Trang chính » Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 17, Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Thơ Email bài này

thơ Lucille Clifton

Lê Đình Nhất Lang chuyển ngữ

Lucille Sayles Clifton ra đời tại Depew, New York, năm 1936. Cha làm ở xưởng thép; mẹ làm thợ giặt, nội trợ, và làm thơ giải trí. Tuy cha mẹ bà không có học vấn chính thức, gia đình đông con này có nhiều sách và quý sách. Năm 16 tuổi, Lucille đã sớm vào đại học Howard ở Washington, D.C., theo học ngành kịch nghệ. Nơi đây bà gặp gỡ những trí thức như Sterling A. Brown, A. B. Spellman, Chloe Wofford (sau là Toni Morrison), và Fred Clifton, người mà Lucille lấy làm chồng năm 1958.
 
Tác phẩm của Lucille Clifton gồm có những tập thơ như Blessing the Boats: New and Selected Poems 1988-2000, thắng giải National Book; The Terrible Stories (1995) được đề cử vào giải National Book; The Book of Light (1993); Quilting: Poems 1987-1990 (1991); Next: New Poems (1987); Good Woman: Poems and a Memoir 1969-1980 (1987), được đề cử vào giải Pulitzer; Two-Headed Woman (1980), cũng được đề cử vào giải Pulitzer và thắng giải Juniper của Nhà Xuất Bản Ðại Học Massachusetts; An Ordinary Woman (1974); Good News About the Earth (1972); và Good Times (1969). Bà cũng viết cuốn hồi ký Generations: A Memoir (1976) và hơn 16 cuốn sách cho trẻ em.
 
Những danh dự mà bà từng nhận được gồm có: một giải Emmy, một giải Văn Chương Lannan, hai học bổng nghiên cứu của National Endowment for the Arts, giải Shelley Memorial, và giải Discovery của YM-YWHA Poetry Center. Năm 1999 bà được bầu làm Viện Trưởng của Học Viện Thi Sĩ Hoa Kỳ. Bà đã làm Thi Sĩ Danh Dự của tiểu bang Maryland từ 1979 tới 1982. Hiện nay, bà là Giáo Sư Xuất Sắc của các ngành Khoa Học Nhân Văn (Distinguished Professor of Humanities) tại St. Mary’s College ở Maryland.

 

 
Cô Rosie
 
khi tôi nhìn cô
được bọc lại như rác
ngồi đó, vây quanh bởi mùi hôi
của vỏ khoai tây quá cũ
hoặc
khi tôi nhìn cô
trong đôi giày của ông già cô
với ngón út cắt đi
ngồi đó, chờ trí óc cô
như chờ hàng chợ tuần sau
tôi nói
khi tôi nhìn cô
cô con đàn bà như cái bịch nâu ướt nhẹp
người từng là con nhỏ đẹp nhất ở georgia
từng được gọi là Hoa Hồng Georgia
tôi đứng lên
qua sự huỷ hoại của cô
tôi đứng lên
 

 

 
[Nếu tôi đứng trong cửa sổ]
 
nếu tôi đứng trong cửa sổ
trần truồng trong nhà của tôi
và ịn vú
vào khung kính cửa sổ
như những con chim đen áp chặt vào kính
bởi vì tôi là người quan trọng
trong một Cái Mới
 
và nếu người đàn ông kia tới ngăn cản tôi
trong chính căn nhà của tôi
trần truồng ngay trong cửa sổ của tôi
nói tôi đã xúc phạm hắn
tôi đã xúc phạm các
 
Thánh
 
của hắn thì hãy để hắn nhìn thân thể đen của tôi
áp chặt vào cái tấm kính của tôi
hãy để hắn khám phá chính mình
hãy để hắn chạy trần truồng qua phố
khóc lóc
nguyện cầu trong các thứ tiếng
 

 

 
Thượng Ðế buồn bực
 
mấy đứa con gái này là bằng xương,
chúng gãy.
ông muốn có những đứa con gái bằng đá
và những đứa con trai với những cành cây thay cho cánh tay
để nhờ chúng ông có thể nâng cuộc đời mình
và được chúng nâng.
mấy đứa con trai này là bằng xương.
 
ông mệt vì những tháng năm cứ đổi thành tuổi già
và da thịt cứ nới rộng.
ông mệt vì chờ đợi hàm răng ông
nó cắn ông rồi bỏ đi.
 
ông mệt vì xương,
nó gãy.
ông mệt vì những kiểu loè loẹt của ê-và và
lải nhải của a-dong.
 

 

 
[Sau cùng chúng tôi cũng giết bọn gián]
 
sau cùng chúng tôi cũng giết bọn gián.
mẹ và tôi. bà xịt,
tôi quét trần nhà và chúng rớt
chết ngay trên vai chúng tôi, trong tóc
phủ lên chúng tôi bằng màu đỏ. bộ lạc bị phá vỡ,
những cái nồi nấu lại về tay chúng tôi trở lại
và chúng tôi mừng, sự sạch sẽ ấy đúng là ơn huệ
khi tôi lên mười hai. chỉ trong vài đêm thôi,
và về sau cũng chẳng nhiều, tôi mơ thấy máu
tay tôi là những lưỡi dao và toàn là chém giết chém giết
ở tất cả các nơi.
 

