Trang chính » Biên Khảo, Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 23, Dịch Thuật, Giới thiệu tác giả, Sang Việt ngữ Email bài này

Norman Mailer: Người Duy Nhất Còn Lại


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 27.01.2007
Norman Mailer, nhà văn duy nhất còn lại của thời Đại Thế Chiến II, can đảm bộc lộ tất cả về đàn ông và tiểu thuyết văn học. 53 năm sau sự ra đời của tác phẩm đầu tay, 83 tuổi, cuộc đời tầm cỡ của ông mang ý nghĩa gì?
Norman Mailer

                                   Norman Mailer

“Không ai sinh ra là đã trở thành một người đàn ông thật sự,” ông đã từng viết như vậy.

“Sự trưởng thành chỉ đến khi ta có đầy đủ lòng nhân từ và sự dũng cảm.” Ông còn viết thêm “có hai loại người đàn ông can đảm: những người can đảm do bản chất sẵn có, và những người trở nên can đảm từ một hành động quyết chí.” Ông đang viết về Hemingway, người mà ông liệt vào loại thứ hai, tuy nhiên ông cũng đang viết về chính mình, như ông vẫn thường làm.

[1] Không ai viết theo lối ấy nữa. Sự trưởng thành của đàn ông và dũng khí cần có để đạt tới mức hoàn thiện từng là đề tài vĩ đại của tiểu thuyết Mỹ, hoặc ít ra cũng đã từng nằm trong các tiểu thuyết Mỹ được viết bởi những người đàn ông. Giờ đây đề tài đó không được xem là khái niệm thực dụng nữa mà thậm chí còn bị cho là không phù hợp với những sáng tác vĩ đại. Nhưng Normal Mailer đã đúng khi viết ra những dòng chữ ấy, và ông vẫn đúng cho đến hôm nay, dù thời cuộc đã đổi thay. Nếu ông viết những dòng chữ đó vào thời nay, có lẽ ông sẽ chạm vào một chân lý hiển nhiên: Không ai sanh ra là đã trở thành một người đàn ông thật sự, chứ đừng nói đến một lão già. Nhưng câu viết về sự dũng cảm nên được giữ nguyên vì nó vẫn còn ứng dụng, dẫu rằng có rất nhiều người đàn ông trẻ không dám thừa nhận hiện thực, và điều đó vẫn còn áp dụng cho Mailer, ngay cả lúc ông bước lên những bậc cầu thang.

[2] Không có thang máy. Căn hộ của Norman Mailer không có thang máy. Tôi không có ý nói rằng thang máy bị hỏng. Tôi muốn nói là ông sống trong một khu hộ không dùng thang máy ở Brooklyn Heights. Ông đã sống ở đó từ năm 1962, ông kể, nhưng vào năm 1962 ông không phải là người 83 tuổi như hiện giờ, và bệnh viêm khớp đã không rút hết sức lực từ hai đầu gối ông, giờ đây trông giống như hai thanh gỗ bị đốn ngang. Và khi tôi nói ông sống trong một khu hộ không có thang máy, tôi nhấn mạnh thêm là ông ở tuốt phía trên cùng, trên tầng thứ tư của một chung cư bốn lầu. Mailer cũng vẫn còn ở đây. Ông kéo lê mình bằng hai cây gậy, và ông đưa cho tôi một cây – “cái cây tốt nhất,” ông nói, hai cây gậy thuộc loại có thể phân đôi, giống như tự thân của Mailer: Một cái làm bằng gỗ thường, giống như loại các bà cụ thường dùng, và cái kia có tay cầm nạm bạc kiểu nam tước, y như thể đã ăn cắp từ Stanford White. Rồi ông bảo tôi có thể lên lầu và gõ cửa, nếu vợ của ông không có ở bên trong, tôi có thể tự nhiên vào tham quan, bởi vì nếu bà đi ra ngoài thì bà đã phải để cửa mở.

“Lâu lắm tôi mới lên được đến nơi,” Mailer nói, và quả là vậy. Tòa nhà không chỉ có mỗi cầu thang mà có những bậc thang loại bằng gỗ sậm màu vô cùng cũ kỹ, và chúng sâu dốc một cách tàn nhẫn, và còn phát ra những tiếng ồn rất lớn như tiếng trống ầm. Tôi bắt đầu đi lên, nhưng dĩ nhiên tôi không thể nào để lại Mailer ở đằng sau, tại vì …tôi không muốn Normal Mailer ngã quỵ trước mắt tôi. Nên tôi cứ lờn vờn phía trên ông một tầng để phòng nhỡ có chuyện không may xảy ra, trong lúc ông khom lưng bước lên từng bước. Ông níu tay vịnh cầu thang bằng tay trái, đẩy cây gậy lên bằng tay phải, và điều lạ là tôi có thể nghe hết tất cả những hành động đó – tiếng bước đùng đùng của chân trái, chẳng mấy chốc còn nghe cả tiếng ông thở. Tôi muốn nhấn mạnh là tiếng thở lấy hơi – mới đầu chỉ là một chút thở phào, sau đó là âm thanh của nòng súng, càng lúc càng to theo mỗi bậc thang. Nhưng không lộ dấu hiệu nao núng, nhờ sự hăng say của Mailer. Ông cũng đang gần đến nơi, tiếng thở càng lúc càng lớn hơn, cuối cùng ông cũng đã leo lên đến đầu cầu thang lầu bốn, nơi treo đầy những bức tranh của vợ ông và những tấm chân dung trắng đen của Judy Garland và Marilyn Monroe. Hồi xưa, Mailer đã từng rất ái mộ Marilyn; đã tự cho rằng mình là người đàn ông duy nhất có thể cứu vớt cô ngay cả sau cái chết của cô. Ông đang đứng ở đầu cầu thang và hỏi tôi cánh cửa có để mở không, và tôi nói “Không, cửa đã bị khóa trái,” và ông trả lời, “Chết tiệt, không biết tôi có vào được không.” Sau khi đã bỏ ra biết bao nhiêu công sức để leo lên đến nơi. Mailer bắt đầu lục lọi tìm chìa khóa, một khi tìm ra rồi thì cố tra chìa vào trong ổ khóa. Nhưng ông không thể dễ dàng điều khiển nó. Hai tay ông run rẩy, và chùm chìa khóa nhảy nhót trong tay ông như những giọt thủy ngân. Rồi ông nói, “Cậu thử đi,” và tôi dùng thử cái chìa lạ nhất trong cả chùm chìa khóa, cái chốt mở ra, tôi dặn “Nhớ nhé, là cái có hình dạng khác lạ,” và tôi bắt đầu cảm thấy mình đang trở nên đáng ghét bởi vì tôi đang nói chuyện với Norman Mailer như thể ông là một người già yếu.

