Trang chính » Biên Khảo, Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 16, Tiểu luận Email bài này

cái mặt nạ đang biến cải của lòng khiếp sợ

0 bình luận ♦ 9.12.2006
Trịnh Y Thư chuyển ngữ
 
Tôi tự đặt mình vào thời điểm cuối thập kỉ bảy mươi, lúc đó, tại Học viện Nghệ thuật Đương đại London, tôi có bài thuyết giảng nhan đề “Những Thời tiết của Nghệ thuật.” Trong phần dẫn nhập, tôi thú nhận như sau:
Dĩ nhiên, tôi có chủ ý riêng khi đặt tựa. Tôi muốn kích hoạt những phạm trù liên tưởng khác như “thời tiết của khiếp sợ”, “thời tiết của khủng bố” trong tư duy mà không cần phải vận dụng đến cố gắng ý thức đáng kể nào.
Suốt bài giảng, những biến tấu của nhan đề loạt bài hiện tại xuất hiện chí ít năm sáu lần. Khởi điểm của tôi, khu vực quan tâm chính của tôi vào lúc đó, là vận mệnh của nghệ thuật—và nghệ sĩ—dưới ách thống trị của các chế độ đang bành trướng cai trị đất nước mình bằng cách nhồi nhét nỗi sợ sệt, khiếp hãi vào lòng con người, đặc biệt nhất là trên lục địa châu Phi—nói theo ngôn ngữ thông thường, nó là nỗi khiếp sợ khi nghe “tiếng đập cửa lúc nửa đêm.” Bắt bớ vô tội vạ. Mất tích. Tra tấn như một thông lệ chứ không phải ngoại lệ. Thậm chí, có những trò man trá sống chết mặc bay nhằm sửa đổi hình luật tố tụng, qua đó, kẻ phản kháng chính trị trong nước thấy mình như lọt vào cảnh huống không lối thoát, một cơn ác mộng như trong tiểu thuyết Kafka, không kết cục, không đoạn cuối ngoại trừ đoạn cuối sợi dây thòng lọng đang chờ đợi mình. Kẻ bị kết tội có thể không hay biết tí gì về tội trạng của mình. Nhiều thập kỉ sau bài thuyết giảng, thế giới cay đắng nuốt vào bản án treo cổ của nhà tranh đấu Nigeria Ken Saro-Wiwa và tám đồng bạn của ông sau vụ xử đầy bất công và phi lí—phần lớn bởi ông là nhà văn, nhưng cũng bởi lí tưởng của ông, lí tưởng bảo vệ sinh thái, đã trở thành đề tài thế giới đang quan tâm.
Vào thời điểm tôi đưa ra bài thuyết giảng, Nigeria, cứ sở chính trị cận kề nhất của tôi, đang rúng động bởi bản án tử hình ba thanh niên bị xử theo luật hồi tố—nói cách khác, tội của ba người trẻ tuổi, tội buôn bán ma túy, theo sắc luật ban hành lúc đó không phải là đại phạm mang án tử hình. Hành vi sát nhân coi thường công luận đó có một mục tiêu—gieo nỗi khiếp sợ vào lòng người dân bằng cách cố ý bóp nghẹt những nguyên tắc cơ bản nhất của công lí. Và cứ thế, cứ thế tình trạng đó tiếp diễn. Biến cố này ở Nigeria vắt ra từ con người tôi hai vở kịch—Tai hoạ của nhà Hyacinth viết cho rađiô và Tình yêu đến từ Zia viết cho sân khấu—biến cảnh đó đã không ngớt rạch nát tâm thức tái tạo trong tôi. Tôi không phải là kẻ duy nhất. Cả nước bị chấn thương trầm trọng. Pháp trường xử tội bọn cướp của, bình thường có không khí hội hè, kẻ mỉa mai gọi là sô Bờ Biển Quán Rượu, nghe nói hôm đó bỗng khoác bộ mặt nghiêm trọng bất thường. Không ai trong đám đông dự kiến được chuyện gì sẽ xảy ra, họ tự thuyết phục để tin vào lời đồn đại