Trang chính » Biên Khảo, Dịch Thuật, Nhận Định, Sang Việt ngữ Email bài này

Thơ Mỹ trong thế kỷ mới


♦ Chuyển ngữ:
1 bình luận ♦ 27.07.2010

Theo bài viết tiếng Anh “American Poetry in the New Century,” trong tạp chí Poetry tháng 9.2006

 

John Barr sinh tại bang Nebraska, Mỹ, và lớn lên tại một thị xã nhỏ gần Chicago. Ông tốt nghiệp cử nhân (1965) và cao học (1972) tại đại học Harvard, rồi lao vào thương trường: sáng lập và làm chủ tịch công ty Natural Gas Clearinghouse trong 5 năm, làm cho ngân hàng đầu tư Morgan Stanley lên đến chức giám đốc quản trị. Năm 1990, ông rời Morgan để đồng sáng lập công ty ngân hàng đầu tư riêng Barr Devlin. Trong suốt thời gian “làm ăn lớn,” Barr vẫn theo đuổi sự nghiệp thơ ca, và đã cho xuất bản ít nhất sáu tập thơ. Trước khi trở thành chủ tịch của Poetry Foundation vào năm 2004, Barr từng phục vụ trong các ban quản trị của Poetry Society of America, tạp chí Yaddo, trường Bennington College, và giảng dạy về thơ ca bậc cao học tại trường Sarah Lawrence College.

Poetry Foundation (Sáng Hội Thơ Ca) là tên mới của Modern Poetry Association (Hiệp Hội Thơ Ca Hiện Đại) do Harriet Monroe sáng lập trong thập niên 1940. Tạp chí Poetry là ấn phẩm chính của hiệp hội này. Cuối năm 2002, trong một sự kiện khiến cho cả nước Mỹ chú ý, bà Ruth Lilly, người chắt cuối cùng còn sống của đại gia dược phẩm Eli Lilly, tặng cho hiệp hội một món quà trong 30 năm trị giá ước lượng từ 100 triệu đôla tới 175 triệu đôla, biến hiệp hội này thành tổ chức văn chương bất vụ lợi giàu nhất nước Mỹ. Bà Ruth Lilly được ghi nhận là một người yêu thơ từng gửi bài tới cho tạp chí Poetry và liên tục bị từ chối đăng. [theo FoundationCenter.org]

 

1

Thơ trong đất nước [Mỹ] này đang sẵn sàng cho một điều gì mới. Chúng ta đang ở đầu một thế kỷ, và điều đó, trong quá khứ, đã từng đánh dấu những khởi đầu mới cho nghệ thuật này. Pound và Eliot phát động chủ nghĩa hiện đại trong những năm đầu của thế kỷ hai mươi, trong những trang của tờ tạp chí [Poetry] này. Và trong những năm đầu của thế kỷ mười chín, 1802 cho chính xác, Wordsworth phát khởi thời kỳ Lãng Mạn của thơ ca với ấn bản thứ hai của tập Lyrical Ballads [Những Ballad Trữ Tình]. (Cuốn lịch trăm năm không đi lùi thêm nữa. Những năm đầu của các thế kỷ mười bảy và mười tám không đánh dấu những điểm xuất phát mới cho thơ tiếng Anh. Và thơ Mỹ tìm thấy khởi đầu thật sự của nó nơi Whitman và Dickinson, những người đã sáng tác trong khoảng giữa thế kỷ mười chín, không ở một đầu thế kỷ nào.)

Nhưng đây thật ra không phải là vấn đề về niên đại. Thơ Mỹ đang sẵn sàng cho một điều gì mới bởi vì các nhà thơ của chúng ta cho tới nay đã viết theo cùng một lối trong một thời gian dài. Có sự mệt mỏi, một điều gì đó bế tắc đối với loại thơ đang được viết ngày nay. Nếu ta có thể nói rằng một đặc điểm của thơ Lãng Mạn là có quá nhiều thơ loại đó được viết ra sau khi nó được định hình (những nhà gieo vần cuối tuần [nguyên văn: “weekend versifiers”] mãi tới hôm nay vẫn viết bằng những phương thức Lãng Mạn), ta có thể nói y như vậy với thơ Hiện Đại. Phong cách của nó từ lâu đã được thấm nhuần. Chủ nghĩa Hiện Đại đã đi vào DNA của các chương trình MFA [cao học mỹ thuật]. Nhờ mọi trường phái và các cuộc thử nghiệm của nó, thơ đương đại vẫn được viết trong màn mưa do chủ nghĩa Hiện Đại tung ra. Đây là bộ máy thúc đẩy những gì được viết hôm nay. Và nó là một bộ máy mệt mỏi.

