hồ Dzếnh, Lưu Trọng Lư, đôi chút ngạo nghễ Vũ Hoàng Chương; còn lại, thơ tiền chiến, toàn thị là tình yêu. Thật là một mối tình to lớn vĩ đại bí hiểm kinh khủng. Nói không sợ sai lầm, thơ tiền chiến không mang dấu vết sống thực bao nhiêu. Điều này có vẻ đáng trách nhưng dù sao cũng cần được thông cảm. Thử xem thơ Việt Nam hàng trăm năm trước, họ viết những gì? Toàn thị mơ mộng, đài các trưởng giả rởm. Toàn thị quan liêu vua tôi. Chẳng một chút chi khác. Một vài tác phẩm xuất sắc như Kiều, Chinh Phụ; một vài tác giả độc đáo như Cao Bá Quát Hồ Xuân Hương không đủ biện minh cho vấn đề. Thơ nước mình trước 1930 đều bệnh hoạn một kiểu như thế. Nào ai than trách gì đâu.

Tóm lại, dù thơ tiền chiến có tiến hóa về thể và ý, sự tiến hóa này chưa hoàn thành con đường đi của nó. Để đánh dấu chấm hết cho một thời đại thi ca, chúng ta cần thời gian và không gian khác.

Và dấu mốc thứ hai, dấu mốc chín năm kháng chiến, dù sao cũng đã cởi được lốt tình yêu bệnh hoạn tiền chiến. Thơ kháng chiến nói tới những điều gần gũi hơn cùng người: cuộc hành quân, chết chóc vì đánh nhau, viếng mộ bạn, nhớ người yêu khi đang chinh chiến. Mọi người đều có thể hòa mình với thi sĩ để suy nghĩ, trầm tư. Hình ảnh “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới [24] kích động biết bao nhiêu tâm hồn tuổi trẻ.

Nỗi hào sảng thi ca trở thành một điều có thật. Nỗi buồn dằng dặc mười lăm năm trước đã trở chiều, mãnh liệt và rõ rệt. Thi sĩ kháng chiến không vơ vẩn u sầu vô duyên cớ kiểu Xuân Diệu trong “Chiều”: Hôm nay trời nhẹ lên cao, Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn. Mọi người đều có đối tượng để buồn và nhìn rõ tâm trạng chiến đấu hơn. Và tình yêu nữa, tình yêu tự nó đã có đôi vóc dáng rực rỡ, nhờ chín năm đoạn trường này trở nên đẹp và lộng lẫy đến rạt rào. Mà nào tình yêu xa lạ đâu đâu! Tình yêu ở đây bằng thơ Quang Dũng và lời lời tâm sự thiết tha người lính nhớ về tình nhân:

Thoáng hiện em về trong đáy cốc
Nói cười như nói chuyện một đêm mơ
[25]

Còn gì buồn hơn tuổi hai mươi ôm súng ngồi góc núi. Còn gì xúc động hơn đôi mắt ảo giác đàn bà dưới đáy ly. Nói khác đi, mối tình kháng chiến chính là hương hoa trên nhạc súng nhạc tấu trong lòng và hàng hàng quan san thơ bay.

Tuy vậy, như đã nói, thơ thời này chỉ là một khúc nối. Con đường đã lập nhưng chưa được nở hoa. Giấy đã mở nhưng chưa nói hết lời. Phải cần vóc dáng bước đi thứ ba, miền Nam từ 1954, ta mới đưa thi ca Việt Nam đến đỉnh cao nghệ thuật.

Chính ra, hai mươi mốt năm miền Nam sau này, người ta làm thơ về bất cứ những gì liên lạc với con người. Vui buồn, tình ái, tranh đấu, cá nhân, triết lý … Nhiều vấn đề mới, tứ mới mở ra cho họ thi hứng. Thi ca dần dần trở nên một trách nhiệm, một cung cách để sống. Nó không còn là chuyện ngẫu hứng mấy mươi năm trước người ta vui hoặc buồn viết ra giấy dăm bài thơ đăng báo hay xuất bản thành sách… xem chơi. Nó không còn là điều nảy sinh từ những đám hội hè thuốc phiện, buổi hò hẹn, trận mây mưa. Nó không còn là sáng-vật trong vài mươi phút. Cái thời người ta trọng thơ, quá đáng, đồng thời, coi thơ như là một trò chơi; thời ấy đã qua rồi. Thơ hôm nay chính là tiếng nói thống thiết của khát vọng từng cá nhân, nói hẹp, và cả một thế hệ , nói rộng, là thế hệ bơ vơ lạc hướng từ sau 1954. Tâm tình hùng vĩ lớn lao này, cộng với chiến tranh đè nặng từng cá thể, đã là trọng trách của thi ca. Như con người bình thường tin vào tín ngưỡng, bậc vĩ nhân tin vào tài năng, thi sĩ miền Nam, họ đã tin vào sức mạnh thi ca như thế.