[3] Hãy để ông kể cho ta nghe về tầm quan trọng của câu truyện. Đó là điều đáng phục nhất về Mailer – ông lúc nào cũng xác định. Ông luôn có lý thuyết cho mỗi nguyên cơ. Mặc dù trưởng thành ở Brooklyn, ông sỡ hữu chất giọng Ăng-lê khi bày tỏ những lý luận một cách nhẹ nhàng chính xác, cách phát âm được tu dưỡng kỹ lưỡng và được tận dụng y như giọng điệu ngọng ngịu của Tyson – nó làm cho mọi người cảm thấy ông là một người cứng rắn lắm mới được tha bổng. Ông vào trong căn hộ, bảo tôi cứ tự nhiên tham quan, bảo tôi đi chung quanh và bật sáng những ngọn đèn, nói rằng khung cảnh đẹp sững sờ của bến cảng và hạ thành Mã Nhật Tân thật sự tỏa sáng vào những ngày nắng, kể rằng ông đã ngồi viết rất nhiều tác phẩm của mình nơi cái bàn nhỏ đặt trước cửa sổ; chỉ cho tôi biết ai là ai trong số chín người con của ông; suốt nãy giờ ông vẫn còn thở nặng nề và trông mệt mõi thấy rõ vì đã phải leo lên những bốn tầng lầu, rồi cuối cùng ông bảo, “Ngồi đi, ngồi đi,” và khi tôi ngồi xuống chúng tôi bắt đầu thảo luận về thuyết sinh tồn. Vâng, vâng, tôi biết đó là một đề tài buồn tẻ và ông cũng rõ ràng. Ông nói, “Đa số chúng ta không thích cái khái niệm sinh tồn. Họ nghĩ rằng đó là một từ ngữ xấu xa khi thoát ra khỏi miệng, và họ không ưa gì nó. Có thể nói là khi tôi đem từ đó ra nói chuyện trước đám đông, y như rằng sẽ có một sự im lặng đến buồn ngủ. Nhưng tôi cũng cứ nói dù họ thích hay không. Tôi phải kiên trì chứ.” Tuy nhiên bây giờ, ông nói về thuyết sinh tồn như một cách để nói về cái chết. Ông thuộc thế hệ phải đối diện cận kề với cái chết trong Đại Thế Chiến II và rồi góp phần tạo ra một Hoa Kỳ điên cuồng chối bỏ cái chết khi họ trở về – và sự kiên trì mà Mailer cứ khăng khăng giữ là ý niệm sự chối bỏ cái chết chỉ là một hình thức khác của sự chết, vì nó mở ra những ưu phiền dồn nén, và sự dồn nén sẽ dẫn đến căn bệnh ung thư, nói theo lối ẩn dụ và cả nghĩa đen. Thuyết sinh tồn của ông là một phương cách riêng để chống bệnh ung thư, và ông giữ vững lấy nó bất chấp người thuộc thế hệ ông nghĩ sao. Lúc nào ông cũng quá mới mẻ để thuộc về thế hệ của mình …và giờ đây ông đang về lại với nó, vì tất cả mọi người giờ đây cũng đã theo thuyết sinh tồn, tất cả những người già đã sẵn sàng cho cuộc thiêu hủy tập thể, như trong thời chinh chiến. Đó là một sự châm biếm ông lấy làm cảm kích: “Cậu biết không, chuyện này rất thú vị. Suốt cả đời, tôi cứ tự cho mình là người theo thuyết sinh tồn. Mãi cho đến bây giờ tôi mới hiểu nó mang ý nghĩa gì.”

[4] Nói tóm lại, sự thấu hiểu đó nghĩa là ông đang sắp xuất bản một tác phẩm. Chuyện này không có gì là lạ cả vì khả năng sáng tạo của ông rất dồi dào – ông đã có tên mình trên 45 cuốn sách, tiểu thuyết hư cấu, và những tác phẩm dựa trên hiện thực – cho đến khi tôi bắt đầu nghĩ về những tác giả khác đã từng chiến đấu và bắt đầu viết tiểu thuyết trong khi Mailer lúc ấy đã xuất bản tác phẩm đầu tay, The Naked and the Dead [Kẻ Lõa Lồ và Kẻ Chết], gặt hái được sự thành công vượt bậc. Tôi định nói những tác giả đó nay đã chết hay im tiếng, nhưng William Styron cũng đã ra đi, nên tôi phải nói rằng họ đã chết hết – ngoại trừ Vonnegut. Rồi còn lại Mailer không chỉ đơn giản đang viết một cuốn tiểu thuyết mà đang viết về một đề tài rộng lớn, đầy hoài bão, không… một đề tài rộng lớn đầy hoài bão về Hitler, không…đang viết về một tác phẩm thật sâu sắc về niềm tham vọng của Hitler, được thuật lại bởi Ác Quỷ. Tên sách là The Castle in the Forest [Lâu Đài Trong Khu Rừng], dày 496 trang, có thêm 7 trang thư mục. Thì ra tác phẩm này là cuốn sách ông biết ông cần phải viết khi nghe đến tên Hitler vào dạo ông mới lên chín – và sự hoàn thành của cuốn sách này còn mang ý nghĩa là ông đã làm tròn bổn phận của người theo thuyết sinh tồn. Không cần biết mọi người nghĩ sao về cuốn sách, Mailer cũng đã trở thành vị anh hùng khẳng định được sự tồn tại bằng cách viết ra nó, bằng cách leo lên những bậc thang rất dốc kia.

[5] Đó là một cuốn sách kỳ dị. Một tác phẩm lạ lùng. Không giống bất cứ cuốn nào tôi đã từng đọc, và tôi nghĩ rằng đó là sự thành công. Nhưng điều này cũng không xa lạ gì đối với Mailer. Ông là người không bao giờ theo xu hướng thời thượng từ mối quan tâm cho đến cách viết, nhưng đã vô tình hòa mình vào xu hướng vì tài năng trên trang giấy và phong cách cá nhân. Ông đã không viết về những thứ tình qua đêm ở ngoại ô; ông không được tạp chí New Yorker đăng tải sáng tác của mình, cho đến khi ông không còn là một mối lo ngại. Ông không phải là người rành mạch, không thỏa mãn với mánh khóe nhỏ nhoi. Sự thật là ý nghĩ của ông lúc nào cũng khác thường, và càng trở nên kỳ dị hơn khi chúng biến thành niềm đam mê ám ảnh của ông. Nếu đọc một trong bất cứ những tác phẩm của ông thì chúng ta sẽ thấy ông hay đề cập đến những đề tài tương tự – thủ dâm, ung thư, sự cực khoái, bệnh tâm lý học, và cuộc đấu tranh liên hồi giữa Ác Quỷ và Thượng Đế – và tác phẩm Lâu Đài Trong Khu Rừng gom tụ những ý niệm đó thành một kết luận hợp lý. Và kết luận hợp lý đó là Hitler. Lâu Đài Trong Khu Rừng không chỉ viết về Hitler mà còn nói đến gia đình của Hitler và những động lực biến Hitler thành nghệ nhân của sự hủy diệt. Điều đáng chú ý là trong tác phẩm mà Mailer viết về Hitler, những động lực ảnh hưởng đến Hitler cũng hoàn toàn là niềm đam mê ám ảnh của Mailer. Hitler của Mailer là một sản phẩm của niềm đam mê ám ảnh của Mailer. Lý lẽ cơ bản Mailer muốn nói là Hitler xấu xa bởi vì Hitler được tạo ra như thế – bởi vì Hitler là, như Mailer đã nói với tôi, “sự ra đời tinh túy bậc Nhì của Thiên Chúa giáo” và “lời phản hồi của Quỷ dành cho Chúa.” Thời nay nếu được đọc tiểu thuyết như một lý lẽ, nhất là một tác phẩm về những nghi vấn lớn lao, sẽ là một niềm vui thú. Lý lẽ đó được sắp xếp kín đáo có dụng ý, bởi vì nó xác thực với những định kiến quen thuộc của Mailer. Hãy xem nó như thế này: Khi Hitler của Mailer lấy cảm hứng cho hình dáng bộ râu khi đang thủ dâm với tấm ảnh của một sát thủ người Ý để kiểu râu tương tự, ta sẽ không trầm trồ, “Ồ, chuyện đã xảy ra như thế.” Mà ta sẽ nghĩ Mailer căm ghét thói trụy lạc thủ dâm nhiều hơn ghét tội lỗi của tên sát nhân, và ông đã tìm ra đường lối đem sự chống đối của mình vượt trội lên bằng cách biến một tên sát nhân tập thể tàn ác nhất trong lịch sử thành một gã mê thủ dâm.