Một nền thơ mới đang trở nên cần thiết không phải vì chúng ta muốn có, mà vì phương cách các nhà thơ đã học để viết không còn nắm bắt được cái cách mà sự vật hiện hữu, cái cách mà sự vật đã thay đổi. Thực tại lớn nhanh hơn loại hình nghệ thuật: loại hình nghệ thuật không còn tương xứng với thực tại chung quanh nó. Các nhà thơ Georgian sau một thế kỷ viết theo một lối, đã viết với cảm thức cạn kiệt của chủ nghĩa Lãng Mạn. Thơ của họ chìm đắm trong một nước Anh tiền chiến: “có / còn chiếc đồng hồ Nhà Thờ chỉ ba giờ mười? / Và có còn mật để uống trà?” Các nhà thơ Georgian không cảm nhận được Thế Chiến 1 đang tới gần, và thơ của họ không ngang tầm những nỗi kinh hoàng của chiến tranh giao thông hào. (Để xem một cảm thức kiểu Georgian đã đáp ứng như thế nào, hãy đọc Rupert Brooke: “Nếu ta có chết, hãy chỉ nghĩ điều này về ta: / Rằng một góc nào trên cánh đồng phương xa / Vẫn mãi mãi là nước Anh.” Đây là một bài thơ đẹp, nhưng còn cách xa mùi khói mù tạt cả một cánh đồng.) Phải đến Yeats mới cho thơ Anh liều lượng lớn đầu tiên của chủ nghĩa hiện thực thế kỷ hai mươi. Phải đến The Waste Land [Đất Hoang] mới nảy ra một thứ thơ ca của sự hỗn loạn.

Nhu cầu về điều gì đó mới mẻ là hiển nhiên. Sự vắng mặt đáng chú ý của thơ đương đại trong các cuộc đối thoại công cộng ngày nay, trong trường trung học, trong những tiệm sách, và trong báo chí dòng chính, là bằng chứng của một dân tộc thiếu thơ nhưng không màng đến thơ trong đầu. Bạn có thể đếm chưa đầy bàn tay số tiệm sách trong đất nước này được biết tới nhờ bộ sưu tập thơ. Một thế kỷ trước các nhật báo của chúng ta thường đăng thơ trên trang chính; năm mươi năm trước các báo lớn thường điểm những tập thơ mới. Hôm nay hầu như ta không bao giờ thấy một bài thơ trên nhật báo; và số tập thơ mới được điểm trong phụ trang New York Times Book Review đã giảm xuống còn vài cuốn một năm. Nói chung, một quần chúng hứng thú là nhu cầu hàng đầu của thơ ca.

Hơn một thập niên trước, Dana Gioia nhận ra sự tách rời của thơ ca khỏi đời sống công cộng, trong tiểu luận quan trọng của ông, “Can Poetry Matter?” [Thơ Ca Có Làm Được Cái Thá Gì Không?] Câu hỏi vẫn còn nguyên đó. Thiếu một thính chúng phổ thông, các nhà thơ vẫn viết cho nhau đọc. (Hãy chứng kiến sự phát triển của các khóa hội thảo sáng tác và các chương trình MFA.) Vì công chúng mua sách không mua tác phẩm của họ, ít nhất là không mua với số lượng thương mại, họ không thể sống bằng nghề viết. Do đó họ dạy học. Nhưng một cuộc sống hàn lâm lại ngăn cách họ thêm xa với một thính chúng phổ thông. Mỗi năm, những chương trình MFA cho ra trường nhiều ngàn sinh viên đã được huấn luyện để nghĩ về thơ như một sự nghiệp, và nghĩ đến làm thơ như thể nó liên quan đến các tiêu chuẩn nghề nghiệp. Tác dụng của các chương trình này lên loại hình nghệ thuật là làm tăng sự thừa mứa, nhưng giới hạn tính đa dạng của thơ. Kết quả là một nền thơ ca không vạm vỡ, vang dội, mà cũng không—và tôi xin nhấn mạnh tới phẩm chất này—thú vị; một nền thơ ca vừa thiếu đói vừa nở hoa trên những khoản trợ cấp học đường.

