Trang chính » Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 23, Dịch Thuật, Sáng Tác, Song ngữ, Trích đoạn tiểu thuyết Email bài này

CHÍN CHỮ CỦA NÀNG


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 27.01.2007

CHÍN CHỮ CỦA NÀNG
Dương Như Nguyện
Dương Đức Nhự chuyển ngữ

HER NINE WORDS
Dương Như Nguyện

(Trích từ truyện ngắn đầu trong tuyển tập truyện ngắn cùng tên, Chín Chữ của Nàng (Văn Mới: 2005). Truyện cũng là một chương trong tiểu thuyết tiếng Anh Mimi and Her Mirror của Dương Như Nguyện (AmazonEncore, 06.2011) như truyện tiếp nối (sequel) của Daughters of the River Huong (Những Người Con Gái Sông Hương).(Bản dịch này dùng cách đánh vần mới)

Mùa thu 1976, Hội Sinh Viên Việt Nam tại Southern Illinois State University (SISU) tức Đại Học Nam Illinois có chừng hai chục hội viên. Đa số học ngành kĩ sư hoặc kế toán, và có học bổng từ hồi mới sang Mĩ trước 75. Sau khi Sài Gòn sụp đổ, phải cần cả một năm trời để họ điều chỉnh tình trạng di trú, thay đổi chương trình tài trợ sinh viên, ổn định tinh thần và tiếp tục đời sống. Lúc đầu không ai để ý, nhưng dần dần trong Hội ai cũng biết chuyện Chàng Khùng. Như một đạo sĩ kì dị, hắn thiết lập bản doanh tại hành lang tòa nhà Krost Hall, nằm giữa Trung Tâm Sinh Viên và Tòa Nhà Hành Chánh Woody. Hắn ngồi trên một tấm chăn, nhiều khi hắn đứng, khua chân múa tay và lẩm bẩm một mình. Quanh hắn là những truyền đơn và quảng cáo về tự do, dân chủ trong khối Thế Giới Thứ Ba.

Trong nhóm sinh viên Việt Nam, mọi người đồn đại về cuộc đời hắn. Trước kia, hắn từng là một sinh viên tiến sĩ tại phân khoa Khoa Học Chính Trị. Hắn xuất thân từ một gia đình cách mạng. Cha hắn là một anh hùng trong kháng chiến chống Pháp, ông chết trận tại Điện Biên Phủ. Người anh cả nuôi hắn. Ông này là Chánh Sở An Ninh phủ Tổng Thống của chánh phủ Sài Gòn. Một hôm, ông đưa người em ra máy bay, và kế đó, người thanh niên này đã có mặt tại SISU, nơi có Trung Tâm Việt Học. Ai cũng biết tham vọng của Chàng Khùng là về nước tranh cử chức vị. Hắn không dè dặt, giấu diếm giấc mơ này. Mục đích của hắn là trở thành Tổng Thống của Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng đó là khi còn chưa mất nước, còn có một nước để làm Tổng Thống. Mùa thu 1975, anh hắn ở trong trại tù cải tạo, và chàng Tổng Thống-sẽ-thành của một nước cộng hòa ở Đông nam Á thấy mình trở thành Phó Giám Đốc nhà hàng ăn Steak & Ale trên con đường từ phi trường Mirian, Illinois về Đại Học Nam Illinois.

Mùa thu 1977, hắn từ bỏ luận án tiến sĩ và việc làm ở Steak & Ale. Tòa nhà Krost Hall, nơi có phân khoa Khoa Học Chính Trị, trở thành trú sở thường xuyên của hắn. Hắn quyên tiền đóng góp để tái thiết một nước Việt Nam mới, và loan báo cho quần chúng sinh viên biết rằng cuộc chiến giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam chưa chấm dứt.

Lần đầu tiên tôi gặp hắn ở Krost Hall, hắn đưa cho tôi một tờ truyền đơn. Tờ truyền đơn đặt câu hỏi: “Cuộc chiến ở Việt Nam thuộc về Mĩ hay thuộc về giai cấp trung lưu của Nam Việt Nam?”

Tôi hỏi: “Ai là giai cấp trung lưu của Nam Việt Nam?”

Hắn nhìn tôi, rõ ràng là hắn khám phá ra những đặc điểm di truyềntrên mặt tôi. Hắn trả lời giản dị, có lẽ quá giản dị: “Cô và tôi.”

Sinh viên tò mò đứng thành một vòng tròn quanh hắn. Cứ như thế kéo dài mấy tháng đầu. Rồi người ta bỏ mặc hắn. Chẳng bao lâu, đa số sinh viên ném truyền đơn của hắn vào thùng rác ngay trước mặt hắn. Cứ như thế được một năm. Và hắn trở thành một cảnh thông thường trước lối vào Krost Hall.

