Trang chính » Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 26, Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Những gã đàn ông không thụ thai

 

“Tầng ba, phòng 304. Giường tầng, chữ A, của anh nằm trên. Chìa khoá của anh đây.” Thằng đứng quầy mặt hơi choắt nói gọn lỏn.

Tôi lê lết lên chiếc cầu thang chật hẹp. Đằng sau cánh cửa là hành lang dài. Mùi xà bông, mùi thảm cũ. Mùi ẩm ướt tù đọng lâu ngày nồng nặc. Khi vừa mở cửa phòng nhìn vào, tôi đã thốt lên “trời đất!” Căn phòng thật nhỏ kê 2 chiếc giường tầng nối đầu nhau theo hình chữ L. Bốn thằng chui đầu vào ngủ ban đêm thế này có mà thành lợn! Mà những bốn chục bạc một đêm! Khu Midtown, New York mà em. Tôi nghĩ thế.

Bước vào phòng tôi có cảm giác như lội vào vũng nước. Một gã da trắng to lớn rắn rỏi, trạc ba mươi, truồi ra khỏi giường tầng dưới hỏi vọng ra:

“Ở ngoài vẫn mưa à?”

“Ừ. Mưa từ hồi nào?” Tôi hỏi lại.

“Hai ngày rồi!”

Chúng tôi giới thiệu qua loa. Hắn người Úc, đi lông bông đã gần 2 năm chưa về lại xứ sở.

Tôi chui vào phòng tắm kì cọ một trận khá lâu, đến khi chui ra, hơi nước tràn ngập căn phòng. Tưởng như mình sắp nổi bồng lên được. Nó chồm dậy kéo hé cánh cửa sổ nhỏ tí chắn ngay trên cái máy lạnh cũ. Tôi lịch sự:

“Căn phòng nhỏ quá!”

“Ừ. Tao có cảm tưởng đang nằm trong một cái hộp bút.”

Nó làm tôi nhớ lại ngày còn bé cũng có lần tưởng tượng mình được sống trong cái hộp bút bằng gỗ thông nhẵn bóng, sạch sẽ.

“Không đi ra ngoài lấy tí hơi?”

“Mưa to quá nên ngại!”

“Trên đường tới đây tao thấy có nhiều người chào bán dù ở mấy góc đường.”

Tôi nhớ đã thấy những người Tàu chìa bán những cái dù đen ở các góc phố. Không hiểu sao tôi thích thú với sự tưởng tượng rằng ở mỗi góc phố trên khắp thế giới giờ đây đều có người tàu đứng bán dù đen. Bởi cả thế giới đang mưa tầm tã. Mọi người không trao đổi, chỉ vội vàng về nhà đóng cửa.

Leo lên giường nằm một lúc tôi lại buột miệng hỏi:

“Mày không đi đâu thật à?”

“Tao đã từng đến đây lượn lòng vòng New York một lần rồi. Có lẽ tối nay tao sẽ ra Times Square xem phố xá một tí.”

“Mày đi chơi à?” Nó lại hỏi.

“Tao vừa đi công tác bên Boston nên tạt qua đây ít ngày.”

“Bên đấy chắc cũng kịp mưa khi mày còn ở đấy?”

“Ừ!” Đêm trước khi đi, trời đổ một trận thật lớn bên đó.

“Sao lại chui vào đây?” Nó lại hỏi.

“Tuần rồi tao ở khách sạn một mình đâm chán.”

Tôi nhớ lại dẫy hành lang khách sạn sang trọng, vắng ngắt. Chỉ có một hai người phụ nữ Philipine thỉnh thoảng dọn phòng thấp thoáng sau mấy cánh cửa, mà tôi có lúc ước ao được họ trò chuyện và ở lại. Kể cả những buổi tiếp tân và bữa ăn tối đầy ắp sang trọng cũng không làm tôi thoát khỏi cảm giác cô đơn. Tôi chưa bao giờ được nếm những món ăn ngon như thế trong đời. Nói chuyện như máy về công ty và sản phẩm với một vài người. Nhưng tôi không ngừng nhìn những người da đen hầu rượu và thức ăn đang đi lại với cái lưng thẳng băng, nghiêm trang và lịch lãm. Chỉ cách đây không lâu, tổ tiên họ từng bị săn đuổi như những con vật. Ngày đó không có nhiều sự khác biệt giữa một con trâu rừng và người thổ dân Châu Phi. Người da trắng “nhập khẩu” người da đen trên những con tàu hôi hám đầy bệnh tật chết người…

Rồi tôi nói tiếp:

“Bọn Boston làm nghiêm. Tao có ra bar nhưng chẳng ma nào muốn bắt chuyện! Tao để tiền tip, tụi nó cũng chẳng buồn nhặt. Tao ngồi trơ ra uống một mạch cạn ba cốc Samuel Adams rồi đi về.”