Không đáng ngạc nhiên, thơ ca có một vấn đề về ý chí phấn đấu. Vài năm trước tôi được đọc một bài phê bình, trong số Chủ Nhật của tờ Times, về ba tập thơ. Một là về những nỗi khổ của tuổi già, một về nước Ireland bị đạn bom tàn phá, một về người cha đã chết của nhà thơ. Câu hỏi dấy lên: làm sao để ta lay động nguyên cả một loại hình nghệ thuật ra khỏi cơn buồn nản? Dĩ nhiên bi kịch có chỗ trong thơ. Quả thật một trong những nhiệm vụ của thơ là ca thán về những điều tệ hại nhất mà cuộc đời có thể trao cho ta. Như Yeats đã nói, hãy để “linh hồn vỗ tay và hát, và hát lớn hơn lên / Cho từng mảnh vụn của tấm áo tử sinh.” Nhưng nghệ thuật không nên chỉ là về sự cố. Thơ không cứ phải đi từ tổn thương mà ra. Chừng nào tình trạng này còn, thì nó đưa đến một nền thơ ca chỉ có một giọng—hay nói một tâm trạng cũng đúng. Yeats nhận ra điều này khi ông viết, “Bảy mươi năm ta đã sống, / Bảy mươi năm làm đàn ông và bé trai, / Và chưa bao giờ ta nhảy múa vì vui.” Những giới hạn của thơ ca hôm nay không xuất phát từ sự non tay nghề (đã có các chương trình MFA lo điều đó) mà từ những hoạn nạn của tâm hồn. Thơ ca Mỹ vẫn chưa tạo ra được một Mark Twain của nó.

Tác dụng tổng hợp của sự thờ ơ của công chúng và chủ nghĩa danh vị, vì thế, là sự trì trệ trí thức và tâm hồn trong loại hình nghệ thuật này. Mặc dù các nhà thơ tự hào về tính độc lập của mình, lần mới đây nhất mà bạn đọc được một bài thơ có tầm nhìn chính trị làm bạn ngạc nhiên hoặc thách thức bạn là vào hồi nào? Thái độ đã thay thế trí tuệ.

 

2

Tôi mong có thể đưa ra một bức ảnh rõ nét về cái mà tôi nghĩ rằng nền thơ ca sắp tới sẽ giống. Nhưng tiên đoán con đường tương lai của thơ cũng giống như cố gắng tiên đoán thị trường chứng khoán (Wall Street là nghề tay kia của tôi). Cả hai liên tục kháng cự lại việc bị chụp bắt theo cách đó. Và thơ thì còn hơn nữa bởi vì nó phát sinh từ một điều gì không thể uốn nắn được trong hồn người. (Thơ—nhờ ơn Chúa—là con vật luôn luôn vuột thoát.) Tuy nhiên, có một cách khác để tiếp cận chủ đề này: bằng cách mô tả nền thơ ca mới sẽ khác ra sao so với cái ta có hôm nay. Việc này có thể không cho ta một bức ảnh chính xác của con voi, nhưng khi xong việc thì ta sẽ có con voi được mô tả khác biệt ra sao so với các con vật khác trên chiếc thuyền của Noah.

Nơi chốn để tìm kiếm nền thơ ca kế tiếp có lẽ không phải là nơi mà bạn có thể đã tìm lúc đầu. Chủ nghĩa Hiện Đại ra đời giữa một cao trào sáng tác nặng về kỹ thuật: Pound với Imagism [chủ nghĩa Duy Hình Ảnh] và Vorticism [chủ nghĩa Quy Tâm], Gertrude Stein với lối viết tự động, Eliot với thơ tự do và cắt dán, Marianne Moore với thơ đếm âm tiết. Tự nhiên người ta trông đợi nền thơ ca kế tiếp sẽ xuất phát từ những loại thơ thử nghiệm khác. Nhưng điều này đã được thử qua, và các phát kiến theo sau chủ nghĩa Hiện Đại (projective verse [thơ xạ ảnh], thơ Ngôn Ngữ, thơ cụ thể) đã không mang được loại hình nghệ thuật theo chúng. (Tôi nghĩ ngõ cụt sẽ là số phận nằm chờ bất cứ nền thơ ca nào không phải là chứng tích của việc tâm hồn con người hưởng ứng.) Phát kiến kỹ thuật tự nó giống như cái đuôi cố vẫy con chó. Thơ hình thức hay tự do, một cuộc tranh cãi mà một thế kỷ trước gần như có tính tôn giáo trong mức độ cuồng nhiệt của nó, đã lắng xuống thành sự chọn lựa xem phương pháp nào thích hợp nhất với nhà thơ nào. Và nhiều nhà thơ dùng cả hai, tùy theo đòi hỏi của bài thơ. Tôi tin thời đại mới của thơ ca sẽ không tới từ thêm những phát kiến về hình thức, mà là từ một sự tiến hóa của cảm thức dựa trên kinh nghiệm sống.