Và đó cũng chưa phải là điều khiến Lâu Đài Trong Khu Rừng trở nên lạ thường. Yếu tố lạ lẫm nhất là giọng kể của câu truyện, nghe hệt như đã được chuyển ngữ từ tiếng Đức. Đúng là giọng của Ác Quỷ nhưng Ác Quỷ này lại là một tên quan liêu đầy tham vọng. Mailer muốn viết ra nhận định của riêng mình về tiểu thuyết thế kỷ thứ mười chín, nhưng giọng kể thật cầu kỳ, đầy kịch tính, tỉ mỉ nhưng rất thô thiển và tục tĩu (cuốn sách hơi dâm ô, mỉa mai một cách bệnh hoạn thuần túy Đức) đến độ nó làm lu mờ phẩm chất đặc tính của tiểu thuyết trong tác phẩm, nhất là về phần bối cảnh, đối thoại, chất sống. Điều còn lại không phải là một tiểu thuyết mà là bút pháp của ngòi viết tiểu thuyết, đó là sự thật về cuộc sống khởi đầu của Hitler, được dàn xếp bởi Ác Quỷ thành một đoạn đời vắn tắt, tiêu biểu cho sự hiện diện của chính Ác Quỷ.

[6] Điểm chính yếu: Mailer chắc sẽ không phản đối sự miêu tả này vì đó là định mức ông muốn tác phẩm phải đạt đến. Ông muốn nó chỉ chứng minh luận điểm duy nhất “ta sẽ không thể tin một người như Hitler đã từng tồn tại trừ phi ta tin rằng tội ác đến với chúng ta từ phía bên ngoài” – bằng hình hài của ác quỷ. Ông muốn mọi người đọc cuốn sách và kết luận rằng không có một giải thích nào khác về Hitler khá hơn lý luận của ông.

[7] “Còn ông có tin vào Ác Quỷ không, ông Mailer?”

“Tôi tin chứ. Nhưng tôi cũng tin vào Thượng Đế nữa. Tôi tin rằng Thượng Đế đang gắng sức làm những gì ông hoặc bà có thể làm.”

[8] Lẽ dĩ nhiên, những gì Mailer tin vào và cũng là những điều ông bênh vực đều nằm trong tác phẩm. Chính xác hơn, ông lúc nào cũng bênh vực cho hoài bão tiểu thuyết rộng lớn của mình, ngay vào lúc sự nghiệp viết báo của ông có phần thành công hơn cả sự nghiệp sáng tác. Ông luôn trung thành với ý niệm tiểu thuyết là sự kiện quan trọng, là thử thách của lòng can đảm – của đức tính đàn ông, là một ván cược lớn, là lý lẽ giá trị cuộc sống, là điều xứng đáng để ta đánh đổi cả cuộc đời, là toàn bộ tổng số trải nghiệm và sự phấn đấu của một người đàn ông, và phải là trải nghiệm của một người đàn ông chứ không phải là của đàn bà. Một phần do tiêm nhiễm suy nghĩ của thế hệ trước; ông là một trong những tác giả trưởng thành dưới sự ảnh hưởng của Hemingway, thời ấy tiểu thuyết là biện pháp những đàn ông dùng để chống đối nhau và chống đối những người viết khác như ăn miếng trả miếng. Một phần cũng do thuyết tồn tại, bởi vì tác phẩm là một hành động anh dũng nhằm lấp đầy khoảng trống, một cố gắng để xác định chính mình trong thời kỳ điên loạn của đời sống một đàn ông và của Mailer. Phần khác là vì Mailer trân trọng tác phẩm như bản chất lòng nhân đạo của mình, Mailer không tin con người là con cờ trong cuộc chiến siêu phàm; ông xem con người như diễn viên trong cuộc chiến, binh sĩ trong cuộc chiến, một cuộc tranh đấu để trở thành thánh nhân. Ông xem con người là kẻ song hành ngang tầm cùng Tạo Hóa, vì lẽ đó ông luôn nhấn mạnh chúng ta phải duy trì một nhân tính không mưu toan và hoàn toàn cởi mở trong những hành động sáng tạo của ái ân và sáng tác; ngay cả trong cái chết mà ông coi như một cơ hội tái sanh.

Trong một tác phẩm gần đây, viết về công việc sáng tác, cuốn The Spooky Art [Nghệ Thuật Ma Quái], ông có viết một câu rất cảm động: “Giờ đây, những điều tôi từng bênh vực đã bị đánh gục hoàn toàn.” Đây không phải là tiếng than khóc thương hại cho chính mình. Ông thừa biết điều thay thế tiểu thuyết văn học không phải là một nỗ lực vĩ đại nào khác của nhân loại mà là công nghệ kỹ thuật. Ông tin rằng công nghệ kỹ thuật là một lực lượng phản nhân loại, nó sẽ lật đổ tất và thay thế tất cả. “Một trong những nhu cầu quan trọng của tiểu thuyết là lòng yêu quý sự tồn tại,” ông nói với tôi. “Nếu chúng ta thử tưởng tượng ra một thế giới thiếu vắng tiểu thuyết – điều đó sắp sửa xảy ra – thì ý thức tồn tại sẽ chuyển hóa thành tính chất công nghệ vì sự trợ giúp của công nghệ kỹ thuật đang siết chặt chúng ta. Bất động, gián đoạn, bực dọc khi những cỗ máy không hoạt động một cách chính xác. Nó bùng nổ tính khí bất lực khi mọi việc phản bội lại mình, và sự ngăn chia tác động đến người sống với công nghệ kỹ thuật bởi vì da thịt và máu ngày càng trở nên vô dụng. Khả năng hoạt động chung với kỹ thuật của trí óc con người trở thành điều tối cần thiết.”

