Trang chính » Biên Khảo, Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 25, Nhận Định, Song ngữ Email bài này

Tháng Tư đã đi qua

Tháng Tư đã đi qua
Phùng Nguyễn

 

The Passing of April…
English version edited by Đinh Từ Bích Thúy

 

Những ngày cuối cùng của tháng Tư đóng lại (tạm thời) chủ đề Chiến tranh của tạp chí damau.org. Bất hạnh thay, chiến tranh không và sẽ không dừng lại dù chỉ tạm thời. Ở một hay nhiều nơi nào đó trên hành tinh này, máu và nước mắt tiếp tục đổ xuống.

Xin nói ngay là người viết không có ý định tổng kết các tác phẩm đăng tải trên ba số tháng Tư 2007 của damau.org. Số lượng đồ sộ cộng với sự bao quát và đa dạng về đề tài cũng như thể loại khiến cho công việc này trở nên khó khăn dưới áp lực của thì giờ. Cần có thì giờ và cả khoảng cách để không chỉ thấy cây mà cả rừng cây. Do đó, những điều trình bày ở đây thực ra chỉ là những cảm giác có được từ nội dung những số tháng Tư.

Chiến tranh bao hàm sự tàn phá, và chiến tranh là tàn phá. Những hình ảnh trong thơ Paul Celan, thơ Nguyễn Tiến Đức, thơ Lê An Thế, thơ Trần Lý Nhiên Đăng, truyện Tim O’Brien, truyện Kinh Dương Vương, truyện Spôjmai Zariâb, truyện Trần Mộng Tú, truyện Kinh Dương Vương, truyện Đặng Thơ Thơ v.v… đã nói lên điều này. Tàn phá không chỉ vật chất, mà toàn diện.

Nhưng đó là những điều đã được biết đến, đã được nói đến. Các tác giả đóng góp cho chủ đề này trên các số damau.org đã tiếp cận chủ đề Chiến Tranh như thế nào để không phải dẫm lên những tư tưởng và từ ngữ sáo mòn của những người đi trước?

Chiến tranh là vết chàm hình chữ S trên cơ thể (và không chỉ trên cơ thể) của Monique Trương, là nỗi hổ thẹn phải mang mễnh biểu tượng của cốt nhục tương tàn (Có Thực và Khiếm khuyết). Là lời tỏ tình thơ mộng và trễ tràng qua câu thơ chín chữ của Dương Như Nguyện (Chín Chữ của Nàng). Là tiếng đàn lẫn trong tiếng cuốc xẻng va chạm nhau trong khi đào huyệt kể lại bởi Paul Celan (Giao Khúc Chết). Là câu chuyện nghe lại từ người mẹ về người tù trẻ măng tháo nhẫn cưới đổi nửa miếng bánh mì khô của Lưu Diệu Vân (Câu chuyện 1975 của tôi). Là những giọt nước mắt khô ba mươi năm bỗng vỡ nứt và tuôn ra trong Bình Thủy 1969 của Trần Mộng Tú (Bình Thủy 1969). Là sự tương phản gay gắt giữa chùm nho và những đôi giày đinh của Spôjmaï Zariâb (Những Chiếc Giày Đinh Trong Mê Sảng). Là chuyến bay “di tản” dài hai mươi năm hướng về hành tinh Gliese 581c (Gliese 581c). Là viên đạn lạc từ trên tầng trời cao bổ xuống số phận Lê Anh Hoài (Viên Đạn Lạc). Là lịch sử được xáo trộn, lật ngược, và soi rọi từ một góc cạnh vô cùng bất ngờ bởi Đặng Thơ Thơ (Lịch Sử Nhìn Từ Âm Bản). Và nhiều, rất nhiều những cung cách diễn đạt mới lạ về một điều mà, theo Lưu Hy Lạc, tưởng chừng như đã cũ mèm.