 

Thơ như một sự nghiệp

Kinh nghiệm riêng của tôi với các chương trình MFA, nhờ đã dạy trong một chương trình, là chúng có thể từ một người viết tạo ra một người viết giỏi hơn. “Giỏi hơn” trong trường hợp này nghĩa là hiểu biết nhiều hơn về các truyền thống và về tầm nhìn đương đại của nghệ thuật, hoàn thiện hơn trong nghệ thuật viết, để ý hơn tới cái quầng sáng phê bình đang bao quanh và, tới một mức độ nào đó, đang thúc đẩy nghệ thuật. Đó là tin mừng: bạn ra trường am hiểu hơn về trình độ của quần chúng cũng như của những người viết khác. Trong khi đó, những chương trình này lại kèm theo những áp lực bắt chiều theo những đe dọa hàm chứa trong một khí hậu của chủ nghĩa danh vị. Chúng hoạt động trên một mạng lưới gồm các thông cáo và giải thưởng ở học đường vốn củng cố tình trạng cố hữu. Chúng được duy trì bởi một hệ thống học bổng, trợ cấp, và những khoản bao cấp khác, chuyên giải thoát những người nhận chúng khỏi trách nhiệm viết những cuốn sách mà một người đọc không phải là một chuyên viên có cơ may thưởng thức, thậm chí có cơ may mua về.

Kinh nghiệm MFA có thể gây nhầm lẫn giữa việc viết ra thơ, như một sự nghiệp, với việc viết một bài thơ như một nhu cầu hay hứng khởi. Tạo ra nghệ thuật không dính líu gì tới học bổng. Làm thơ là một hành động độc lập một cách quyết liệt. Nó xa cách hẳn những người thầy, những học hàm nội trú, và chức vị giáo sư. Hứng khởi duy nhất có giá trị để viết một bài thơ không phải là để gây ấn tượng mà là để chia sẻ: nỗi niềm ký thú hay tức giận hay buồn bã hay hoan lạc. Nhưng luôn luôn là niềm kỳ thú. Đối với một nhà thơ thì một cảm giác kỳ thú là điều kiện tiên quyết để có đủ khả năng di dời ngôn ngữ thành một phản ứng tươi rói. Liệu Walt Whitman kế tiếp có sẽ là một người tốt nghiệp MFA? Không hiểu sao điều đó có vẻ khó tưởng tượng nổi.

 

Sống cho rộng, viết cho dạn

Tại một làng nghệ sĩ vài năm trước một cư dân quay sang tôi ở bàn ăn tối và nói, “Thế anh dạy ở đâu?” Đó là một câu hỏi hợp lý, bởi vì tất cả các nghệ sĩ ở đây, mặc dù sống vì nghệ thuật, có vẻ đều dạy học để kiếm sống. Xin đừng hiểu lầm tôi: đời sống hàn lâm có thể cung cấp một nền tảng kinh nghiệm tốt để viết từ đó. Hãy chứng kiến số thơ chất lượng đã được viết ra bởi các nhà thơ đại học. Nhưng tác động của cách chúng ta sống trên những gì chúng ta viết ra—một mối liên kết theo tôi thấy dường như không được nhìn nhận đúng mức ngày nay—gợi ý rằng nếu mọi người đều dạy học để phục vụ cho nhu cầu viết của mình, đương nhiên là bề rộng của nền tảng kinh nghiệm tom góp lại cho thơ ca sẽ bị thiệt hại. Trên thực tế, ngoài vài trường hợp quan trọng, không có nhà thơ lớn nào của Mỹ xuất thân từ thế giới hàn lâm. Wallace Stevens làm phó chủ tịch Công Ty Bảo Hiểm Tai Nạn Hartford. Eliot làm việc một thời gian ở Ngân Hàng Lloyds, rồi làm xuất bản cho nhà Faber Và Faber. William Carlos Williams là bác sĩ nhi khoa tại New Jersey. Họ ít hay nhiều đều từng làm việc với cộng đồng các nhà phê bình có chân đứng hàn lâm, nhưng không ai viết từ kinh nghiệm cả đời thu thập ở đó. Thơ ca, như một cuốn sách ước trong gió, phải mở cùng lúc tất cả các trang.