[9] Thật khó mà diễn dạt những điều ông từng bênh vực vì có rất nhiều lý do: thứ nhất, ông đã già; và thứ nhì, ông vẫn còn đang sáng tạo. Nếu ông chỉ già thôi thì sự việc sẽ dễ dàng hơn rất nhiều. Mọi người có thể xóa hẳn tên ông như vật lưu niệm của một thời đại đã qua, hoặc có thể ngưỡng mộ ông với tấm lòng ngưỡng mộ dành cho ông Nội mỗi khi ông Nội tập trung hết sức lực để kể một câu truyện đời xưa. Nhưng Mailer vẫn còn đang sáng tác, vẫn còn đang viết lách, vẫn còn nhiều khát vọng, và điều đó tạo thành một vấn đề nan giải vì mọi người không biết phải cảm tưởng như thế nào về tham vọng của một người tuổi đã xế bóng. Có vẻ không thích đáng cho lắm, phải vậy không? Ông Nội kể một câu truyện về những thiếu nữ người Pháp mà ông từng quen biết trong Đại Thế Chiến II và chúng ta suýt xoa cảm động. Ông Nội nói một lời ngớ ngẩn và chúng ta bĩu môi. Đối với Mailer cũng vậy. Tôi không muốn nói là tác phẩm mới của ông sẽ bị xem như một lời nói ngớ ngẩn của ông Nội. Nhưng chúng ta thật sự không biết phải xử sự sao cho phải với những tác giả lớn tuổi, vì có quá ít loại người như họ để làm gương mẫu. Phần đông trong số họ trở nên im tiếng và chỉ xuất hiện tại những buổi tiệc trao giải, vài người bị cuốn vào những hành động chính trị lập dị, ít người còn ráng sức viết những tiểu thuyết về tuổi già bi thương như một nghi thức khuấy động hài cốt. Đó là những khuôn mẫu nhưng Mailer không theo bất cứ khuôn mẫu nào. Khác với Saul Bellow – người đã khẳng định địa vị tiểu thuyết gia vĩ đại nhất nước Mỹ của mình khi ông cho xuất bản tác phẩm Ravelstein ở tuổi tám mươi lăm – Mailer vẫn còn là một tác giả có địa vị cao trọng chưa kiên định. Ông chẳng phải là người không còn gì khác để chứng tỏ; ông là một người đàn ông, là một tiểu thuyết gia với rất nhiều điều muốn chứng thực, và khác với những người ngoài tuổi tám mươi, ông không đòi hỏi chúng ta phải lưu ý đến tuổi tác hay tội nghiệp sự gắng sức vất vả của ông. Ông chỉ muốn từ chúng ta một điều mà ông vẫn thường yêu cầu là được đánh giá trong phạm vi hoài bão rộng lớn và thành tựu không nhỏ của ông, có nghĩa là chúng ta nên đánh giá ông như những người thần Vận Mệnh đánh giá nhân loại, những người đang đặt cược hết cả gia tài, một cách không thương xót. Quả thực, chúng ta sẽ không giúp gì cho ông nếu chúng ta đối với ông một cách dễ dãi bởi vì sự chiếu cố nhã nhặn cũng là một lối giam lỏng những người già. Nhưng thật tình là …

[10] Ông là một người đã già.

Ông là một lão già. Đó nhận xét đầu tiên khi ta gặp ông ngoài việc sững sốt nhận ra mình đang đứng trước mặt nhân vật lớn Norman Mailer. Đây là Provincetown, ông dành nhiều thời gian ở nơi đó khi xa Brooklyn và những bậc thang sâu dốc. Ông đang ngồi trong cái ghế liễu gai to tướng, gác hai cây gậy bên cạnh, và chiếc ghế nuốt chửng lấy ông, trông ông như đã được đặt để ở đấy – một ông già di động uyên bác. Ông đã lên chức Nội và đề tặng tác phẩm mới cho các cháu ruột, các cháu đỡ đầu, và vào lứa tuổi này đàn ông bắt đầu nhìn không chỉ giống cha mà còn giống mẹ. Đầu tóc trắng của ông, trước kia quăn xoắn nay buông thẳng vì tóc càng ngày càng mỏng. Đôi lông mày là hai bện xoắn trắng bạc. Quai hàm xơ xác những cọng râu trắng lởm chởm. Hai tai ông rất to và dưới đường chân tóc có một mảng sẹo làm ta nhớ lại ông là người đã từng thích chơi húc đầu như một môn thể thao giải trí. Nhưng ông không phải là một lão già u sầu, ông không phải là một lão già kinh dị, ông cũng không phải là một lão già hung dữ – tin tôi đi, tôi biết rất rõ những loại người như thế và Mailer không là một trong số họ. Ông là một lão già vui vẻ toại nguyện. Hai tay ông phủ một lớp da mỏng trắng sáng ngời, đang xếp ngang bụng một cách mãn nguyện, và đôi chân ông trong đôi giày ống mềm mại đang mãn nguyện bắt chéo nhau. Ông giữ ấm trong lớp áo choàng bông và quần vải bông dày và đôi giày đó. Ông ngồi trong tia ánh sáng xuyên qua từ cửa sổ, ánh sáng dội từ cái vịnh như thỏi đá nhảy nhót, và có một sự khôn ngoan sắc sảo lâu bền trong đôi mắt xanh lờ mờ, và một sự thông thái cố định trong đôi môi chúm, tựa như ông đang sẵn sàng giải trí người khác và mong được người khác tiêu khiển – tựa như ông đang trở thành một người bạn thân tình, một người đáng yêu siêu bậc. Và đó là điều duy nhất hơi đáng buồn về ông. Đây là người đã từng khiến người khác phải hoảng sợ. Đây là người đã từng hoặc ít nhất đã từng thử đánh đập tơi bời những người chung quanh. Đây là người đã đánh nhau với Gore Vidal – là Gore Vidal đó! – và là người đã tổ chức một buổi tiệc vào năm 1960 để tuyên bố ý định ứng cử chức vụ thống đốc New York, rồi uống say bí tỉ và đâm trúng vợ. Ông đã phạm tội, và là một lỗi lầm rất lớn …và giờ đây, bởi vì ông đã già, mọi người điều khoan dung hết cho ông mặc dù ông không van xin lời tha thứ. Tuổi tác làm được điều đó. Nó độ lượng và bắt buộc ta phải khoan dung tha thứ kẻ xấu xa bất kính nhất. Điều đó cũng có chút không ổn vì kẻ xấu không được lên tiếng phản đối và có lẽ họ không muốn được tha thứ.