Cứ mỗi lần đi cạnh Krost Hall là tôi thấy hắn. Chúng tôi nhìn nhau. Một hôm, tôi vứt tờ giấy bạc một đôla vào cái hộp của hắn, hắn chăm chú nhìn tôi. Với chiều cao 5 bộ 11, hắn cao hơn hầu hết những người Việt Nam khác cùng thế hệ. Hắn cũng đen hơn và vạm vỡ hơn. Cặp mắt sáng, làn da nâu ánh, hai bàn tay to, xương xẩu, rắn chắc, với những ngón tay dài, vuông đầu. Tóc hắn cắt rất ngắn. Cằm vuông, đầy đặn, đôi môi mím chặt, cái mũi nhọn khiến tôi nhớ đến chàng tài tử Mĩ đen Sidney Poitier. Một năm trước khi Sài Gòn mất, tôi đã coi một phim tại Hội Việt Mĩ về một ông khách da đen tới dùng cơm. Từ đó, tôi không quên bộ mặt của người tài tử da đen này.

Chàng Khùng là thể hiện Việt Nam của Sidney Poitier. Thắm thiết, mạnh mẽ, và công chính. Hắn có thể trở thành một nhà cách mạng. Một nhà lãnh tụ.

. . . .

“Tôi phải gọi cô là gì?” Hắn hỏi.

“Tôi chỉ là Mi. Mi.”

“Bây giờ, hãy nói chuyện phát-âm-học. Trong tiếng Việt và tiếng quan thoại, ‘Mĩ’ nghĩa là đẹp. ‘Mĩ’ cũng có nghĩa là nước Mĩ. Nước Mĩ đẹp. Với một thanh điệu khác, Mĩ khiến tôi nhớ đến Mị nương, tên của nàng công chúa con vua Hùng.”

Tôi gật đầu. Tôi biết “Mi” nghĩa là gì.

“Hay cô có thể là Michelle. Michelle ma belle. Ce sont les mots qui vont très bien ensemble. Très bien ensemble.” Hắn nói tiếp.

Thì ra Chàng Khùng là một người mê nhạc Beattles. Giống như những người khác.

Tôi bỏ hắn quay đi, vừa đi vừa cảm thấy khổ sở. Không còn nước Việt Nam Cộng Hòa nữa. Nó đã bị thay bằng nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa. Ở đó, không có người Việt Nam nào bỏ phiếu cho Chàng Khùng, cho dù có một cuộc tổng tuyển cử xẩy ra, nhất là chàng chỉ đứng phát truyền đơn ở Nam Illinois.

*

Những tờ giấy bạc một đôla của tôi tiếp tục rơi vào trong cái hộp của Chàng Khùng. Một hôm, hắn tuyên bố:

“Cô có muốn thành một Đệ Nhất Phu Nhân không?”

“Anh nói cái gì?” Tôi giật mình hỏi. Hắn đã nói ra giấc mơ của tôi. Sinh ra trong một xã hội Khổng Mạnh, tôi không có hi vọng gì trở thành một nữ Tổng Thống. Cho nên tôi đành chịu làm Đệ Nhất Phu Nhân vậy. Tôi không bao giờ nói điều này ra với bất cứ một ai. Giấc mơ ấy, dù quái dị, đã chết đi khi Sài Gòn sụp đổ.

“Tôi muốn lấy cô làm vợ!” Hắn nói.

“Anh thật là khùng.”

“Đó chính là điều người ta nói về tất cả những vĩ nhân không chịu làm người tầm thường. Tôi nói thực đấy, tôi muốn cưới cô.”

“Tại sao?

“Cô thực sự là một Đệ Nhất Phu Nhân. Một thứ Đệ Nhất Phu Nhân. Như tôi vậy.”

“Tôi thành hôn bây giờ thì còn quá trẻ.”

“Người ta không bao giờ quá trẻ để biết yêu và để được yêu.”

Nói đến tình yêu làm tôi càng thêm buồn, biết rằng cha mẹ tôi sẽ không bao giờ chấp nhận một thanh niên không có việc làm, một gã vô nghệ. Tôi nhức nhối bước đi, ý thức rằng hắn đang nhìn theo.

Từ bữa đó trở đi, mỗi lần tôi đi qua Krost Hall, hắn lại nháy mắt với tôi: “À, chào Đệ Nhất Phu Nhân của tôi!”

*

Thời tiết trở lạnh hơn, khóa học tiếp tục, và mùa thu đang tới gần. Lá đang đổi màu.

Chàng Khùng không đứng nữa. Hắn ngồi xuống nền đá, quấn mình trong tấm chăn bẩn. Một bữa kia, hắn lại bảo tôi:

“Tôi muốn cưới cô làm vợ. Cô là người đàn bà đẹp của tôi.”

“Tại sao anh lại làm như vậy?” Tôi sắp sửa khóc.

“Làm cái gì hả cô?”

Tôi trỏ vào những tờ truyền đơn. “Chúng chẳng có ý nghĩa gì.”

“Cô đừng bao giờ nói với tôi như thế.”