Trước và trên hết, chiến tranh được sử dụng cho việc hợp thức hóa, một cách lập đi lập lại không mệt mỏi và cho đến một lúc nào đó đã tự nó trở thành, sự trá ngụy. Đinh Linh đề cập đến điều này trong nhận định về Appocalypse Now của Francis Coppola. ‘Ðây là một cuốn phim mà Coppola tuyên bố một cách ngạo nghễ “không phải là về Việt Nam — nó là Việt Nam.”’ (Khải Huyền Dối Trá) Theo Đinh Linh, ‘Phim này, như vậy, thực ra là về một bầy những tên da trắng, kể cả Coppola, lội sâu vào quả tim đen tối của chính bọn họ. Chắc chắn nó không phải là về Việt Nam. Tôi cũng không dám chắc nó là một phim chiến tranh Việt Nam.’

Nhất định Việt nam không cần một cuốn phim như thế! Cũng như cư dân Dresden (Kurt Vonnegut và Những Thành Phố của Tro Bụi) không cần phải chịu đựng trận bom lửa của Đồng Minh vào những ngày cuối cùng của Thế Chiến thứ Hai. Hiroshima và Nagasaki thì sao, ai trong chúng ta có câu trả lời? Và Baghdad? Darfur? Tiếng chim gáy trong giấc mơ cuối cùng của Thuận là biểu hiện của hành động chối bỏ, dù trễ muộn, sự cần thiết của một hay nhiều cuộc chiến tranh “thần thánh,” nhân danh một hay nhiều điều vĩ đại, cao quí nhất (Chim Gáy Sau Vườn).

Như chiếc vòi bạch tuộc ma quái và nhầy nhụa, chiến tranh luồn lách mọi nơi chốn, mọi thế hệ, và biến thành nạn nhân những người nó có thể chạm đến. Nạn nhân là những kẻ bị mất mát một hay nhiều điều. Mạng sống. Tự do. Cơm áo. Quê hương. Thơ ngây. Những người thân yêu. Những vật không muốn lìa xa.

Chiến tranh, ngay cả ở hồi kết cuộc, vẫn không nhanh chóng giảm thiểu những tác hại của nó. Trong và sau chiến tranh là lưu đày. Gốc rễ bị bật tung, thân bị cắt ngang, đốn gục. Cái mang theo là những manh mún của một điều đã hoặc đang chết.

Trong Gliese 581c, Đinh Từ Bích Thúy thử đề nghị một giải pháp cho nạn nhân chiến tranh: một chuyến “vũ trụ vận” dài 120 ngàn tỉ dặm đưa họ đến hành tinh 581c với tất cả những “di sản” họ được phép chọn mang theo. Đây là một nỗ lực đáng ca ngợi về phần tác giả, bất kể những mỉa mai về sự bất lực của nhân loại đối với thế lực gây chiến, vì đã bật lên tia lửa nhỏ, dù hư ảo, phía trên hậu cảnh u ám của chiến tranh. Tuy nhiên, như chính tác giả thú nhận, lưu đày là lưu đày là lưu đày, bất kể cái tên được gán cho và nơi chốn được sắp đặt.

Không rời khỏi mặt đất, tuy vậy, Đặng Thơ Thơ đã đẩy được khái niệm phát triển trong “Gliese 581c” đi xa hơn: không cần giải pháp. Bởi vì không có lưu đày sau chiến tranh! “…Những nhà tù sẽ phải phá đi. Ba mươi năm qua chúng ta đã chơi một trò chơi điên rồ, và cám ơn Trời Phật, trò chơi đã chấm dứt” (Lịch Sử Nhìn Từ Âm Bản). Sẽ không có gốc rễ nào bật tung, không thân cây nào bị đốn gục. Chỉ có “một vết nứt rất tình cờ. Chính vết nứt đã làm mọi thứ không thể khít khao ăn khớp với nhau được nữa.” Đúng vậy, Đặng Thơ Thơ thân mến, vết nứt sẽ mở ra một vực thẳm hư vô nhận chìm cái ước vọng nhìn/sắp đặt lại lịch sử của bất cứ ai.