[11] Ông nói mọi thứ đang thoái hóa. Ông nói mắt ông và hai tai đang yếu dần, và trí nhớ ngắn hạn cũng lão hóa. Em gái của ông, Barbara, gọi điện: “Ồ, chào cưng, anh không nói chuyện được bây giờ, anh đang có cuộc phỏng vấn. Được rồi, cưng. Ồ khoan đã. Em biết trí nhớ của anh rồi mà, cho nên nếu anh quên thì em nhớ điện lại cho anh.” Điều này đang xảy ra cho những người già, những đấu thủ cao niên: họ không còn lựa chọn nào khác mà phải chấp nhận cuộc sống gia đình; họ không có lựa chọn khác mà phải chấp nhận vòng giam hãm của những người thân yêu. Chính Mailer cũng nói là tuổi già đồng ý với ông bởi vì “đúng là có những chuyện không vừa ý. Nhưng thực tế là sự ham mê của một người đã đi đến mức cuối. Và những cơn thịnh nộ khởi đầu lúc ba giờ sáng đã không còn nữa, chỉ trừ trong một vài trường hợp hiếm hoi. Và cảm giác bất lực vì không thể tác động nhiều đến thế giới ở khoảng giữa cuộc đời đã biến mất. Giờ đây tôi có một quan điểm là sự việc tồn tại không phải để chúng ta hoàn thành nó. Nếu ta đã làm hết sức mình thì cứ xuôi theo tự nhiên. Trong tinh thần đó tôi hầu như đã điềm tĩnh hơn trước rất nhiều. Và hình như cũng đã bớt sợ sệt những việc sơ đẳng như duyên nghiệp chẳng hạn.”

[12] Và đến đây chuyện gặp chút ít rắc rối. Ông ghiền công việc viết lách, và ông cũng ghiền sự mạo hiểm – ông thích viết như một đường lối liều lĩnh và sự mạo hiểm là nhiên liệu sáng tạo của ông. Đó là lý do vì sao cuộc sống của ông thật điên cuồng, có rất nhiều bà vợ, những trận đánh nhau, những cảnh tượng say xỉn, những trò hề trước công chúng, những căn nguyên diệt vong. Và bây giờ dĩ nhiên ông không thể sống như thế được nữa. Ông là một lão già, và ông sẽ không viết lách nữa nếu ông không sống trong căn nhà gạch cũ xưa ở Provincetown, nếu ông không có một cuộc hôn nhân ổn định với Norris, người vợ bên cạnh chăm sóc ông, nếu ông không được khích lệ bởi sự ân cần của các cháu, nếu ông không có một lề thói hằng ngày. Cùng một lúc, ông nhận thấy mình cần thiết vô cùng sự mạo hiểm, ngay cả khi ông đang sống một cuộc sống thật nề nếp. Vài năm trước, ông bắt đầu dính vào trò cá độ football nhưng lý trí đã nhảy vào kịp thời thức tỉnh ông – “Tôi không thể thắng đủ để trả tiền cò mồi. Thật không thể tưởng tượng nỗi. Tôi hay đến cá độ với các tay chủ thầu đang ăn nên làm ra, từ khi tôi đến với họ, họ bắt đầu gặp vận xui xẻo. Tôi đánh cá nhỏ thôi, nhưng có một năm tôi thua năm ngàn đô và vợ tôi biết được và bà đã đi mua ngay một bộ tủ nhà bếp giá đến những năm ngàn đô, và trò cá độ của tôi bị cấm tuyệt. Giờ tôi chỉ chơi bài xì phé giải trí.”

[13] “Có một điều lý thú về bài xì phé mà tôi cho rằng đó là bí mật vì sao nó lại được quá ưa chuộng, đó là ai trong chúng ta cũng có sẵn chút lòng nhẫn tâm. Một số người chỉ có rất ít – 2 phần trăm, 5 phần trăm, 10 phần trăm là nhiều rồi. Một người đê tiện lắm chắc có 20 phần trăm lòng tàn nhẫn. Làm người nhẫn tâm rất khó. Nó đòi hỏi nhiều mánh khóe và can đảm, và nó tự tàn phá chỉ trong một khoảng thời gian. Trừ phi mình là kẻ cướp, nhưng ít ai làm nghề đó. Trong trò chơi này mình có thể trở nên thật nhẫn tâm, và tôi có thể thư giãn rất hợp rơ với con trai út tôi trừ lúc chúng tôi chơi xì phé. Chúng tôi không đánh lộn; chúng tôi chỉ la hét cười ầm lên khi một người đánh bại được người kia. Tôi nghĩ lý do tại sao cả nước điều mê chơi trò này vì nó cho phép chúng ta biểu lộ sự nhẫn tâm mà không phải trả bằng một giá ghê gớm. Bởi vậy nó nên được phê chuẩn liệt vào danh sách một trong những liều thuốc duy trì sự tồn tại của con người.”

[14] Hóa ra ông cần những mạo hiểm nhỏ để khuyến khích sự táo bạo cho những mạo hiểm lớn trong cuốn tiểu thuyết. Ông vẫn tin như vậy. Viết lách là một công việc đáng sợ: Đối với ông, đi chơi rong, uống say và chơi húc đầu cho đến đổ máu với gã nào đó cũng không đáng sợ bằng lúc sáng hôm sau thức dậy và bắt đầu viết. Và ông luôn luôn thức dậy vào sáng hôm sau và viết. Nhiều người nói, ồ, ông đang phí phạm tài năng của mình cho những điều vô bổ; ông sẽ có thể sáng tác nhiều hơn nếu ông chịu ở nhà gìn giữ tài năng của mình. Nhưng ông thì không nghĩ như thế. Phải đánh liều để bảo vệ tài năng, rồi ông cứ chửi bới, vật lộn, rượu chè, ngủ hết bà vợ này đến bà vợ khác, hết người bạn này đến người bạn khác, ông công kích thuyết giáo trật tự xưa cổ; và viết khoảng 45 tác phẩm đề tên mình. Ông cũng vừa mới viết xong một cuốn tiểu thuyết phức tạp nghiêm túc dày khoảng 500 trang. Và nếu tác phẩm đó có vẻ hạn hẹp đó là vì văn hóa đang bị thu nhỏ, có lẽ tại vì Norman Mailer giờ chỉ thích chơi xì phé thay vì đánh vỡ mật Gore Vidal. Dĩ nhiên, Mailer không hề nghĩ như vậy. Ông chỉ biết ông không tự hạ thấp, mà ông đang chiến đấu chống lại sự hạn hẹp. Ông nói, “một trong những lý do ta viết tiểu thuyết là để thực hiện được điều ta chưa chắc mình có thể hoàn thành. Rồi ta già và ốm yếu đi nhưng vẫn tiếp tục sống cuộc đời gây cấn. Hẳn sẽ có một ngày tôi sẽ sẽ thất bại bằng chính tiêu chuẩn của mình. Hẳn nhiên theo sự phán xét của nhiều người, tôi đã từng thất bại rất nhiều, rất nhiều lần. Nhưng đó lại là một vấn đề khác. Nhưng bằng chính tiêu chuẩn của tôi, rồi cũng sẽ có lúc tôi bị thất bại, và tôi sẵn sàng đón nhận thời khắc đó vì tôi đã tận tâm tận sức hơn là dần đà buông xuôi. Dĩ nhiên sự ngã quỵ dần dần rồi cũng sẽ đến. Và có lẽ tôi phải về hưu trong vài năm nữa. Quá nhiều điều đã kém đi. Thị lực, thính giác, rồi tôi dần biến thành một quái vật nội tâm, một người duy ngã, và tôi nghĩ điều đó dẫn đến đoạn cuối đường của một nhà văn, trừ phi nhà văn mang một tư duy thật xuất thần.”