Năm 1933 Ernest Hemingway đi chuyến săn thú rừng lớn đầu tiên của ông ở Đông Phi. Sau đó ông về nhà viết nhiều truyện ngắn (“The Short Happy Life of Francis Macomber” [Cuộc Đời Sung Sướng Ngắn Ngủi Của Francis Macomber], “The Snows of Kilimanjaro” [Tuyết Trên Đỉnh Kilimanjaro]), cuốn khảo luận Green Hills of Africa [Đồi Xanh Châu Phi], và một cuốn tiểu thuyết dang dở, True at First Light [Thật Khi Vừa Sáng]. Là chuyện bình thường trong giới sáng tác rằng chúng ta nên viết về những gì chúng ta biết, nhưng Hemingway đi thêm một bước xa hơn bằng cách tìm kiếm thêm kinh nghiệm mới để phục vụ cho việc viết của mình: lái xe cứu thương trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha, câu cá kiếm ngoài khơi Cuba, cùng chạy với bò mộng ở Pamplona. Ông nỗ lực sống nhiều hơn để viết hay hơn. Điều đó không có nghĩa là người ta phải bị bò rượt ở Pamplona thì mới có thêm kinh nghiệm. Nó có thể là một điều gì nhỏ nhặt như sự khác biệt giữa bài thơ có được từ một nhà thơ đi ngang địa điểm thi công so với bài có được từ một nhà thơ đang đổ bê tông. Bài của người nào cũng có thể hay hơn, dĩ nhiên, nhưng bài thơ của người sau sẽ được thông tin sâu hơn bởi kinh nghiệm. Như Derek Walcott nói, “Để thay đổi ngôn ngữ của mình, bạn phải thay đổi cuộc đời mình.”

Nhưng lần gần đây nhất mà bạn gặp một nhà thơ đương đại đi theo phương án này, tìm kiếm kinh nghiệm hoặc tri thức mới để phụng sự cho thơ ca của anh hay chị ta, là khi nào? Cá nhân tôi biết chẳng có bao nhiêu người băng qua đường mà cũng suy nghĩ, chứ đừng nói tới làm điều mà Hemingway đã làm, để hy vọng sẽ có được một bài thơ từ đó. Trên thực tế các nhà thơ có thói quen vô thức là chờ bài thơ đến với mình. (Theo lời một người bạn nhà thơ của tôi, “Anh không chọn bài thơ, bài thơ nó chọn anh.”) Hầu hết các nhà thơ đương đại tự sắp xếp mình vào vai trò nhân chứng. (Mary Oliver: “Tôi không biết rõ lời cầu nguyện là gì. / Tôi không biết làm sao để chú tâm.” Hay William Matthews: “Tôi toan tính ghi nhận mọi sự việc.”) Họ nghĩ người nghệ sĩ là một người bị tác động lên hơn là người đang tác động. Dĩ nhiên điều này không có nghĩa là thơ hay không thể xuất phát từ cái kho nghèo nàn nhất của kinh nghiệm sống. (Hãy nghĩ tới Emily Dickinson: bao nhiêu năm tháng ấy viết trong một căn nhà yên tĩnh, trong gọng kềm của một cảm xúc mãnh liệt không thay đổi.) Điều tôi muốn nói ở đây chính là những nhà thơ thời nay có vẻ không để ý ngay cả đến việc những gì họ viết ra sẽ bị ảnh hưởng bởi cách họ sống. Như Auden viết:

        Thượng Đế có thể làm cho mi
vào Ngày Phán Xét
        chỉ biết khóc vì ngượng ngùng,
trong khi đọc thuộc lòng
        những bài thơ mà mi lẽ ra
đã viết, nếu
        mi đã sống tốt đời mình.