“Xin lỗi. Tôi chưa đầy hai mươi tuổi. Tôi không biết gì nhiều.”

Tôi nhìn gần hơn vào mặt hắn. Rõ ràng đó là biểu hiện Việt Nam của nét mặt Sidney Poitier. Cặp mắt nẩy lửa, mép môi mím chặt tỏ ra là một người thẳng thắn, bướng bỉnh, chịu chấp nhận số phận, và nguồn cội, với niềm kiêu hãnh tuyệt đối.

“Tại sao tôi lại phải lấy anh?” Tôi thay đổi câu chuyện.

“Vì tôi biết cô có một cái bụng đẹp và một cái rốn gợi cảm.”

Tôi đỏ mặt. Dĩ nhiên, là một thiếu nữ đoan chính, khiêm cung, tôi như bị điện giật, và cảm thấy bị xúc phạm. Từ khi Sài Gòn sụp đổ, tôi đã trở nên dè dặt và lặng lẽ hơn. Nam giới lấn tới luôn là một đe dọa đối với tôi.

“Da cô mịn láng, với một hàng lông tơ nhỏ chạy từ rốn tới bụng dưới…” Cặp mắt hắn nhắm lại. Hắn đang mơ màng trong thế giới riêng của hắn, và sẽ chẳng để ý nhiều tới phản ứng của tôi.

“Anh thật khùng.” Tôi thở dài.

“Cuộc đời còn có gì đáng sống hơn là theo đuổi một chính nghĩa và rúc đầu vào bụng người đàn bà mình yêu mà hôn cái rốn của nàng!”

“Anh không yêu tôi. Anh chỉ vì anh thôi.” Tôi bỏ chạy, vừa chạy vừa kêu lớn.

“Anh thô lỗ và vô trách nhiệm. Và anh đang đùa giỡn với tôi.”
Tôi thấy giận hắn, và thấy bị đe dọa bởi những nhận xét “sensual” của hắn. Nhưng một cảm giác mơn man cứ kéo dài trên vùng bụng dưới của tôi mỗi lần tôi nhớ tới những gì hắn nói. Cảm giác ấy làm tôi bận tâm. Tôi quyết định không bao giờ cho hắn tiền ăn trưa của tôi nữa.

*

Mùa thu tới trong vẻ đẹp bi thương, với lá vàng bay trong không khí lạnh. Khi đi bộ trong khuôn viên đại học, tôi quấn mái tóc dài quanh cổ. Bạn cùng lớp gọi tôi là “cô gái đông phương gầy ốm tóc quấn quanh cổ.”

Đã nhiều tuần tôi không đi qua Krost Hall. Vì tôi bận học. Rồi một bữa kia tôi phải đi qua khu rừng giữa Krost Hall và thư viện Morris để tới Tòa Nhà Truyền Thông và Nghệ Thuật. Để tập kịch. Ở phía bên kia khu rừng.

Trên những bậc thềm của Krost Hall, không thấy Chàng Khùng nữa. Hắn đã đi rồi.

Không còn tấm chăn. Không còn những cuộc nói chuyện ngu xuẩn. Không còn truyền đơn hay quảng cáo. Không ai nhớ hắn cả. Cũng không ai để ý là hắn đã đi rồi. Đã có lần tôi nghĩ là người ta sẽ đặt hắn vĩnh viễn trên vỉa hè Krost Hall, như thế hắn sẽ thành một cơ chế. Như là cơ chế Krost Hall.

Tôi đứng ngay chỗ hắn vẫn đứng. Tôi ngơ ngác và bất ngờ cảm thấy mất mát. Tôi đi qua tấm cửa kính đúp. Vào Krost Hall. Ở bên trong, tôi lượm một tờ báo của trường đại học. Ngay trang đầu có một bài về Chàng Khùng. Hắn đã bị những nghi can vô danh đả thương. Cảnh sát đang điều tra.

Bài báo nói rằng hắn ta rất khỏe, và đã chiến đấu can đảm như một chiến sĩ, tuy nhiên thái độ anh hùng đó đã dẫn hắn tới bệnh viện, khu săn sóc khẩn cấp.

Bài báo nêu lên mọi giả thuyết. Đạo tặc ư? Không chắc, vì hắn không có gì trên người, và hộp tiền của hắn, đầy tiền cắc và những tờ giấy bạc một đôla, vẫn nguyên vẹn. Thù hằn ư? Nỗi cay đắng của những cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam? Hay là những cha mẹ Mĩ mất con ở Việt-Nam đã trả thù những người tị nạn mới tới? Hay là đoàn viên hội “da-trắng-là-nhất” vẫn hiện diện không định danh được ở miền nông thôn Nam Illinois? Hay chỉ là hận thù cá nhân?

Dù sao chăng nữa, biến cố này đã xẩy ra trong một đại học thanh bình, tự do, bên ngoài một tòa trú sở của những phân khoa Lịch Sử, Khoa Học Chính Trị, Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn. Một biến cố như thế chưa bao giờ xẩy ra tại Nam Illinois và SISU thường vẫn ngủ yên. Những kẻ tấn công có ý định giết chết hắn.

