Trang chính » Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 15, Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Làng Miền Nam

“Thế bây giờ đoán tiếp thử xem.” Brian nắm tay Hân. Hân nói ngay:
“Mùi bách hương Nhật.” Brian sửng sốt tìm ra bên kia khe suối quả nhiên um tùm mấy cây bách hương Nhật Bản. Lác đác có cả vài cây dừa Indo và dẻ Tàu. Người chủ nhân cũ của trang trại Olompali[1] là Mary, cô con gái của James Black, nhân lần đi du lịch qua Châu Á vào cuối thế kỷ 19 đã cho mang về cây cối trồng dọc theo khe suối.
Hân có biệt tài nhận biết mùi hương của cây cối thảo mộc, côn trùng, nước và đất đá. Ngay cả cùng loại sồi, cô nhận ra mùi của sồi đen hay sồi đỏ. Một lần lang thang ra bến tàu, Hân reo lên tên từng mùi mạnh mẽ của biển. Mùi phân khô của bọn chim hải âu hăng hăng, mùi ẩm từ bộ lông ướt chim bồ nông biển, mùi của thanh sắt cầu tàu đang nóng lên vì nắng, hoặc ngai ngái tanh tanh mùi rong biển trong gió… Lần ấy Brian chỉ cười.
Những ngày vừa quang sau cơn mưa như hôm nay cây cối tỏa mùi, Hân thích được đi bộ trong rừng. Việc này không phải là nỗi say mê của Brian, vốn thân thể to lớn từ nòi giống người Bắc Âu, anh thích những bộ môn thể thao mạnh mẽ. Anh thích trượt tuyết ở những đường dốc nguy hiểm, nhưng xem ra bộ môn này không lôi kéo được Hân. Cô sợ và tránh né mọi kích động. Dù vậy việc đi bộ với Hân trong rừng cũng không đến nỗi nhàm chán khi cô bắt đầu thả lỏng và biểu lộ ra những cảm nhận tinh tế. Brian quen Hân trên bốn năm, nhưng thỉnh thoảng vẫn lại ngạc nhiên khám phá những ẩn dấu bên trong, một cái gì đó khó hiểu vừa yếu đuối vừa kiêu hãnh, vừa trốn tránh vừa hiển nhiên trong cô gái này. Thật trái ngược với tính hăm hở của Brian, tính nhậy cảm của Hân làm cho cô như biến thành một phần uyển chuyển của khung cảnh, mùi vị và màu sắc, những cái rất khó gọi tên. Gần hai mươi năm kinh nghiệm đời sống nhập cư cộng với tính cần mẫn cố dĩ đủ để Hân sống thoải mái và tự tin ở Mỹ, cũng bằng cấp và việc chuyên môn, nhưng chỉ thỉnh thoảng thôi những biểu lộ bất thần làm hé mở một thế giới vốn xa lạ với Brian vẫn còn nguyên.
Một lần lái xe qua những nông trang ở vùng đèo gần Gilroy Hân ước đùa:
“Nếu có đủ tiền, chúng ta nên mua một nông trại để ở.”
Cô hay nhìn vào cái ghế gỗ mục nát trong vườn, lưỡi cày rỉ sét hoặc nhà gia súc bẩn thỉu chăm chú như thể đang khám phá lại những điều thô sơ. Cô nói cô muốn ngủ dậy được nghe tiếng gà qué ngan ngỗng, thậm chí cả những con dê ồn ào. Tất nhiên là phải có con chó, hình ảnh canh giữ của nó là điều không thể thiếu được cho cảm giác của một người có cuộc sống đúng mực và đầy đủ.
Họ đi tiếp qua trang trại dọc theo suối vào trong rừng. Đường nhỏ vòng quanh qua cái đập cây chắn nước váng bèo. Nước này để những người phu lao động dạo trước dùng. Cách đấy không xa họ tìm ra bức tường đá của trang trại Olompali do người Tàu đắp bằng đá tảng chạy suốt lên đỉnh núi Burdell.
Ngày đó người Tàu di cư ào ạt qua Gold Mountain (Núi Vàng, ám chỉ nước Mỹ) vào thời kỳ thịnh vượng Cơn Sốt Vàng. Khi kinh tế trở nên khắc nghiệt, việc làm khó khăn, họ là những người trước tiên bị chỉ trích, cấm đoán, căm ghét và đổ lỗi vì thói ngang bướng gắn bó với truyền thống cũ không biến đổi bắt chước theo những thước đo văn hóa của người da trắng. Họ ở thành khu, mặc áo xẩm, để tóc dài thắt bính, nói năng, thờ cúng như thể vẫn ở trên quê hương mình.