           —trích Thanksgiving for a Habitat [Tạ Ơn Cho Một Chốn Náu Thân]

Khi các nhà thơ bắt đầu quan tâm đến cách họ sống ngang với điều họ viết ra, thì đó có thể ghi dấu một khởi đầu mới cho thơ ca. Như một bậc thầy về trà thiền, trước nghi lễ dọn trà từ lâu, đã chuẩn bị vườn cho khách, quét lối đi, dọn dẹp và sắp xếp lại căn phòng, các nhà thơ cũng vậy, trước tiên phải chú ý tới con đường đời mà họ đi. Quả thật, nếu họ không làm như vậy, thì dựa trên thẩm quyền nào họ có thể tự nhận là “những nhà lập pháp không được nhìn nhận của thế giới” theo Shelley? Quả thật, nếu họ không làm như vậy, thì làm sao thơ ca có thể là một hành động của lương tri? Làm sao các nhà thơ trả lời được cho những tác động của những điều mà họ viết ra trên cách sống của người đọc? Nhà thơ phải sống cho rộng, rồi viết cho dạn.

 

3

Thơ ca, trong lịch sử dài của nó, từng là đủ thứ cho đủ loại người. Đối với những dân tộc chiến sĩ, Beowulf Njal’s Saga [Hùng Sử Ca Njal] của Iceland kể những câu chuyện về các vị anh hùng của họ. Chủ đề của Homer, trong hai thiên anh hùng ca của ông, là về cái thế giới xa xưa khi thần linh sống ngay bên kia chân trời và tới thăm con người. Lucretius đặt khoa học và triết học của mình vào những tập thơ sáu nhịp. Virgil sử dụng thể anh hùng ca để cho Rome của ông một quá khứ huyền thoại và sự đỡ đầu thiêng liêng. Chaucer mang cái cao và cái thấp của xã hội Anh vào những cặp câu năm nhịp; với khiếu kể chuyện và lòng yêu nhân tính ông là nhà viết truyện ngắn đầu tiên của chúng ta [quần thể văn hóa nói tiếng Anh]. Các nhà soạn kịch thơ thời Elizabeth tạo ra một công nghiệp giải trí dựa trên dòng thơ năm nhịp có nhấn. Trong tất cả các sự biểu thị này—anh hùng ca, bi ca, suy niệm, nguyện cầu tôn giáo, châm biếm, thơ công cộng, kịch thơ—thơ ca là một cái gì đó khác thơ trữ tình. Vậy mà thơ trữ tình chiếm ưu thế hơn hẳn các dạng thơ khác được viết ngày hôm nay. Và chức năng duy nhất của thơ trữ tình, như dấu chân của nó đã có mặt khắp nơi, là cá nhân hóa chủ đề được nói tới.

Nói một cách rộng lượng, thì mục đích của thơ trữ tình là để thể hiện xem làm người là như thế nào. Các nhà thơ trữ tình hiểu thế giới qua chính mình; một tuyệt tác thơ trữ tình có thể chấm dứt bằng một cái núm của sự tự tri ngộ. Chính là Frost đã nói về thơ trữ tình khi ông đưa ra lời tuyên bố nổi tiếng, nói kiểu thấp giọng, rằng một bài thơ là “một sự minh giải đời sống—không nhất thiết là một sự minh giải lớn, như các giáo phái hay nhóm tín ngưỡng dựa trên đó để sáng lập, mà… một thoáng dừng lại trên nền mơ huyễn” [nguyên văn: “a momentary stay against confusion”]. Các nhà thơ trữ tình theo đuổi tri thức của và xuyên qua chính họ; các nhà anh hùng ca, ở đối cực kia, thì đòi hỏi một tri thức về thế giới và cách nó vận hành. Đó là vì một thiên anh hùng ca mô tả một trật tự thế giới, và làm như vậy với một sự khẩn thiết của lương tri.