Bài báo tiếp tục nói về luận án dở dang của hắn. Hắn đã viết về cuộc chiến đấu chống thực dân và cộng sản tại Việt Nam và hắn xây dựng một mô hình tái thiết vùng thôn quê. Khai thác dầu hỏa dọc theo bờ biển. Xuất cảng gạo. Tiến đến hoàn toàn chấm dứt viện trợ kinh tế và quân sự của Mĩ, Nga, Tàu.

Hắn nói về việc xây dựng một giai cấp trung lưu mạnh, về tự do ngôn luận phải in sâu vào tâm trí người dân để trở nên một thói quen, một thái độ, một nếp sống. Đó là mô hình Mĩ áp dụng vào Đông Nam Á đang phát triển.

Luận án này là công trình của một con người lí tưởng, bài báo kết luận.

*

Tôi rời khỏi Krost Hall và tiến về phía Tòa Nhà Truyền Thông. Tôi phải đi qua rừng để dự buổi tập kịch.

Mùa thu hiện ra trước mặt tôi. Một tấm nệm lá vàng, đỏ, và xanh vàng. Như một bức tranh tù túng, trong gió heo may buổi sớm, khu rừng đông lại ở phía trước.

Những hàng cây đứng im lặng, và vô vàn lá đang chờ đợi trong sự im lặng tuyệt đối đó trong khi tôi giẫm bước lên chúng. Những tiếng động rất nhỏ vang ra khi làn gió thổi vào lá. Những tiếng động này trở thành ròn rã, vỡ gãy khi tôi giẫm giày lêntrên đất ẩm.

“Lá đang khóc,” tôi thầm nghĩ, vừa nghĩ vừa nín thở.

Giữa những lá vỡ, tôi bắt đầu trông thấy cặp mắt đen, nảy lửa của chàng sinh viên cao học vỡ mộng đã quyết định bỏ dở những năm dài theo đuổi sự học và đã gọi tôi là “Đệ Nhất Phu Nhân” của chàng.

Tôi muốn đứng giữa rừng, chôn chân vào xác lá vỡ. Lạc hướng và bối rối. Đầu óc tôi tràn ngập những tư tưởng. Tôi đã tìm được tự do từ một cuộc chiến tranh, thoát khỏi một chế độ. Tôi chỉ tìm được một nhà tù mới trong sức nặng của văn hóa, bóng dáng cuộc đời tôi đã bỏ lại phía sau tiếp tục ám ảnh tôi về ban đêm. Tôi mơ đang trở về nhà để khăn gói sửa soạn cho một cuộc ra đi đúng nghĩa. Có những cơ hội chào từ biệt những người tôi yêu, họ chúc tôi may mắn và hành trình tốt đẹp, thay vì một cuộc chạy trốn trong những chiếc máy bay chở hàng hay trong những ghe thuyền đánh cá.

Tôi mong muốn được tới những vùng đất rất xa, được tặng quà chào mừng, không có những người đứng sau những biểu ngữ “Duy có Tổng Thống Ford là muốn họ mà thôi.”

Tôi đã làm một cuộc hành trình qua đại dương và được gặp những chiếc lá đang đổi màu báo hiệu sự thay đổi mùa và bản chất vô thường của chính đời sống. Một ngày kia, khi đời sống và cái chết hòa làm một, chính tôi sẽ trở về với đất, hòa nhập với những chiếc lá trong vô tận ở dưới mặt đất, và lúc đó tôi sẽ đổi thành không khí mùa thu. Duy lúc đó tôi mới đạt tới bờ bến tuyệt đối an toàn. Tuyệt đối tự do. Và vô tận. Một người tị nạn đến được nơi nương náu cuối cùng để có bình an.

Cho tới giờ phút cuối cùng ấy, thì tôi phải vượt khu rừng để đến với sân khấu.

Các sinh viên kịch nghệ đang tập kịch và dự tuyển cho vở Người Lái Buôn Thành Venice. Tôi là một sinh viên tị nạn mới từ Việt Nam tới và phải đóng vai của mình.

Tôi phải đọc phần của một nữ luật sư nhờ tài hùng biện mà đã cứu được người nàng yêu. Một người bạn cùng lớp cứ hỏi: “Bạn có chắc đóng kịch Shakespeare được không?”
Tôi vẫn lắng nghe tiếng khóc của những chiếc lá đang chết. Có lúc chúng thổn thức.

Chẳng khác gì sự rung động của trái tim tôi.

Một cơn gió mạnh thổi qua, và tất cả muôn vàn lá chợt thức dậy lần cuối cùng. Trước khi chết. Tiếng khóc của chúng cùng vang lên dồn dập mỗi lúc một nhanh hơn choáng đầy không khí.