 

 
Tôi biết xưa kia có một ông
 
tôi biết xưa kia có một ông đã giết những con ngựa hoang.
khi ông kể lại việc đó
lời lẽ phi nước đại ra khỏi miệng ông
rồi vùng vẫy và chạy túa ra
mọi hướng chết bằm. lưỡi ông
lồng lộn và rộng và xoay tròn khi ông nói
và những người ông nhìn tới đều nhắm mắt lại
và lột da lưng mình ra khi họ bỏ đi
và thôi không ăn thịt nữa.
chẳng có cách nào ngăn ông lại một khi ông bắt đầu;
ông đã giết những con ngựa hoang một lần và
chúng cưỡi ông tới tận nấm mồ ông.
 

 

 
Nói về mất mát

 
tôi bắt đầu với mọi thứ;
cha mẹ, hai ngón tay thừa
và một đứa em trai để làm hư hỏng. tôi là
một đứa con gái giàu không tiền
trong một chiếc áo đầm đỏ. làm cách nào tôi lại
ngồi trong căn nhà này
khoác một cái tên mà tôi chưa từng nghe
cho tới khi tôi là đàn bà? ai đó đã đánh cắp
cha mẹ tôi và giấu em trai tôi đi.
những ngón tay thừa của tôi bị cắt mất.
tôi còn lại hai bàn tay trơn và
không có gì để cho bạn ngoài những bài thơ.
 
 
——————–
Nguồn: A. Poulin, Jr., Contemporary American Poetry, 5th Ed. (Boston: Houghton Miffling Company, 1991)
 

 
Về sức mạnh lấy từ những người khác
 
Hồi 5 tuổi tôi quên bài đọc. Ðó là chương trình Giáng Sinh hàng năm của Nhà Thờ Macedonia Baptist – một sự kiện huy hoàng – và tất cả các thành viên nhỏ của trường Chúa Nhật đều nhận được những bài thơ và đoạn văn để học thuộc lòng. Tôi quên bài của tôi. Tôi nhớ mình đứng trên sân khấu trong chiếc áo đầm Giáng Sinh mới, cố gắng không khóc trong khi những người đi nhà thờ mỉm cười, gật đầu và thì thầm khích lệ từ hàng ghế đầu.
 
“Bắt đầu đi, em bé.”
 
“Nói ngay đi, Luc.”
 
“Vô luôn đi, bé.”
 
Nhưng tôi không thể nhớ lại được, và để giấu sự nhục nhã thâm sâu của tôi, sự ngượng ngùng của tôi, tôi trở nên quạu cọ, giận dữ.
 
“Tôi không muốn.”
 
Và tôi cứ đứng đó với cái miệng chu ra.
 
Thật là đáng xấu hổ! Con bé ngây thơ không tên tuổi này đứng trước Chúa ngay trong nhà của Ngài nói về cái mà nó không muốn! Tôi cảm nhận được sự phản đối đổ lên chiếc áo đầm mới của mình. Rồi, như một ngọn sóng triều từ đại dương của Thượng Ðế, bà mẹ sùng đạo của tôi ào xuống lối đi rửa tội, rộng lớn như tình yêu, bàn tay bà vươn ra về phía tôi.
 
“Lại đây, con,” bà mỉm cười, rồi quay lại nói với người trong nhà thờ: “Bé không cần phải làm cái gì mà bé không muốn làm.”
 
Và tôi trong cùng một lúc được tăng thêm sức mạnh và được giải thoát…
 
Vào tháng Mười Một năm 1984 người chồng yêu dấu suốt 30 năm của tôi qua đời. Tôi đang trải qua được nhờ các con gái, các con trai tôi, những người bạn gái của tôi. Khi tôi rút vào phòng để chỉ ngồi thừ ra hoặc khóc tôi nghe được mẹ tôi nói qua bốn đứa con gái của tôi. “Bà ấy không cần phải làm ra vẻ cứng cỏi nếu bà ấy không muốn.” Và chúng vẫn còn yêu thương tôi.
 
Chúng tôi nói chuyện nhiều, bốn người đàn bà ấy và tôi, nhưng xưa nay chúng tôi lúc nào chả vậy. Chúng nó lớn lên được nghe những câu chuyện tôi nghe mẹ và các dì và những bà mẹ già ở nhà thờ kể lại. Ðiều đó đã là, vẫn là, cách chúng ta đang tiếp nối trên đất nước này, chuyển lại lịch sử của riêng chúng ta và cái lịch sử và văn hoá lớn hơn của nước Mỹ. Không phải chỉ của Mỹ Da Ðen, mà là của tất cả, để mà chúng ta biết đời sống của người da đen ra sao cũng như của những người da trắng trong thời nô lệ bởi vì chúng ta đã nghe kể và nghe lóm được những câu chuyện của Ole Miz và điều gì đã xảy ra vào thời đó. Việc nói chuyện và lắng nghe này từng là, vẫn là, sức mạnh của chúng ta, vì truyền thống chúng ta chia sẻ không chỉ gồm những dữ kiện chính xác và lạnh lùng bề ngoài, mà còn có tình cảm và ý nghĩa bề trong đối với mọi sự việc.
 
 
 
 

bài đã đăng của Lucille Clifton

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)