Nếu là vậy, liệu nạn nhân chiến tranh còn có thể giữ lại được những gì? Nhất định là có. Những vần thơ. Của Paul Celan và của những thi sĩ “nhân chứng” khác được hay không được đề cập trong “Thi Ca Nhân Chứng Thế Kỷ 20″ . Trong tập “Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến” do Trần Hoài Thư và bạn hữu sưu tầm. Trong Chiến Tranh Việt Nam và Tôi của Nguyễn Bắc Sơn. Tựu trung, cái có thể giữ được (và không phải dễ dàng để giữ được) trong mất mát chính là tình người, giữa cheo leo tử sinh và thiện ác. Trong bất hạnh tột cùng, chính là điều này đã cho nạn nhân chiến tranh cái khả năng gượng dậy.

Tháng Tư, cho dù có khắc nghiệt*, đã đi qua. Chiến tranh thì chưa. Có lẽ chúng ta nên, như Đỗ Lê Anhdao,

… áp mình lắng nghe và ghi nhớ
khi người ta quá sẵn sàng quên lãng những cuộc chiến của quá khứ
để bắt đầu những cuộc chiến của
tương lai.

————————
Ghi chú:
* “Tháng Tư là tháng ác nghiệt nhất…”
T.S. Eliot, Đất Hoang (The Wasteland)

The last days of April also mark the (temporary) end of Damau’s “War” topic. War itself, unfortunately, has not, and will not, stop[ped] even for a short moment. Somewhere on this planet, blood and tears continue to shed for questionable goals.

 

First of all, it is not my intention to provide a thorough analysis of articles published in the last three consecutive Damau issues (23, 24, 25). A huge amount of works that are diverse in genres as well as subject matters has made it very difficult for me to accomplish the task, especially when working under time pressure. What is needed (but has not been granted) is a generous span of time and a reasonable “distance” to ensure that the topic of War and its literary responses—like the forest and its trees–can be properly observed. Thus, what is expressed here simply reflects broad impressions gathered from reading Damau’s April issues.

 

War depicts destruction, and is itself destruction. Poems written by Paul Celan, Nguyen Tien Duc, Le An The, Tran Ly Nhien Dang, and stories told by Tim O’Brien, Kinh Duong Vuong, Spôjmai Zariâb, Tran Mong Tu, Dang Tho Tho speak loudly for this fact. War implies not only the physical, but also holistic annihilation of the known and tangible world. This systematic destruction, however, has been depicted again and again in the realm of literature. How do our contributing authors approach the multifaceted destruction of war without treading on the footsteps of their predecessors? How can writers write about war without sounding trite or sentimental?

 

War is the S-shaped tattoo on Monique Truong’s body (and not only on her body), the discomfort of being marked for a country that waged war against itself (Real and Flawed). War yields the romantic yet belated nine-word poem by Duong Nhu Nguyen (Her Nine Words). War is the symphony of music and the thud thud of the grave diggers’ tools captured by Paul Celan (Todesfuge). War reconstructs hunger in the story of a wedding ring sold for a small piece of bread as told by Luu Dieu Van’s mother (My Story of 1975). War is glimpsed through a widow’s 30-year-old crystallized tears that, like in an ancient Vietnamese fairytale, suddenly liquefy through the release of pent-up grief (Tran Mong Tu, Binh Thuy 1969). War marks the sharp constrast between grapes and military boots (Spôjmai Zariâb, Combat Boots in Fevered Dreams). War projects the twenty-year long “evacuation” to planet Gliese 581c (Dinh Tu Bich Thuy, Gliese 581c). From the sky, war shoots the arbitrary bullet that implodes Le Anh Hoai’s fate (The Stray Bullet). War rewrites, reshuffles, and redreams history from the most unexpected angle in Dang Tho Tho’s History, A Photo-Negative View. And in unique, postmodern fashion, other authors have also spoken of the “horror” that, according to Luu Hy Lac, has been mistakenly thought to be an old, cliché refrain.