Tôi níu chặt lấy vai, rung động vì tiếng nhạc của thiên nhiên. Nhạc cầu siêu cho những chiếc lá đang chết.
Đứng giữa rừng, tôi bắt đầu khóc. Vô cớ. Không có một lý do nào hết.
Những xúc cảm bùng nổ. Không cần thiết. Không can cớ. Niềm thất vọng của tôi càng lớn khi tôi không hiểu nổi những giọt nước mắt của chính tôi.
Tôi đến sân khấu Phân Khoa Kịch Nghệ Đại Học Nam Illinois như thế đó. Để đọc những lời của một vai trò khác hẳn với tôi, trong một ngôn ngữ mà một năm trước đó ở quê nhà được coi là một phần của chương trình ngoại ngữ. Tôi phải đóng vai đó trước một cử tọa còn nghi ngờ khả năng của tôi.

*

Tôi không bao giờ gặp lại Chàng Khùng nữa. Tờ báo đại học cho biết là sau khi ra khỏi khu săn sóc đặc biệt của bệnh viện là hắn biến mất. Rõ ràng hắn đã xuất viện trước khi những vết thương hoàn toàn bình phục. Hoặc giả có người bắt cóc hắn.

Đối với những sinh viên Việt Nam tại SISU, hắn trở thành một huyền thoại.

Tôi không bao giờ biết hắn thực sự là ai. Tôi là người Việt Nam và tin tưởng vào sự may mắn của con số chín. Tất cả những việc quan trọng trong đời sống có thể được tóm tắt trong chín chữ.

Từ nhiều ngày, nhiều năm nay, để tưởng nhớ một người mà tôi đã tin tưởng, tôi vẫn ước ao đã trao được cho chàng chín chữ của tôi. Một ngày kia, tôi đã viết chín chữ đó xuống trong nhật kí của tôi:

Thân gửi Ông Tổng Thống nước Cộng Hòa mới,

I think I have fallen in love with you.

1 2 3 4 5 6 7 8 9

Em nghĩ rằng hình như em trót yêu anh

1 2 3 4 5 6 7 8 9

*

. . . .

Chính tôi cũng đã già đi. Hôm nay tôi thức dậy, nhìn vào trong gương và thấy một người đàn bà trong đó. Đã qua rồi thời sinh viên năm thứ nhất tại SISU.

Từ ngày gặp Chàng Khùng lần cuối cùng, tôi không bao giờ được gặp một người nào mà tôi muốn trao tặng chín chữ của tôi. Một người nào có những giấc mơ to lớn hơn đời sống và có can đảm theo đuổi những giấc mơ ấy, không bao giờ e thẹn, ngại ngùng nói những ước mơ ấy ra trong một thế giới không tình cảm.

Tôi cất giữ chín chữ ấy trong một cái bình ảo thuật và đậy nắp lại, cùng với thời thơ ấu mới lớn ở Việt Nam. Đồng thời, tôi tiếp tục chờ đợi, hi vọng sẽ gặp một người nào gọi tôi là Đệ Nhất Phu Nhân. Tôi không bao giờ gặp cả. Tôi học xong đại học. Rồi vào trường Luật. Trở thành luật sư. Làm việc liên tục trong một số những hãng luật. Thời gian chầm chậm trôi qua. Một hôm, nhìn vào gương tôi nhận ra là tuổi hai mươi đã qua rồi. Rồi tôi về Houston, Texas, và có lẽ sẽ không bao giờ trở lại miền khí hậu lạnh để có thể thấy bốn mùa thay đổi và những lá vàng rơi.

Tôi nhìn vào cặp mắt người đàn bà ở trong gương trước mặt tôi và nói với nàng:

“Ừ, tôi biết cô. Tôi biết tất cả về cô, và tôi vẫn thích cô.”

Tôi muốn vô cùng là tôi có thể nói như thế với một người khác, với tất cả sự trìu mến ràng buộc những trái tim nhạy cảm. Những ràng buộc giữa những nghệ sĩ, những người mơ mộng, những bạn bè tốt nhất họ hiện hữu vượt ra ngoài cõi đời này. Sự thông cảm giữa những người trưởng thành, sâu sắc, mang niềm hoài cảm nhớ tiếc những giấc mơ đã chết.

Tôi muốn tôi có thể ôm hình bóng của chính tôi, vì tôi nhìn thấy trong mắt người đàn bà đứng trước mặt tôi hình dáng cái bình ảo thuật với chín chữ trĩu nặng những giấc mơ của nàng.

Tôi muốn vô cùng là tôi có thể làm cho điều đó xẩy ra với nàng. Công cuộc đi tìm tình yêu và lí tưởng. Trong một thế giới bị xâm chiếm bởi những tiêu chuẩn vật chất,và chủ nghĩa tiêu thụ, điển hình là sự đòi hỏi vô nhân của sự thi hành luật pháp, thì người đàn bà-mà-tôi-đã-trở-thành sẽ tiếp tục kiếm cách trao đi, một cách giản dị và trọn vẹn, chuỗi chín chữ bằng tiếng Anh đơn giản. Hay bằng bất cứ thứ tiếng nào trên thế giới, bao gồm cả tiếng mẹ của nàng.