chủ ý của tập đoàn độc tài quân phiệt chỉ là màn dàn dựng trò chơi đố với mục đích hù doạ mấy tên buôn bán ma túy và vào phút chót họ sẽ tuyên bố đình hoãn vụ xử bắn. Thay vì đồng thanh lớn tiếng nhạo báng bọn tử tội lúc chúng bị điệu ra pháp trường, đám đông chuẩn bị hoan hô lúc lệnh đình hoãn được công bố. Nhưng khi những nghi thức như lễ rửa tội, lấy khăn bịt mắt và những thủ tục khác vẫn đều đặn tiếp diễn thì đám đông bấy giờ mới bất ngửa ra và hiểu rằng bản án vẫn đang được răm rắp thi hành mà không hề có sự ân hận nuối tiếc nào. Từ đám đông liên tiếp vọng lên những tiếng kêu thất thần như “Ồ, không thể như thế được.” Vụ xử bắn kết thúc, pháp trường bỗng im phăng phắc, đám đông không thể nào tin nổi những gì họ vừa chứng kiến; thế rồi từ từ họ len lén rút ra về, bị sốc nặng và nản chí vô cùng. Tập đoàn độc tài không tiên liệu được phản ứng của đám đông. Không lâu sau đó, có lệnh bãi bỏ xử tử ngoài công cộng và, sau khi tập đoàn độc tài đó bị lật đổ bởi tập đoàn khác, bản án trên được thu hồi.
Tuy thế, trong suốt thời gian chế độ đó tồn tại, không có gì phải nghi ngờ: lần đầu tiên trong quá trình lịch sử nền độc lập ngắn ngủi của mình, gần như toàn thể quốc gia Nigeria bị rơi vào nỗi khiếp sợ bao trùm, cùng khắp. Câu hỏi trong trí óc mỗi người giản dị là: họ còn khả năng làm những gì nữa, sau những hành vi mà ngay cả những thành phần mềm dẻo nhất cũng phải công phẫn? Đó là câu hỏi chúng ta đặt ra trong cố gắng thấu hiểu điều dị biệt giữa quá khứ và hiện tại, sự biến dạng của cái áo khiếp sợ chúng ta đang mặc ở thời điểm này. Mỗi lần có vụ tấn công nào khiến cảm giác an ninh địa phương hoặc toàn cầu của chúng ta bị xâm phạm, ngay lúc đó câu hỏi thừa thãi được đặt ra là: Cái gì sẽ xảy ra nữa đây? Nơi đâu? Cách nào?
Các giới hạn hoặc tự chế không còn được tôn trọng nữa sao?
Những bạo hành xảy ra trên lục địa Phi châu thập kỉ bảy mươi, tám mươi, lập lại, có lẽ với mức độ hung hãn bạo tợn hơn, ở Mĩ châu, nơi những cụm từ rùng rợn như desaparesidos (*), đội sát thủ hữu phái, ủy viên bảo vệ phong hoá do nhà nước bảo trợ, vân vân, trở nên phổ biến trên toàn thế giới. Nicaragua, Chile, Argentina, Panama. Iran dưới SAVAK. Nam Phi thời kì kì thị màu da dưới BOSS. Sự khiếp sợ gần như là sản phẩm độc quyền của nhà nước, ngoại trừ, dĩ nhiên, trường hợp có thêm bàn tay đàn áp của bọn hữu khuynh tự nguyện giúp vào, như ở Mĩ châu La-tinh. Giữa những chính quyền hữu phái và bộ máy cai trị hữu hiệu của nhà nước cộng sản, không có sự khác biệt nào. Hungari, Albania, Đông Đức, Bungari, vân vân. Di dân từ những thiên đường mộng tưởng này chẳng khác gì nạn nhân của chế độ kì thị Nam Phi—cả hai, một chiến bại, một vẫn hăng hái và biết chung sức—đi khắp năm châu để tìm kiếm sự trợ giúp từ bên ngoài và tạo tình đoàn kết. Biết bao nhiêu lần, con đường chúng ta đi—con đường của những người sáng tạo—đưa đẩy chúng ta đến chỗ gặp nhau, và dẫn đến câu hỏi khẩn thiết: Làm cách nào sự sáng tạo tồn tại dưới ách thống trị chuyên quyền như thế? Làm cách nào Nghệ thuật tồn tại giữa thời tiết của khiếp sợ? Ngày nay, cứ sở của sợ hãi trở nên rộng lớn hơn nhiều chứ không thu hẹp như trước nữa.