Điều gợi ý của tôi ở đây là sự có mặt khắp nơi của thơ trữ tình hôm nay, tới mức loại trừ các dạng thơ khác, là một dấu hiệu nữa của sự nghèo túng trong loại hình nghệ thuật này. Những giới hạn của thơ ca trong bất cứ thời đại nào không phải là do những sự việc mà nhà thơ cảm nhận được nhưng lại không đủ khả năng nắm bắt (điều đó nghĩa là non tay nghề), mà là do những sự việc mà họ không bao giờ nghĩ tới để đưa vào hoặc không bao giờ nghĩ có giá trị đối với nghệ thuật của họ. Không riêng các nhà thơ; đây là chỗ mà một thời đại khác với thời đại kế tiếp nó. Trong mắt những kẻ tiếp nối nó, một thời đại của thơ ca rốt cuộc được định nghĩa ít nhất một phần bằng những gì nó không là. Bạn không thể nhận biết một thời đại—chẳng hạn, Châu Âu của Kafka—cho tới nửa thế kỷ sau, khi nó không còn hiện hữu, khi bạn có thể thấy được những gì nó không là, và cái gì phát xuất từ nó và thay thế nó. Nếu thời đại này về sau được nhìn bởi người đọc tương lai như một thời mà thơ ca có giá trị nhưng không hấp dẫn, thì điều đó sẽ không phải do non tay nghề.

Tới chỗ này thì đã hết sức có lý để yêu cầu công chúng gánh vác chút trách nhiệm nào đó cho cảnh ngộ bi đát của thơ ca đương đại. Như một người bạn tôi từng nói, nền văn hóa của chúng ta toa rập để chối bỏ sự riêng tư của chúng ta, thời gian cần có để đọc một bài thơ. Nhưng tôi không đồng ý. Đầu óc con người là một thị trường, nhất là khi nói tới chuyện chọn lựa mục giải trí cho chính mình. Người đi xem kịch vào thời Elizabeth luôn có chọn lựa khác là đi xem người ta nhử gấu thay vì một trong những vở kịch của Shakespeare. Một cuộc nghiên cứu hoàn tất hồi đầu năm nay, đặt hàng bởi Poetry Foundation [Sáng Hội Thơ Ca] và thực hiện bởi National Opinion Research Center [Trung Tâm Nghiên Cứu Quan Điểm Quốc Gia], cho thấy đa số người đọc ở Mỹ nghĩ tốt về thơ và sẽ đọc khi nào bắt gặp.

Tôi nghĩ trách nhiệm của công chúng đối với thơ ca là số không. Không ai nên đọc thơ vì bắt buộc. Chuyện đó giống như nghe loại nhạc êm dịu làm bạn ngủ khi không có ai để ý. Bạn đi xem phim ở rạp thường xuyên tới mức nào vì có nhiệm vụ phải đi? Ngược lại, tôi nghĩ trách nhiệm thuộc về thơ ca đối với quần chúng của nó. (Thơ ca không tha thứ cho bất cứ điều gì, nhất là đời sống của các nhà thơ.) Samuel Johnson, lặp lại người thời xưa, nói rằng mục đích của nghệ thuật là giáo dục bằng cách tiêu khiển. Điện ảnh, tiểu thuyết, ca khúc phổ thông: cái gì hay nhất trong cuộc giải trí vẫn tồn tại vì nó có nghệ thuật. Chúng ta bị lôi cuốn trở lại với nó vì nó nói với chúng ta về cuộc đời chúng ta; chúng ta được giáo dục trong khi được tiêu khiển. Thơ ca, đi từ hướng ngược lại, phải đạt tiêu chuẩn về niềm vui cũng như sự sâu sắc nếu nó muốn lấy lại chỗ đứng của nó trong văn hóa Mỹ.

Thơ ca phải tìm lại và nói trực tiếp với quần chúng của nó. Các nhà thơ có thể giúp hoàn thành điều này bằng cách ghi nhớ các ảnh hưởng của cách họ sống lên điều họ viết, và của điều họ viết lên cách người đọc của họ sống. Họ có thể xét lại những phản biện truyền thống ở cả bên trong thơ ca (như họ đã làm trong cuộc tranh cãi giữa thơ hình thức với thơ tự do) cũng như giữa thơ ca với phần còn lại của thế giới. Họ có thể thăm lại những quan điểm được kế thừa liên quan tới nghệ thuật vị nghệ thuật, nghệ thuật như là phương pháp trị liệu, và thơ trữ tình như là loại thơ duy nhất. Họ có thể, như những họa sĩ đầu tiên của trường phái Ấn Tượng, đón nhận ý nghĩa của sự lạc lối trong mắt của giới bảo thủ—và bằng cách đó lấy lại phần đất mà thơ ca đã để mất.