Chín chữ của tôi.

Cô S.

DNN1998

NOTE FROM THE AUTHOR: In its original English version, Her Nine Words is a chapter in the novel Mimi and Her Mirror (AmazonEncore June 2011). The protagonist recalled her earlier days in America after the fall of Saigon in 1975. During those earlier days of the Vietnamese settlement experience, she met her counterpart, a disillusioned Vietnamese guru whom she called The Crazy Man. The following excerpt described the protagonist’s performance as Portia from Shakespeare’s The Merchant of Venice, after she had learned of what had happened to her Crazy Man (Chàng Khùng in the Vietnamese version).COPYRIGHTED 2007 by Uyen Nicole Duong/Duong Nhu Nguyen

Somehow I knew in my heart I would never see my Crazy Man again. I had never had a chance to tell him about my pain. Gone was the opportunity to share. I was to bear my pain alone, from now on.

I left Krost Hall and headed for the Communications Building. I had to cross the forest to attend my drama practice.

Autumn appeared before me on the mattress of gold, reddish, and mustard green leaves covering the earth. One morning breeze awakened them. Tiny evasive sounds emanated as the blowing wind touched the leaves. Those tiny whispers turned into the crispy sound of breakage as my shoes pressed onto the damp ground, crushing the awakened leaves. Then came silence. Like a stagnant painting, the forest after its morning breeze froze into serenity and rows of trees stood silently, countless leaves awaiting breathlessly in that utmost silence. They throbbed and pained as I raised my heels and stepped, as though they had souls.

The leaves are crying!” I thought to myself.

They are indeed crying,” I repeated. I could hear their cries. Distinctively. Those small cries together filled up my ears into a requiem for imminent death.

I began to see, among broken leaves, the dark, fiery eyes of a disillusioned Vietnamese graduate student who had decided to throw away his long years of education, and who had called me his “First Lady.”

I stood in the heart of the woods, burying my feet in the corpses of broken leaves. My eyes blurred and my temples pulsed. For a moment, I forgot where I was. Images of roaring cargo airplanes and people walking through barricades of MPs wearing black bands on their arms and shiny pistols around their hips rushed through my mind, and I had to sit down on the ground to gather myself. I sat among crying leaves and I had no Shakespeare lines prepared for the forthcoming practice. Instead I composed my own monologue. I want to turn the clock back so I can redo a departure. I want to pack properly. I want good luck and bon voyage and welcome gifts. Where I am going, I will see the changing seasons like rows of silent evergreens and all that pure sparkling snow whitening the earth, and I will jump up and down and roll myself around on that pure snow, celebrating the season and knowing the great joy of being alive. But I am not rolling and, instead, I have made timid footsteps on broken leaves. On the Boeing airplane that crossed the Pacific from Guam to the U.S, I came across a Newsweek cover showing people standing behind banners, “Only Ford wants them.” “Why this banner? Are we not wanted?” I had asked that day and my father yanked the magazine from me. Too late. I had already seen the angry rejection of the host country. In confusion I slept through the flight and when I woke up, I had already crossed the ocean. When the ocean no longer spread its green underneath the grey wings of that impersonal plane, I thought I was still walking in a dream, an endless dream that sleepwalker dreams: a girl with no past born to be sixteen, a young refugee with no luggage but her nightmare and solitude. Yet I am supposed to celebrate freedom and a new life. But separation is the fate of the exiled, and for a traveller in exile, every departure is but an old, déjà vu beginning. So through this life I will repeat my departures, meeting forests of leaves that change colors, telling me of the season and the transient nature of life. I am whispering to the dying leaves about my end –when life and death become one, and I, too, will return to the earth, joining those leaves and disappearing into the ground. Perhaps then I will turn into the cool autumn air, and there will be no breakage, no separation, no past, no present, no running, no search for a new place, no repeated departures, because I have become the air, inseparable from its sky, and no one, nothing can cut the air in half and break life in two to create a new beginning that multiplies. The air I have become will permeate everywhere. But as young as I am, why am I thinking about a time when I will change into the autumn air? It must be because of what happened to me during the exodus — the pain of secrets that I alone have to bear, and there is no one to tell it to — the unwanted exchange for the freedom I am supposed to cherish. So instinctively I know that only in the transformation of flesh and bone into air will I attain complete safe harbor. Change me into the air and I will attain absolute freedom and the ultimate sanctuary of peace. But once a refugee, always a refugee. I’ll be running forever, until I reach the farthest edge of the planet, until there is no more earth on which to run, when I will turn into the ultimate vacuum called the air. Until that final moment comes, I am to cross the forest, toward a stage. “Are you sure you can handle Shakespeare?” A classmate named Steve once asked. I didn’t know what to say but I could see the doubt in his eyes.