Và sự tin tưởng mãnh liệt, cái tiếng nói bằng thơ ấy, nó bị dồn nén, thăng hoa bột phát. Những tâm tình ý vị cũ đều thay bằng một lốt mới, một lốt trong trẻo mạnh mẽ hoàn toàn xa rời không khí ủy mị ngày trước. Ái tình chẳng hạn. Tính chất u uẩn phi lý trong tình yêu tiền chiến hết rồi. Hết thực rồi. Thơ hôm nay, tình yêu thực hơn, mạnh hơn và sống động hơn (dù xót xa hơn). Từ tình yêu tươi vui trong Đinh Hùng[26], thơ mộng mà gần gũi trong Nguyên Sa[27], cho đến ý vị náo nức van lơn trong Thế Viên[28], buồn bực phẫn nộ trong Du Tử Lê, mọi sắc thái đều khác nhau và hiện diện trong đời sống này. Nỗi tươi vui Đinh Hùng thật ra chỉ là bóng dáng khao khát của người luôn luôn sợ bị mất hạnh phúc. Câu chuyện tình Nguyên Sa nói lên sự quay về tế bào thầm kín và nhẹ nhàng nhất một người truân chuyên. Còn mối tình của Du Tử Lê và Thế Uyên phải chăng chỉ là vật lấp đầy khoảng trống thê lương của thanh niên Việt Nam trước xã hội loạn luân và hỗn độn của những năm sáu mươi – bảy mươi. Chiến tranh xã hội nhòa lẫn tâm tình riêng tư nhất của con người, quyện thành keo sơn. Mỗi lần va chạm là mỗi lần chua xót. Trong bài Buổi Chiều ở Pleiku của Kim Tuấn

Buổi chiều ở Pleiku …
Tiếng phi cơ và tiếng súng
Anh còn tiếng nào để nói yêu em

Chiến tranh làm tan ra đôi cảm tình ngày xưa, nhưng chính nó, làm sống dậy những suy tư mới. Mai Trung Tĩnh có thể thảng thốt nhìn chiến tranh bằng con mắt xót xa ghê tởm. Mà Thanh Tâm Tuyền lại xem đó như nốt ghẻ tâm hồn, chịu được thì nhà thơ sống, không được thì chết, và nốt ghẻ bẩn thỉu ấy không thể hủy hoại những phần người còn lại nhà thơ. Trần Tuấn Kiệt xem đời này – và mọi cuộc đời? – là đám lầy rối ra rối rắm, sống với mình theo phong cách Lão-tử xem thế sự là trò chơi. Thì Bùi Giáng tiến thêm bước nữa, lôi lại ra bao nhiêu ẩn ức sâu kín nhất từ tâm hồn ra ngoài ánh sáng chữ nghĩa để theo dõi, đối chọi. Ai ngờ chiến tranh còn tạo nên tác năng hiếm có như vậy: tác năng thúc đẩy nhà thơ quay về cõi huyền nhiệm uyên nguyên của mình, lục vấn tra hỏi. Bầu trời sáng tạo của thi ca, từ xã hội đến chiến tranh, mặc tình lan rộng. Lệ sương trong trắng nhường chỗ máu xương tanh tưởi; những đường viền núi buổi sáng những cánh cung xanh buổi chiều, mãi mãi, hết hết, biến mất cho cây trụi, đại lộ vắng người, đồi trọc ngơ ngác, súng đạn lẻ loi.

Tuy thế sác thái dịu dàng thân mật ngàn đời người Việt vẫn còn tồn tại và rào rạt sống. Trong mỗi nọc độc bưng mủ chiến su, là mỗi nụ hoa tình người. Người ta thấy Tuệ Mai làm thơ thật dịu mà thật sâu sắc, Hoàng Anh Tuấn mơ mộng mà tươi tắn, Viên Linh chán nản nhưng tàng ẩn nhụy non yêu đời[29], Trần Lê Nguyễn xót xa rồi vẫn cảm sống. Chúng ta đòi gì nữa. Miền Nam, không phải tôi nhiều lời, miền Nam là nơi ươm và nuôi tất cả mầm sống từ tiền nhân để lại không chỉ mới vài mươi năm trước, mà trăm năm ngàn năm; không chỉ chữ nghĩa trên giấy, mà hằng hà trăng sao hoa gấm ý tình trong hồn quê hương, một lần nữa, bằng thi ca.

Bốn mươi lăm năm qua, những người tuổi trẻ ngày đầu nay vai nặng dưới thời gian, những kẻ sinh sau đang ngơ ngác tìm đường đi mới. Phấn hương một thời dần dà qua và ý tình thuở trước lần hồi đổ vỡ toang hoang. Năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm, chúng ta nhìn lại đoạn đời tráng lệ buồn rầu trôi, lòng ngậm ngùi. Tro tàn, và hơi ấm cuối cùng còn âm ỷ được bao lâu?

Tháng mười một, 1975

Võ-phước Long

———————————-

[17]Hai câu đầu bài hát nói “Dì Gió”: “Gió hỡi gió phong trần ta đã chán, Cánh chim bằng chín vạn những chờ mong” có khí vị hào hùng và tân kỳ đặc biệt

[18]Từ thơ Trần Dạ Từ

[19] “Bài Ca Thời Loạn”, Vũ Hoàng Chương

[20] “Tâm Thanh Dao”, Trần Tuấn Kiệt

[21] Khảo luận “Một Thời Đại Trong Thi Ca”, phần đầu cuốn “Thi Nhân Việt Nam”, tái bản tại Sài Gòn, 1968

[22] Bài “Trăng” (Thơ Thơ)

[23] Bài “Năm Qua”

[24] “Tây Tiến”, Quang Dũng

[25] “Đôi Bờ”, Quang Dũng

[26] “Xuân Ấm Hương Rừng”

[27] “Áo Lụa Hà Đông”

[28] “Cho Anh Làm Tình Nhân”

[29] “Thơ Cổ”

 

 

 

 

bài đã đăng của Võ Phước Long


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)