 “Tại sao họ không chỉ dựng hàng rào gỗ? Chỉ việc tìm và thu nhặt những viên đá tảng này cũng lấy mất bao công!” Hân hỏi.
“Nhân công rẻ mạt!”
“Điều đó thật dã man và tham lam!”
“Ở cái thời đó, nó thế.”
“Bức tường này để làm gì?”
“Ông James Black[2] muốn vạch ra địa giới rõ ràng của trang trại nổi tiếng Olompali.”
 “Địa giới? Thế trước đấy thì sao?” Hân hỏi.
“Người da đỏ thường dùng cây cối, sông núi để qui ước lãnh thổ.”
Ranh giới giữa các bộ lạc được truyền lại cho con cháu bằng miệng. Những quy ước mang tính vật lý của họ rất sơ sài không rõ ràng, dường như nó chỉ mang những giá trị tượng trưng. Họ muốn giữ mỗi làng với dân số nhỏ khoảng trăm người. Họ không bao giờ muốn những bức tường, thích đi bộ kín đáo không để lại dấu chân trên đồng cỏ. Họ thờ cúng muông thú và thậm chí hay có thói quen xin lỗi linh hồn của thú hoang hay thiên nhiên khi bắt buộc phải quấy rầy trong bất cứ tình huống nào…
Thoạt tiên là khung cảnh, bây giờ là câu chuyện lôi cuốn Hân. Nó hoàn toàn khác với kinh nghiệm và cảm giác của đời sống thường ngày văn phòng. Cô như một làn khói đang rò rỉ ra khỏi cái hộp nhỏ xinh xắn. Hân lại ước:
 “Giá như chúng ta được một lần đi lại trong khu này và chứng kiến những khung cảnh ngày xưa.”
“Chúng ta sẽ được ngắm nghía như những người từ hành tinh.” Brian tiếp.
“Không. Là đang muốn nói về những người ấy cơ, không phải chúng ta.”
Hân tưởng tượng ra họ hơi lùn mặt tròn, tóc rậm cắt ngang trán. Những người đàn bà đang giã hạt dẻ làm bột bánh. Bọn đàn ông hút thuốc lá, lục đục vác chèo và cung giáo đi về phía bờ vịnh, con chó phóng ngay lên mũi một chiếc thuyền độc mộc dài, rồi cả bọn quay ngoắt mũi chèo hướng về hòn đảo Treasure, hát ê ê a a…
Rồi họ đi tiếp đến một khoảng trống đồng cỏ, giữa cánh đồng trơ ra hai cái lều hình tháp, một bằng vỏ cây, một bằng cỏ. Hân bước lại nhìn vào bên trong. Thật ra nó không lớn lắm, thế mà mỗi gia đình bốn năm người bố mẹ con cái anh chị em ngủ ở trong. Ở giữa là những viên đá khoanh tròn thành lò lửa. Nghe nói họ ngủ trên da nai, tù trưởng ngủ trên da gấu. Các thanh vỏ cây hở ra nhiều kẽ dọc, chắc gió lạnh vẫn có thể lùa qua. Khó có thể tưởng tượng đây là nơi họ ăn uống, ân ái và sinh nở. Tất cả đất cát bụi bặm!
“Brian.” Hân gọi. Không hiểu sao cô có cảm giác hơi buồn rầu.
“Gì?”
“Nhà của họ nhỏ thế?”
“Họ ăn ở sơ sài.”
“Ra sao?”
“Họ không có thói quen tích lũy.”
Brian nói, người Miwok không nuôi trồng, chỉ săn bắn và lượm nhặt vừa đủ. Họ hoàn toàn không có khái niệm giàu hay nghèo. Đàn ông cũng như đàn bà ai cũng có quyền tự tìm người phối ngẫu. Ngay cả vị tù trưởng cũng không bao giờ có toàn quyền phán quyết, ông ta chỉ đưa ra lời đề nghị khi mọi người mâu thuẫn…
Hân nghe tất cả những điều đó tưởng chừng như đang nghe một câu chuyện hoàn chỉnh bịa đặt cho bọn trẻ con. Nó giống với cảm giác nhìn vào bức tường cũ rêu phong, gợi nhắc đến những khung cảnh, những con người muôn năm cũ có những đức tin, thái độ và đời sống hoàn toàn khác. Những đổi thay nhanh chóng mà mỗi người chỉ cần ngoảnh một tí đã bỗng nhận ra tất cả đang trở nên lỗi thời. Cảm giác như khi đứng đưa mặt ra khỏi chuyến xe, gió thổi qua vùn vụt, cảnh vật lướt qua như những hình ảnh cắt xén vụn vặt.