Sáng Hội Thơ Ca, trong vai trò của nó, quyết tâm sử dụng món quà lịch sử của Ruth Lilly để cho thơ ca được thưởng lãm nhiều hơn và hiện hữu với thêm sinh khí trong nền văn hóa của chúng ta. Qua một số lớn chương trình của nó, Sáng Hội nhắm tới khám phá thứ thơ ca hay nhất và đặt nó trước thính chúng lớn nhất có thể. Điều này không có nghĩa là chúng tôi muốn “giáng cấp” thơ ca xuống cho đám đông; di sản của tạp chí Poetry bắt buộc chúng tôi, trong tất cả các chương trình của mình, phải tìm tới và vinh danh thứ thơ ca hay nhất mà chúng tôi có thể tìm ra. Điều này cũng không có nghĩa số ngưởi đọc sẽ là tiêu chí duy nhất định đoạt giá trị. Thơ ca quan trọng cho tới khi nào nó còn đón nhận kinh nghiệm trong toàn bộ tính phức tạp của nó; đối với một số loại thơ, “số người đọc lớn nhất có thể được” thật ra có lẽ là rất ít người đọc. Mỗi một bài thơ hàm chứa thính chúng của nó; mục đích của chúng tôi là đưa bài thơ đó ra trước thính chúng lớn nhất mà nó nhắm tới.

Không ai biết liệu thơ ca có sắp sửa bước vào một thời hoàng kim ở phía trước hay không, nhưng khó mà tưởng tượng ra một thời như vậy mà không có một thính chúng. Nếu lấy kịch trong thời của Shakespeare, hay tiểu thuyết trong thế kỷ trước, hay điện ảnh hôm nay ra mà xét, thì có thể thấy rằng một nghệ thuật bước vào thời hoàng kim của nó khi nó nhắm tới và lấy năng lượng từ những thính chúng phổ thông của thời đại nó. Trong một thời hoàng kim của thơ ca thính chúng sẽ không chỉ là những khóa hội thảo, nơi các nhà thơ viết cho nhau đọc, hay lớp học—cả hai đều đã cho thơ ca một chốn nương tựa quan yếu trong nửa thế kỷ qua. Thính chúng của nó cũng sẽ nằm trong phần thế giới kia của những người không đọc thơ nhưng rốt cuộc khám phá ra nguồn dưỡng chất sâu thẳm của nó. “Để có những nhà thơ vĩ đại, cũng phải có những thính chúng vĩ đại,” Walt Whitman nói, và rồi ông đã viết cho họ.

Nghệ thuật mới và đột phá xuất hiện khi những nghệ sĩ đặt một giả thiết được thay đổi về quan hệ giữa họ với thính chúng của họ, nói với người đọc của họ bằng một cách mới, và giả dụ rằng người ta sẽ hiểu. Khi Melville viết, “Gọi tôi là Ishmael”; khi Whitman viết, “Tôi vinh danh tôi và tụng ca tôi, / và điều tôi giả dụ bạn sẽ giả dụ”; khi Baudelaire viết, “Hỡi người đọc đạo đức giả”; khi Frost, trong bài thơ đầu của thi tập đầu tay, nói, “Ngươi tới nữa”: mỗi người có vẻ đã đặt những giả thiết đang biến đổi về thính chúng của mình. Diễn văn trực tiếp của họ là diễn văn bằng cách nào đó được làm cho trực tiếp hơn. Nó đứng vững, thành công, và văn chương được thay đổi.

 

 

 

.

bài đã đăng của John Barr


1 Bình luận »

  • chân phương says:

    Một tài liệu giá trị và một bản dịch xuất sắc về thơ Hoa Kỳ hôm nay. Hoan hô Nhất Lang!
    Xin thêm một góp ý nhỏ với dịch giả về đoạn “a momentary stay against confusion”.
    Nếu chuyển ngữ như sau thì dễ hiểu hơn: “một điểm tựa tạm thời khi tâm trí rối loạn”,
    hay là “một nơi tạm trú giữa hỗn độn/ đảo điên”, v.v…

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)