“Bostanian! Bọn nó cứng ngắc ấy mà.” Nó lầm bầm rồi cười. Tôi có nghe người ta nói nhiều về bản tính nghiêm túc kiểu cách của người Boston. Họ không thân mật bỗ bã, lạnh lùng và cao ngạo…

“Mày đến đấy chưa?”

“Chưa!”

Tôi nghĩ bụng chưa hẳn thế! Nó như đọc được những gì tôi đang nghĩ, cười và nói:

“Một lần tao bị kẹt lại ở Quảng Đông 5 ngày. Mẹ kiếp tối nào ra bar tụi nó cũng bắt chuyện rất nhiều. Nói như chửi vào mặt mình. Tao đếch hiểu gì cả, chịu trận!” Hai thằng cừơi hô hố.

Tôi chưa đến Quảng Đông nhưng qua những gì nghe kể tôi đoán chắc cũng na ná như khu Chợ Lớn ở Sài Gòn. Người Quảng Đông đi đâu cũng thế, ở cả trăm năm cũng vẫn thế. Chẳng bao giờ tôi quên hình ảnh mấy thằng đàn ông mặc áo lót ba lỗ, ngồi chống chân ngậm tăm, nói như chửi nhau, nhưng toàn những thương vụ mua bán tiền tỉ đầy mánh khóe.

Buổi chiều tôi xuống phố ăn miếng pizza giá ba đồng. Sau đó nhẩy lên tiệm TGI Friday’s ngồi sát cửa sổ nốc hai cốc bia, nhìn xuống con đường sáng choang, đếm xe tắc xi ướt loang loáng. Đếm không xuể, xe tắc xi nhiều hơn xe thường! New York đúng nghĩa là một thành phố đa chủng. Sự hiện diện của tất cả các sắc dân trên thế giới làm khó có thể định nghĩa đây là thành phố Mỹ theo quan niệm cũ. Nó thực ra giống như một hình ảnh của một thành phố tiêu biểu trong tương lai vậy, hổ lốn, chộn rộn, đông đúc. Ngày nay chẳng còn gì sót lại trên thế giới để khai phá hay đồng hoá nữa, tất cả chỉ tiếp tục chộn rộn và đổ xô. Tôi không biết rồi trong tương lai người ta sẽ định nghĩa các quốc gia thế nào, có lẽ chỉ còn tính trên mặt địa lý và chính trị, còn văn hoá và bản sắc thì không. Ở ngoài kia dân du lịch làng nhàng đang chen vai đổ về khu Broadway mua sắm, ở đấy người ta chào bán đủ các loại thượng vàng hạ cám, kể cả mắt kính đồng hồ giả mạ vàng hoặc đính kim cương,… Người ta đổ xô và lựa chọn nhưng thật ra chẳng có sự lựa chọn nào cả. Ngày trước tôi nghĩ người ta sẽ không cảm thấy cô đơn khi đã trưởng thành và cứng rắn. Lúc này tôi hiểu ra điều đó không hoàn toàn đúng.

Ngồi độ hơn tiếng đồng hồ, tôi ghé qua tiệm rượu của người Trung Đông lấy sáu chai bia Pale Ale mang về phòng. Khi tôi bước vào rũ những giọt nước mưa, nó vẫn ngồi đắp chăn hệt như lúc tôi đi ra, tay gập lại cuốn tiểu thuyết loại ba xu. Ở mấy phòng trọ rẻ tiền vẫn thường để độ dăm cuốn nát nhàu như thế cho người ta giết thời gian. Tôi chìa một chai:

“Mày làm cái này đi”

“Loại này được nhưng đắt.” Nó mở chai bia rồi hỏi:

“Mày mua hết bao nhiêu?”

“Tiệm nhỏ đầu phố nên đắt. Chín đồng tính cả thuế.”

Nó móc túi đưa tôi đồng rưỡi dù tôi đã bảo nó không phải trả. Tôi nốc một hơi rồi hỏi:

“Mày không ăn uống gì à?”

“Không thấy muốn ăn. Tao hơi hơi khó chịu trong bụng!”

“Chắc cũng chẳng ra Times Square?”

“Chắc không. Hình như vẫn mưa!”

“Vẫn mưa” Rồi tôi hỏi tiếp:

“Mày tính ở đây bao lâu?”

“Ngày mai tao đi rồi.”

“Đi đâu?”

“California”

“Ở đâu?”

“Loanh quanh. Tao sẽ cắm trại ở Yosemite vài ngày.”

“Mày đến đấy chưa?”

“Đến rồi”

“Rồi đi đâu nữa?”

“Chưa biết.”