***

On that day in autumn of 1976 I delivered my monologue in the woods, while listeningto the cries of dying leaves. At times, I heard the leaves throbbing, pulsing, in harmony with the sobbing timber of my heart. A strong wind blew by, and all of the leaves awakened for the last time before their death. Their cries became symphonically crescendo, filling the low sky. I held on to my shoulders, shaken by nature’s requiem for those dying leaves.

Standing up from the bed of leaves, I started to cry.

And that was how I reached the stage of the Drama Department. There, I would be delivering the role of a lawyer, in front of a crowd who might be doubting my ability to handle the job.

***

The quality of mercy is not strained/ It dropped as the gentle rain from heaven upon the place beneath/ It is twice blest/ It blessed him that gives and him that takes/ Tis mightiest in the mightiest/It becomes the throned monarch better than his crown,” I said the words.

I curved my tongue and then darted it underneath the upper row of my front teeth. I gave the soft “th,” and pushed my breath through the blockage between the tongue and teeth to pronounce the breathy “th.” This sound did not exist in Vietnamese and it sounded English and I became Shakespeare’s English. I found a spot in front of me, a spot with no face, no name, and I spoke my words to it. I gave the words all the volume I could draw from the ninety five pounds and five feet two inches of me. Words poured out of my soul and when they escaped my mouth they sounded so alien. They leaped toward the spot I had chosen. There in that spot I reigned. Yet I felt so rotten inside.

For the performance, I had signed my full Vietnamese name. The drama coach could not comfortably pronounce it. It was a problem. My Vietnamese name was problem. Nobody cared how I was once so proud of the long, winding name that said something about my roots dating back to the Spirit of the River Huong who watched over me. Here, I was better off without that name on this stage. They had given me a new name. Portia. Easily slip on and off. So long as I could articulate the beautiful words, I would become Portia.

I was on stage as a woman disguised as someone else to speak the clever words and help someone she loved. Mercy. Justice. A pound of flesh. A woman more powerful and shrewder than men. An advocate. No one cared who I was. No one recognized me. No one was supposed to. I became Portia. The spot to which I spoke was no longer Hue, DaLat, Saigon of the Vietnam I knew. It became Venice with all those gondolas and plenty of olives. “That in the course of justice none of us should see salvation./ We do pray for mercy./” I was speaking outward still, yet a smaller voice spoke inside me. Salvation. The tiny voice told me. To reach salvation, one must forebear. Forgive. Forgo. And forget.

I put the sharpness of my pain into the words.

“Take then thy bond, take thou they pound of flesh./ But in cutting it if thou dost shed./ One drop of Christian blood thy lands and goods./ Are by the law of Venice confiscate unto the State of Venice…/” I thought of the next step after SISU. Did this mean no more First Lady? Just a stage?

Therefore prepare thee to cut off the flesh./ Shed thou no blood nor cut thou less nor more./But just a pound of flesh.” In the spot to which I spoke, I found the Vietnamese Sidney Poitier’s grin. Those shining white teeth. I am speaking to you. Can you hear these clever words? I am supreme and powerful and I can make things happen. I won’t succumb. Forebear. Forgive. Forego. And Forget. I was speaking forever though it felt so bad inside. I enunciated the t’s and the s’s. I was careful and perfect with all letters, vowels, and ending sounds. When the lump raised in my throat, and my tongue refused to obey, I stopped and removed my eyes from the spot. In the rows of seats in front of me and below me, they all waited, their eyes fixated, thinking I was highlighting something. My eyes back to the spot. To him and me. Mercy. Salvation. A pound of flesh.

And then it was all silence.

Until I heard a few hands clapping. And then a few more. My eyes left the spot where he was and everyone in the theater was clapping, and the roaring sound reminded me again of that fated cargo airplane that had swallowed me that day in April, 1975.

I rushed off the stage. I thought I would collapse.

But I did not collapse. Instead I stood still, dazed somewhat, and someone was approaching me. I recognized him. The curly hair. Big brown eyes. Big teeth. He smoked and called himself an actor. “Hey,” he said. The SISU students all said that. “Hey, hey, hey, Oh yeah? Cool! You guys, the dude, the gal, my pal, what do you know good? Hey hey hey…Come on, it hurts so good….Oh swell.” His name was Steve Something. Steve Whatever. I couldn’t remember. Steve Something or Steve Whatever from the drama class.

“Hey it was quite good. I was just surprised. Couldn’t believe you could do it as well as I,”he told me and his brown eyes also spoke the language of sincerity.

“So when did you first learn all this? At the beginning of the semester or last night? Quite impressive,” Steve was still speaking. He did not know when to stop. He was genuinely surprised to discover I could almost outdo him. Just almost.

They had given me a blond wig to get into the part and I had tucked my long black hair under it. It looked utterly ridiculous, and I was taking it off, but actually, no, I would not take it off! I had decided to become Portia. All I needed was a wig, plus one Big Mac a day.