[15] Ông không cho rằng là mình đã thất bại với tác phẩm Lâu Đài Trong Khu Rừng. Ngược lại, ông nghĩ là mình đã làm tròn sứ mệnh. Ông nghĩ ông đã viết được The Big Book [Quyển Đại Thư]. Những người dưới tuổi sáu mươi đang đọc câu truyện này nên biết rằng Norman Mailer có nhiệm vụ phải viết Quyển Đại Thư. Ông đã gọi nó bằng cái tên đó và mọi người cũng gọi nó như thế. Ông còn nêu ra tiêu chuẩn cho nó. Quyển Đại Thư, ông nói, là một tiểu thuyết có thể thay đổi ý thức thời đại. Hãy gọi điều này là ảo tưởng huy hoàng, hoặc một giấc mơ siêu thực, hay bất cứ một cái tên nào cũng được nhưng điều quan trọng là trong suốt ba mươi mấy năm qua, mọi người luôn tin tưởng nó sắp sửa ra đời. Mailer thì cứ hứa hẹn với nhà xuất bản là ông đang viết cuốn đó, đang bắt đầu viết cuốn sách lớn. Và như chúng ta biết, ông đã không bao giờ viết nó. Ông viết rất nhiều tác phẩm, nhiều tác phẩm giá trị như The Armies of the Night [Đoàn Lính Đêm] và An American Dream [Giấc Mơ Hoa Kỳ]. Ông cũng đã viết kiệt tác the The Executioner’s Song [Bài Hát Của Đao Phủ] – một tác phẩm lớn, hơn cả ngàn trang. Cuốn sách được viết theo thể loại báo chí và hàm chứa ngôn từ tràn ngập giọng điệu sám hối nên cùng một lúc nó được nhìn nhận là một sự chối bỏ lẫn sự hoàn thành của hoài bảo. Ông cũng đã viết một vài tác phẩm rất dài về những đề tài lớn nhưng không ai đón đọc. Mười năm trước ông còn viết một cuốn về Thiên Chúa – gần như là phần mở đầu của cuốn Lâu Đài Trong Khu Rừng – nhưng ông nghĩ tác phẩm đó là một sự thất bại vì ông chưa có đủ tài cán trong lúc viết ra nó. Sự thật là không một tác giả nào có thể viết ra một cuốn sách thay đổi ý thức thời đại này của chúng ta, bởi vì sách không còn có sức ảnh hưởng như xưa nữa, và mọi người không trông mong sách sẽ làm điều đó. Rồi tác phẩm Quyển Đại Thư của Normal Mailer trở thành lãng phí, nạn nhân của chính sự khát vọng phi lý của nó.

Cho đến bây giờ, giờ đây ông sắp sửa cho ra mắt về đề tài Hilter và Ác Quỷ và đó là tài cán thật sự, một lời hứa hẹn của ông. Vâng, có một lý do nào đó không rõ đã chứng thực ông vẫn còn là một nhà văn đầy hứa hẹn ngay ở độ tuổi 83. Chỉ mới nghe đến sự liên kết của ba chữ Mailer, Hitler, Ác Quỷ, chúng ta lại dấy lên niềm hy vọng là lần này ông đã hoàn thành được những điều ông ấp ủ từ bấy lâu. “Thay đổi ý thức thời đại” không phải là một tiêu chí chỉ dùng để ngắm thưởng mà còn là một tiêu chí có thể thực hiện. Mailer tin rằng ông sẽ thành công nếu mọi người chia sẻ với ông lòng tin sự hiện diện của Ác Quỷ là có thật.

Ông đã ước tính ra số người sẽ bị ông làm tức tưởi. Đó cũng là một dấu hiệu rõ rệt là ông đang quay về với nan đề quan trọng của thời đại không vì một mục đích danh vọng. Ông nói, “Một trong những điều tôi chờ đợi náo nức – bằng một thú nghiền ngẫm nhằm để tiêu khiển – là buổi tiệc ra mắt của cuốn sách, vì tôi cũng đã thử qua những trải nghiệm tương tự.” Những người phái Tả sẽ ghét cuốn sách này của ông vì họ là những người cơ bản rất “duy lý” và họ sẽ nêu ra ý niệm về Ác Quỷ quá xưa cũ, “Mailer có vẻ đang thoái.” Phái Hữu cũng sẽ ghét nó vì Chúa của họ không phải là một đấng toàn thiện, toàn năng mà chỉ là một người “đang cố gắng làm tất cả điều gì có thể làm.” Phái Trung Lập cũng ghét nó vì “phái Trung Lập thuộc những người chuyên thám thính và thu lượm,” những người lấy làm hãnh diện vào tầm quan xác thế giới kiên nhẫn và đầy trách nhiệm của họ. Và không còn có điều gì xúc phạm hơn là sự siêu phàm. Những người Do thái sẽ ghét nó vì nó là một cuốn sách về Hitler, hơn thế nữa cuốn sách còn tha thứ, không quy tội lỗi cho những người Đức. Và Michiko Kakutani của tờ New York Times sẽ ghét nó bởi vì cô là “Michiko! Công chúa của những khuôn rập! Cô ta sẽ xé nó tan nát từ cành đến ngọn. Cô ta làm như thế với toàn bộ những tác phẩm của tôi. Hãy thử điểm danh những tiểu thuyết gia lớn như Roth, DeLillo, Updike, tôi là người bị chê bai nhiều nhất. Tôi không rõ điều gì đã khiến cái mông Nhật Bản bất tử của cô khó chịu đến thế. Hội Người Mỹ gốc Châu Á sẽ làm khó tôi vì câu nói trên, nhưng tôi muốn cam đoan với họ trước khi họ nổi trận lôi đình, rằng mông người Mỹ cũng có bệnh ngứa ngáy và tôi chỉ muốn nói bao nhiêu đó thôi. Và tôi mong rằng anh đã ghi hết nguyên văn những lời tôi vừa nói.”