Rồi chúng tôi tán dóc về Úc Châu. Nó kể cho tôi nghe câu chuyện chết chóc tàn khốc của những người thổ dân khi người da trắng di cư ồ ạt đến lục địa rộng lớn này. Chuyện người ta ghi chép lại hoặc tìm hiểu những bức tranh hang động về “Dreamtime,” truyền thuyết về một thời kỳ trước khi có cả thời gian mà người thổ dân tin rằng tất cả đều bắt đầu từ dưới lòng đất. Rồi một ngày nọ, tất cả trỗi lên để cấu tạo bầu trời, nước, cây cối và muông thú. Từ đó họ thờ cúng, sùng bái và liên hệ tất cả mọi sự hiện hữu với đất đai.

“Ngày nay còn ai sống đời sống thổ dân hoang dã không?” Tôi hỏi ngây ngô.

“Không. Chẳng còn tí gì như thế nữa cả”

Cả những đức tin cũng mất sạch. Chỉ có những hình ảnh vẽ lại các truyền thuyết trên hang động là còn.

Khi câu chuyện non dần, tôi hỏi:

“Mày gốc người gi?”

“Ông tao người Scotland.”

“Mày về Scotland chưa?”

“Tao không muốn về.”

“Sao thế?”

“Không biết.”

Nguồn gốc là đề tài đã cũ. Ai cũng di chuyển, ai cũng ít nhớ về nơi ngày xưa tổ tiên mình bắt đầu thế nào. Sự vận động chung đã xoá nhoà đi các biên giới văn hóa. Ai cũng thả lỏng. Ai cũng tự do. Ai cũng giả vờ và bất ổn.

Cứ thế chúng tôi tán dóc rõ lâu. Khi hai thằng trọ phòng kia về thì trời đã khuya, tôi và bọn nó giới thiệu qua loa rồi lăn ra ngủ. Đêm ấy tôi mơ loáng thoáng về những người Châu Âu lang thang thời Trung Cổ. Họ như những cái bóng đơn độc hắt lên khoảng sáng nào đấy khi trời đã bắt đầu tối. Không chắc họ đã kiến tạo nên những điều ghê gớm gì, và không hiểu vì sao họ phải lang thang. Có lẽ do lâu quá rồi, họ không còn biết chắc vì sao lại như thế!

Sáng hôm sau tôi xuống phố từ sớm khi bọn chúng còn đương ngủ. Tôi muốn tranh thủ xem viện bảo tàng và thăm thú một vài nơi. Đến khi bước ra khỏi viện bảo tàng về tình dục, thấy trời vẫn mưa tầm tã nên tôi lại quay về khi mới chỉ vừa quá trưa.

Trong phòng người dọn phòng đang dọn dẹp chiếc giường giờ đây đã trống không của nó, tháo tấm trải giường màu trắng. Trên tấm vải, vào khoảng vùng bụng dưới của người nằm có những vết máu lớn bằng 2 ngón tay. Thấy tôi nhìn chằm chằm vào những vết ấy, ngừơi dọn phòng nhún vai, bó tròn tấm vải vào chiếc rổ lớn. Khi đã dọn dẹp chiếc giường tinh tươm trở lại, bà ta dợm bước ra cửa, nhưng như kịp nghĩ ra điều gì, quẳng lại một câu:

“Lẽ ra, nếu kiểm tra trước, những người bất cẩn như thế phải trả tiền bồi thường tấm vải đấy!”

“Thừơng cái con củ C. Đi mà giặt giũ lại cái thế giới đang ướt nhèm!” Tôi chửi bậy trong đầu.

Tôi kéo cánh cửa sổ bé tí cố lấy ít hơi bên ngoài. Một hình vuông xám sáng. Không thấy cả một gợn mây. Trời vẫn mưa đều đều. Tôi nhảy tót lên giường nằm, cảm thấy yên ổn và một mình, hoàn toàn một mình, như luôn luôn thế.

Tôi nghĩ lại những chuyện nó kể tối qua về lục địa Úc Châu, nghĩ lại về giấc mơ tối tăm của mình. Dù tôi cũng có vô khối câu chuyện về những người sống ở vùng duyên hải xứ nhiệt đới, tôi đã không trò chuyện về xứ xở trước đây của mình. Tổ tiên tôi cũng từng thất thủ nhục nhã bị chinh phục bởi người phương Tây. Trước khi rơi vào giấc ngủ, tôi loáng thoáng tiếp tục nghĩ về những đốm máu trên tấm vải. Thằng chết dấp khốn khổ như thế là tháng này nó có kinh vàkhông thể thụ thai! Những người đàn ông không thể thụ thai sẽ không sinh nở được và phải lang thang, quanh quẩn để tìm kiếm. Cứ thế có khi cho đến lúc chết.

bài đã đăng của Nguyễn Danh Bằng


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)