“When I was a baby girl, I learned about The Merchant of Venice in Hue, Vietnam,” I answered Steve’s question. I also meant for my eyes to speak the language of sincerity. I was telling the truth. I was sharing my past with him. I travelled back to the time when my father was teaching English and American civilization to twenty-two-year-old college women at Hue University. Those young women had taken turns translating pages from The Merchant of Venice and A Farewell to Arms into Vietnamese. They hand wrote the translation onto a coffee-table hard-bound notebook. Pages beautifully bordered in flowery motifs and art emblems of the Faculty of Letters, sharp black ink on the best of grainy ivory paper. Some of the women were artists-to-be and they drew illustrations with ink and water colors and these artworks were inserted in between pages of translation. The beautiful notebook was given to my father as a gift at the end of the semester. I had seen these pages, words written in beautiful penmanship, those black and blue ink strokes reminding me of dancing swans. It was the most exquisite thing I had seen — this wonderful handwritten notebook that commemorated my father’s teaching career.

“What? You learned Shakespeare in Vietnam? You must be kidding me,” Steve was lighting a cigarette, and people were leaving the theater. “I don’t believe it,” he said. “I know about Vietnam. My brother was there in the army. People wore black pajamas and village huts were blowing up. Couldn’t have Shakespeare taught to a little girl in a place like that.”

I looked back to the spot to which I had been staring while on stage. The Crazy Man was hovering like an angel, waving at me:

Hello, my First Lady.

“How difficult is it to become a First Lady in America?” I asked Steve, and then my face felt hot. I swallowed with difficulty, my mouth all dried up, and I felt sorry I had even asked the question. The echo of The Crazy Man’s voice became louder and numbed my ears:

Hello, my First Lady.

Steve had not extinguished his cigarette, his eyes darting around the theater. Naturally, he did not see the hovering Crazy Man.
“You mean like Jackie Kennedy?” He asked. “I don’t think you can play her.

She is five feet seven. Besides, you are Oriental.”

I looked away to avoid the smoke coming from his cigarette and the reality it painted. I was Oriental, as in Oriental rugs. I was no Jackie Kennedy. I could eat ten Big Mac’s a day and I would never be five feet seven. I looked to the spot above again, but The Crazy Man was no longer there. He had flown away.

“Hey are you crying?” Steve was still smoking, and everyone else had left the theater. “Don’t feel bad, kid. So what if you can’t play Jackie. This is America. Every one is a First Lady. Every one is the President. It’s a democracy. It’s the American dream.”

***

My instinct was correct. I never saw The Crazy Man again, since only a day later, the campus newspaper reported that he died in intensive care.

He had no family in the U.S. so the Vietnamese refugees in southern Illinois pooled their resources to hold a funeral. The campus administration, several student anti-violence groups, and churches in the area also contributed. His burial invoked as much gossip as the rumors about his life. Fearful of his killers and the prospect of hate crimes, many refugee families were too afraid to attend his funeral. Some started lying about where they were from. Others hopped on a bus and immediately left for California after the funeral. After all, California is the promised land for Asians.

I did not attend the funeral, for a different reason.

On that day I skipped classes and tried to sleep while snow fell outside. For Vietnamese, white was the color of mourning. His funeral coincided with the first snowfall of the season. I stayed in bed the whole day and in between short lapses of sleep, I heard again the sounds of gunshots and airplane engines. Déjà vu. Images of falling leaves and falling snow dancing on an all-white path dashed through my head. Even the leaves had turned white.

I heard again the cargo airplane engine with its rhythmic pounding noises, and I wondered what it felt like to stop breathing and die, lying underneath the hammering of nails onto a coffin lid. I wished I could lie in silence, under beds of roses and tulips. Yet I tossed and turned in my bed, hearing pounding noises above my head as my temples pulsed. I knew The Crazy Man was gone and I lived on.

***

To the Vietnamese students at SISU, the Crazy Man became a myth.

Vietnamese believed in the luck of number nine. I believed that all important things in life should be summed up in nine words.

For the years to come in my life in America, I kept wishing I had delivered my nine words to him. Either to the man I knew, or the symbol he had become in my head. Whenever I thought of him, I still felt the ticklish sensations on my abdomen, together with the urge to cry. I thought, too, of all the ideals and dreams that had died when I crossed the ocean in 1975, revived shortly when I exchanged words with him and during my first appearance as Portia on the SISU stage.

I let myself daydream one day and thought of all the what-if’s, and I wrote down in my diary combinations of my nine words. On the page appeared the following:

Dear Mr. President of the new Republic,

I think I have fallen in love with you.

1 2 3 4 5 6 7 8 9

Yes, I would very much like to marry you.

1 2 3 4 5 6 7 8 9

Who knows perhaps we could have saved our dream.

1 2 3 4 5 6 7 8 9

Em nghĩ rằng hình như em trót yêu anh

1 2 3 4 5 6 7 8 9

bài đã đăng của Dương Như Nguyện

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)