[16] Thật tình cũng rất khó đoán biết buổi ra mắt sách sẽ được diễn ra như thế nào. Còn nếu ta muốn biết mọi người sẽ đón nhận cuốn sách ra sao thì hãy cứ nhìn những người cử tọa buổi ra mắt. Chỉ cần tham dự buổi tiệc trưa do nhà xuất bản tổ chức cho ông ở New York. Thật rực rỡ một phong cách rất riêng và rất cảm động, nhưng chắc không nằm trong dự kiến của nhà xuất bản. Buổi tiệc dành cho Mailer, cho thời đại dĩ vãng, và nó khiến ta nhận thức ra được sự mất mát không thể thay đổi của tuổi tác. Buổi tiệc trưa được tổ chức tại Keens, một nhà hàng ở khu trung Mã Nhật Tân. Khoảng một trăm năm về trước, Keens là hộp đêm nơi người ta đến để hút thuốc lào, và những cái ống hút bằng đất vẫn còn được gìn giữ cho đến nay, treo đầy trên tường, phủ cả trần nhà, và dù là những thứ đó được trang hoàn chỉ để gợi tính hiếu kỳ, sao chúng trông giống bộ xương sườn cũ kỹ của con cừu. Buổi tiệc trưa cố gắng tạo nên khung cảnh luyến nhớ đầy nam tính, nhưng nó lại diễn ra trong một nghĩa trang và tâm trạng của quan khách mang đầy lòng hoài niệm thành thạo đến trớ trêu. Họ giả vờ hùa theo – hoài niệm là một tâm trạng sang trọng bởi vì họ cho rằng sự đẳng cấp của họ so với quá khứ là một điều hiển nhiên. Có rất nhiều người viết trẻ tham dự, y như thể những người biên tập thâm niên trong thành phố đã nhận thiệp mời từ nhà xuất bản, và sau khi suy nghĩ kỹ lại vào phút chót, họ đã phái những đứa trẻ đầy triển vọng chỉ thường ngồi trong văn phòng đến đại diện thay chỗ họ. “Đi đi, có rượu. Có thịt. Có Norman Mailer. Nhất định sẽ náo nhiệt.” Rồi những đứa trẻ đã tham dự dù rằng họ còn có rất nhiều việc phải làm. Có thịt hảo hạng tươm mỡ và có rượu Scotch – những bốn loại rượu mẫu từ bộ sưu tập mạch nha đặc biệt của Keens dành cho mỗi vị khách. Mailer ngồi trong cùng, hai cây gậy vắt ngang trước mặt, ông mặc chiếc áo khoác màu xanh bên trên loại áo sơ mi mà chỉ những người cùng thời với ông mới mặc loại màu xanh nhạt cổ sải. Và ông điều khiển chiếc cằm sành sõi như một truyền trưởng trong lúc quan sát đám đông, rồi ông đứng dậy và biến mình thành trọng điểm của buổi tiệc. Dĩ nhiên tôi đã phỏng vấn ông và biết ông sẽ trích dẫn suy tưởng của mình về ý niệm Hitler là sự phản hồi Ác Quỷ dành cho Thượng Đế và vì sao quan điểm của ông về vai trò Ác Quỷ nắm giữ trong sự trổi dậy của Hitler sẽ xúc phạm đến những người duy lý phái Tả và những người mộ đạo của phái Hữu và những người nhạy bén của phái Trung Lập…Nhưng thiết nghĩ cần phải nói điều này về ông: Ông biết cách chinh phục đám đông. Ông là một sự kỳ bí đáng tôn kính, nhưng ông cũng biết rút ngắn khoảng cách đó bằng cách thỏa mãn quan khách với những tràng cười …và khi ông bỏ hai cây gậy xuống và đi từng đến từng bàn, từng bàn bằng những bước gỗ, ta sẽ thấy tài năng của ông điêu luyện đến mức nào ở trong những căn phòng chật nít dân viết lách, thông minh, đang trên đường thăng tiến, đông cứng vì ganh tị song vẫn hăm hở chờ đợi sự can thiệp của một người nào đó thích làm trọng điểm của sự chú ý để họ có thể nói về hắn. Tài năng của ông dành để làm điều đó và nếu Mailer có vẻ như thuộc về thế kỷ hai mươi đó là bởi vì ông là sản phẩm của văn hóa văn chương của thế kỷ hai mươi, và tài năng đó đã được phát huy tại New York trước khi mọi người có ý tưởng phải dẹp bỏ thuốc lá, bỏ rượu chè, bỏ đánh chém. Ngay cả những ý tưởng của ông cũng có thể được xem là một chức năng của sự đòi hỏi cần tranh luận, và việc những ý tưởng trở thành niềm đam mê của ông cũng có thể được xem là một chức năng của sự đòi hỏi phải thắng cuộc. Ở Keens, ông vẫn có đủ khả năng kéo cả đám đông hướng về phía ông một cách dễ dàng nhưng không thiếu phần trân trọng. Vấn đề nằm ở chỗ thật ra nơi đây không có một đám đông thật sự. Giống như có rượu mà không có sự khát, có nhiều dân viết lách chật cả phòng trên của Keens nhưng không có văn hóa thuộc tính chất văn học, không có ý thức thảo luận rộng mở, không có điều đáng để tranh luận, bởi vì mọi việc đã được định đoạt từ trước. Văn hóa rõ ràng duy nhất ở Keens là văn hóa của sự chuyên nghiệp, văn hóa của những tư tưởng đặt nặng địa vị, và không ai thèm nói chuyện với ai chứ đừng nói đến tranh luận về một ý tưởng, một lý thuyết hay một cuốn sách. Không có đám đông, chỉ có sự mô phỏng của đám đông, chỉ có một sân khấu của một đám đông, và ai cũng nhận ra điều đó. Và tôi đã tự hỏi Mailer có nhận thấy không? Ông vẫn thao thao trong cảnh phông bởi vì ông là một diễn viên chuyên nghiệp dư sức tỏa sáng ngay cả trên bục sân khấu tạm thời, hay ông là loại người giống như trong những cuốn phim Hollywood – ai cũng biết rõ sự tồn tại đó chỉ là giả tạo ngoài chính ông? Tôi không biết. Tôi không nhìn ra được. Tôi chỉ biết thời khắc thật nhất trong cả buổi trưa là khi những người ba hoa không thể ăn hết phần thịt của mình và hỏi xin túi đựng mang về.