Tôi muốn tin là tất cả chúng ta đều đồng ý trên cơ bản cái gì đưa đến khiếp sợ. Nếu không, chí ít, chúng ta có thể tìm ra điểm đồng thuận về những dấu hiệu của nó, nhận biết khi nào sự khiếp sợ gây phương hại lên cá nhân hoặc cộng đồng. Chắc chắn chúng ta đã học qua bài học liên đới cảm giác khiếp sợ với sự mất mát to lớn trong khả năng chủ động quen thuộc. Ý thức tự do, hay đúng hơn, những điều thường nhật hiển nhiên trong đời sống bình ổn, bỗng chốc co rút lại cách tệ hại. Cẩn trọng và tính toán thay thế cái bình thường của đột phát hay thường nhật. Chuyện trò bình thường, thậm chí giữa người thân trong gia đình, biến thành lời thì thào. Chọn lựa trở nên giới hạn. Người ta đề phòng nhiều hơn, không dám đột xuất, làm gì cũng tính toán hơn thiệt. Một thủ phạm hiếp dâm rình rập trong xã hội. Một thủ phạm say mê giết người gieo rắc khủng bố cho cả một cộng đồng—như mới xảy ra cách đây không lâu ở bang Maryland, Mĩ quốc, thầy trò hai gã đàn ông, một già một trẻ, gây tê liệt cho cả bang bằng cách núp bắn người vô tội ngoài đường sá.
Đời sống đang bình ổn đột nhiên bị cắt ngang như thế tạo cảm giác bất an trong lòng con người, nó khác với cảm giác gây nên bởi chiến tranh, thị trấn mình đang sống bị bao vây. Thậm chí, cho dù bom đạn, hoả tiễn không ngừng rơi như mưa xuống đầu dân chúng, vẫn còn tồn tại ít nhiều không gian cho sự chủ động do quy luật của chiến tranh, do đó, sức mạnh nội tại không đến nỗi cạn kiệt vốn thường hay đi kèm với cảm giác bất lực. Trong trường hợp của bang Maryland, hai tên sát nhân đã thành công trong việc biến sự khiếp sợ thành động lực khống chế lên cả một đám đông. Sức mạnh vô danh đó làm tê liệt trường học, cơ quan công tư và đảo lộn nếp sống bình thường. Cha mẹ phải đưa con em đến tận lớp học, lo lắng nhìn trước nhìn sau. Hiển nhiên, suốt thời gian vụ bắn xảy ra, thủ phạm không tên này bị mọi người oán trách thậm tệ, thậm chí giận dữ nữa, nhưng sản phẩm thông thường nhất của giai đoạn đó là nỗi khiếp sợ, sợ mà không biết trút vào đâu. Một khía cạnh đáng ghi nhận của nỗi khiếp sợ phủ trùm này là sự mất mát ở bình diện nào đó ý thức tự tại của con người: một phần bản ngã bị tước đoạt, một mức độ ý thức, và điều này thậm chí có thể đưa con người đến chỗ sút giảm lòng tự trọng—một cách ngắn gọn hơn, mất cả phẩm cách con người. Không phải bao giờ điều đó cũng đúng, và mỗi lần như thế lại cho chúng ta thêm cơ hội đánh giá sự khác biệt trong những cảnh huống khác nhau mà qua đó tính cách đặc trưng của lòng khiếp sợ hiện rõ.
————————-
(*) Desaparecidos: Những người vô cớ mất tích (TYT)

bài đã đăng của Wole Soyinka

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)