 

Most importantly, war has been used to justify other dark, ulterior motives, repeatedly and tirelessly until it has become unalienable from lies. Dinh Linh mentions this in his review of the movie “Apocalypse Now.” ‘This is a movie that Coppola famously declared “is not about Vietnam – it is Vietnam”.’ According to Dinh Linh, ‘This movie, then, is really about a bunch of pale guys, Coppola included, wading into their own hearts of darkness. It is certainly not about Vietnam. I’m not even sure it’s a Vietnam war movie’ (Apocalypse Lies). Obviously Vietnam doesn’t need such a movie. The inhabitants of Dresden did not need the Allies’ brutal and vainglorious show of force in the last phase of second World War. What about Hiroshima and Nagasaki? Who among us have the answers? And Baghdad? Darfur? The mourning dove calls in Thuan’s final dream is a symbolic, though belated, rejection of the need to wage wars, “holy wars” included, in the name of great ideals and honors (Phung Nguyen, Mourning Dove Calls in Garden).

 

Like an octopus’s wily tentacles, war lurks in every place, every generation, creating havocs, making victims of those caught in its omnipresent grasp. War victims are those who have lost one or more precious things. Life. Freedom. Livelihood. Homeland. Innocence. Loved ones. Even at the end of a war, devastation does not immediately cease. During and after a war, there is exile. Lives are deracinated, chopped off, brought down. Baggage for the exiled is nothing but debris of dead or dying lives.

 

In Gliese 581c, Dinh Tu Bich Thuy offers war victims a solution: a 120 trillion mile ‘spacelift’ to the newly discovered planet with all the “legacy” the refugees are permitted to bring along. This is indeed a plausible effort, in spite of the current cynicism concerning the helplessness of human against warmongering forces–in starting a tiny spark of light, however illusory, to shine on the gloomy backdrop of war. Nonetheless, as acknowledged by Dinh Tu Bich Thuy, exile is exile is exile regardless of what it may be called and where it may take place.

 

While not leaving planet Earth, Dang Tho Tho is able to push the concept developed in Gliese 581c a step further: no solutions are needed. Because there will be no exile once war ends in true peace. “… Prisons shall be demolished. We had played a foolish game for the last 30 years, and thanks God, it is now over.” There will be no roots to be uprooted, no trees to be brought down. However, there remains “a small, random crack. The very crack that renders things ill-fitting, repellent.” It’s very true, my dear Thơ Thơ. The crack—South Vietnam’s defeat, or the collective death of an entire era–reveals an unfathomable abyss of losses and obliterates all attempts to reassess and rewrite history.

 

Are there valuable things that war victims can keep for themselves? Certainly there are: Poetry by Paul Celan and by other “witness” poets whose works are cited or mentioned in Carolyn Forché’s anthology “Twentieth-century poetry of witness.” Poems in “South Vietnam poetry in Wartime” collected by Tran Hoai Thu and his friends. In “The Vietnam War and I” by Nguyen Bac Son. In all, the one thing that is difficult to cherish but still needs to be cherished, in the midst of unspeakable sufferings, is humanity, dangling precariously between life and death and good and evil. Humanity is the sole virtue that helps war victims to rise again from the ashes of their extreme fates.

 

April, however cruel*, is about to end. War, in the meantime, has not. Perhaps, like Do Le Anhdao, we should

 

… stretch to listen and to remember
when they so easily forgot the wars of the past
to start the wars of the future

————————-
Notes:

* “April is the cruellest month….”

T.S. Eliot, The Wasteland

 

 

 

bài đã đăng của Phùng Nguyễn


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)