[17] Tôi không có ý nói rằng ông là một nhân vật đáng thương. Tôi chỉ muốn nói ông là người cuối cùng mang một nhân cách khác lạ, và khi ông ra đi, điều đó cũng sẽ mất theo ông. Ông không chỉ là người cuối cùng thuộc thời Đại Thế Chiến II vẫn còn đang sáng tác; ông là người cuối cùng trong dòng kế vị của những tác giả người Mỹ đã sáng tác như những người đàn ông thật sự, viết với Đức Tin là họ có thể ảnh hưởng suy nghĩ và cách sống của những người cùng thế hệ. Trong số những người nối nghiệp đương thời của ông, cũng có những người đã và đang là những nghệ nhân tiểu thuyết xuất sắc hơn hẳn ông như Bellow – hơn ông đến 8 tuổi, và Roth phi thường – trẻ hơn ông 10 tuổi và vẫn đang cực nhọc sáng tác. Nhưng Mailer là tác giả vĩ đại nhất vì ông đã thẳng thắn công khai nhu cầu được làm người đàn ông vĩ đại nhất. Quyền tự do ông tìm kiếm không chỉ đơn giản mang tính nghệ thuật mà còn mang tính dân chủ vì ông là một công dân đúng nghĩa, trên trang giấy và ngay cả trong diễn đàn công cộng. Ông đã từng ứng cử chức vụ thống đốc thành phố New York và quyền tự do trước nhất ông đòi hỏi là quyền được trở thành một vị anh hùng của chính mình. Nếu sau cùng, điều này thỏa hiệp thành tựu văn chương của ông – không có một vị anh hùng nào của Norman Mailer mà không mang cái tên Norman Mailer – thì điều đó cũng sẽ thu gọn những sáng tác của ông thành một khối, những sáng tác sẽ nằm vừa vặn trong thiên sử đầy hoài bão của ông. Quả thực, sẽ không là một sự hạ thấp tài năng ông nếu ta cho rằng điều phân biệt giữa ông và những tác giả cùng thời là ông viết theo hạn kỳ và ông theo đuổi câu truyện lớn của nửa sau thời đại, đó là câu truyện quyền thế của người Mỹ. Không ai viết nhiều được đến thế bởi vì không ai viết để đáp ứng cả hai nhu cầu nghề nghiệp và sự kiếm sống. Không ai đủ vững tin, không ai viết như một thói quen, không ai tự thú nhiều đến thế khi họ có quá nhiều điều để che đậy; không ai đáng trích dẫn đến thế – không chỉ bằng danh nghĩa của một người có tài nói truyện lưu loát hay có tài tranh luận – mà với tư cách là một người phát biểu đại điện cho cái tôi của người Mỹ; không ai hào phóng lạm dụng tài năng của chính mình và nổ lực đem tài năng mình đến đỉnh cao được như ông. Không ai chạm đến thực chất của người Mỹ – đó là sự đồng cảm với nghị lực và can đảm chưa bị tiêm nhiễm trở thành sự đồng cảm với quyền lực – một cách thuần khiết như ông đã làm. Sau Henry James, ông cũng là một tác giả thích phơi bày sự man rợ bằng thứ ngôn ngữ cực kỳ lịch thiệp không để công kích nền văn minh mà để vượt qua mặt nó. Ông là một tác giả có đầy đủ tự do để viết một cách kiên cường, một cách đau xót, một cách vui nhộn, vì ông tin vào sự tuyệt đối của những thỏa hiệp không thể tránh khỏi. Và ông đóng vai trò một kẻ khờ khạo lẫn một nhà thông thái. Cái chết của ông sẽ không gây cảm hứng cho những người viết lời cáo phó phô trương cụm từ “phẩm hạnh nghiêm nghị” mà họ đã từng dùng cho đối thủ của ông là William Styron. Nhưng Mailer là một nhà luân lý học của thời đại hậu chiến tranh không ai có thể thay thế, vừa đam mê, độc đáo và cũng rất ương ngạnh. Đừng quên rằng ông đã sáng tác gấp năm lần số sách của Styron và gấp mười lần tổng số trang viết.

[18] Tôi đã thấu hiểu ông hơn sau buổi tiệc trưa. Tôi không có nhiều cơ hội ở trong một căn phòng đầy chật dân viết lách của New York như lần đó. Ông thì khác. Suốt quãng đời của mình, ông đã sống trong những căn phòng tương tự, và điều đó khiến tôi ít nhất hiểu được những hành động xấu của ông. Nếu ta là Norman Mailer, khi ta bước vào căn phòng như thế khó lòng mà không muốn đánh lộn với một người. Nếu không ta sẽ mất đi một điều gì đó thuộc về mình. Vậy mà khi tôi và Mailer cùng rời khỏi buổi tiệc trong chiếc limo, ông trông có vẻ ngoan ngoãn như lúc ở Provincetown. Có phần hơi mệt mõi và có lẽ mang nặng một chút do dự về sự đón nhận của cuốn sách, dựa vào những câu hỏi ông nhận được từ đám đông ở Keens, rất nhiều người cho rằng ông đã có chút ít chậm trễ. Nhưng ông vẫn còn đôi môi chúm và đôi mắt sắc sảo, dễ mến và khi tôi hỏi nếu buổi tiệc trưa được tổ chúc vào thời xưa, nó sẽ khác như thế nào. Ông chu môi và trả lời, “Ồ, sẽ có rất nhiều lời chửi thề,” nhưng ông nói lời này một cách rất vui vẻ và dễ dãi. Không có sự giận dữ; sự giận dữ đã dồn hết về bên phía tôi những tôi sẽ không làm gì với nó. Riêng Mailer thì biết phải làm gì với nó. Ông cũng biết phải làm gì với hoài bão của mình. Ông là một trong số ít những người vừa thuộc về nước Mỹ cổ xưa của Đại Thế Chiến II và vừa đã trở thành phần tử của một nước Mỹ mới, nước Mỹ của Cái Tôi Toàn Năng và Mailer là một nhà tiên tri. Tôi không thể hiểu được sự biến đổi đó. Tôi không bao giờ hiểu chiến tranh đã thay đổi những người không thích hy vọng vào điều gì thành những người tràn trề ham muốn – và tự cảm thấy mình được quyền có tất cả, và tôi muốn Mailer nói cho tôi hiểu. Ông là tác giả cuối cùng của thời đại ông; chắc chắn ông có thể nói cho tôi rõ điều đó, có thể không? Nhưng ông không thể. Ông chỉ cười một cách ngon lành vào những chữ “Thế Hệ Vĩ Đại Nhất” – “Tôi đang nghĩ đến người bạn chiến đấu của tôi” – và ông kể, những người đàn ông trở về sau chiến tranh cứ tin theo thuyết sinh tồn một cách ngờ nghệch và rồi đánh mất đi ý chí sinh tồn cho sự phồn vinh bất ngờ của nước nhà. Và tôi bắt đầu kể cho ông nghe về cha tôi – một người sống theo thuyết sinh tồn những lại không biết ý nghĩa của nó. Cha tôi đã gia nhập chiến trường, đã chiến đấu, đã nghiện rượu, và cũng đã thèm thuồng sự mạo hiểm như Mailer, đã bài bạc thua sạch tất cả ngoại trừ gia đình, đã chết trong giận dữ và rối loạn; những lời trăn trối cuối cùng của cha tôi là “Tha thứ cho tôi”; tro cốt của cha đã được ném vào đại đương vào ngày trước…

“Tro cốt?” Mailer nói, “Ông ta muốn vậy à?”

“Không, thật tình thì ông không thích vậy. Nhưng ông không còn quyền lựa chọn.”

“Tôi cũng tính chọn hỏa thiêu,” ông nói. “Nhưng tôi cũng không biết nữa. Tôi không muốn bị rải. Không tôi không muốn bị rải xuống.”

“Đó là một sự đánh cược, ông biết không?” Tôi nói “Hỏa thiêu.”

“Đúng, và tôi không thích đánh cược.” ông nói. “Tôi cũng không rõ tôi thích được chôn cất ở đâu. Tôi chỉ biết tôi thích được nghỉ ngơi ở đâu và nơi đó là căn hộ ở Brooklyn.”

“Chắc sau buổi tiệc trưa, hẳn ông cảm thấy mệt mõi lắm.” Tôi nói.

“Tôi muốn nói là tôi muốn được an nghỉ trong một cái hũ!” Ông nói.

Và rồi chiếc limo ngừng lại bên lề đường, và Mailer bước ra trong trời mưa tầm tã, boa người tài xế thật hào phóng, và dùng năm phút kế tiếp để leo những bậc thang khủng khiếp đó mà không rõ mình sẽ vào được trong nhà hay không khi đã lên đến nơi.

Dịch từ nguyên bản anh ngữ của Tom Junod đăng trên tạp chí Esquire, số tháng 1, 2007

  

  

  

   

bài đã đăng của Tom Junod


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)