Hân quay ra, mắt nhìn xuống:
“Thôi mình đi đi.”
Họ quay lại con đường mòn độc nhất ăn sâu mãi vào trong rừng.
Hân lại thoáng nhớ nơi mình sinh ra, ngày còn bé Hân cũng đi qua lại một cánh rừng già. Nhưng rừng ở đấy chặt lắm, trông bí mật lắm, cây cối dây leo um tùm. Hân thường tự hỏi làm sao các bác xẻ gỗ có thể đi sâu vào trong ấy! Rồi Hân lại nghĩ người da đỏ thì khác hẳn, họ là một phần của rừng. Khi họ chứng kiến người da trắng đi từ phía biển vào, hẳn cũng sẽ chẳng tài nào hiểu nổi. Rồi lại càng sửng sốt hơn khi thấy nhiều xếp đặt quyền lực, những con đường xuyên lục địa, những tranh cãi mặc cả về địa giới, thói vội vã sinh sôi, thói chiếm lĩnh tự mãn. Nhà thờ và bịnh tật, nghiện ngập và tự tử.[3] Lần đầu tiên Hân gặp người da đỏ cũng đã cách đây nhiều năm, ông ta nằm vật ngoài cửa tiệm rượu, say nát. Hình ảnh đó thật bệ rạc, xa lạ. Người ta bảo nạn nghiện ngập và tự tử của người da đỏ trong những khu bảo tồn của họ khá cao!
Đường lên một đoạn dốc đứng. Đoạn này gió thổi mạnh quanh năm, những cây sồi không vươn lên cao, chúng rũ lõa xõa trông như phiên chợ cũ. Nhiều khoảng thưa ra, cỏ mọc nhiều. Hân trèo như lao đi, băng tiếp vào cánh rừng rậm hơn. Sồi đen tỏa nhánh ngay từ dưới gốc mọc thẳng lên cao. Gốc sồi tròn ụ xanh rì vì rêu nhánh dài, trông như mấy trái cây xanh khổng lồ. Trên trời rậm rịt ánh nắng không xuyên qua, rừng chỉ một lớp không có lùm bụi hoặc cỏ nào mọc nổi. Dưới đất hạt dẻ rụng đầy. Cô tránh không dẫm lên những dấu chân nai, hai móng in nhọn xuống đất. Cô muốn chạy khỏi Brian biến hẳn vào trong rừng.
Brian hổn hển năn nỉ phía sau:
“Thôi xin đấy, quay lại đi.”
Lần nào đi vào rừng  Hân cũng có cảm giác như đi vào bóng tối, khó hiểu nhưng thân thuộc, sợ hãi nhưng quyến rũ. Như thể Hân đang chìm vào lòng hồ lớn mà trong đó Hân sẽ rơi dần vào giấc ngủ.
Hân nghĩ đến chữ viết bị mất của người Miwok vùng duyên hải. Con cháu người Miwok thành những người lưu vong mất gốc, không sở hữu bất cứ thứ gì, ngay cả ngôn ngữ. Thoạt đầu là họ chết hàng loạt vì bịnh dịch lây từ người da trắng. Sau đó là vĩnh viễn biến mất sau khi vị tù trưởng cuối cùng Ynitia bị người Mỹ o ép bán đi từng vùng đất đai rộng lớn cho James Black[4].
Tiếng Brian vẫn thở hồng hộc phía sau:
“Chúng ta sẽ lạc mất thôi. Không tìm được đường ra đâu.”
Hân vẫn mải mê đi tiếp. Sau một khúc quanh là cánh rừng cây Hoa Khỉ. Cành chúng uốn gấp trông hệt như những cánh tay vượn dài ngoằng đang tung nhẩy, cả đàn líu ríu. Nó làm Hân nhớ đến những chậu cảnh tàu đặt thành hai hàng dài trong khu lăng tẩm ở Huế, cành cũng sần sùi khúc khuỷu, nhánh lá nhỏ dài buông rủ xuống như tấm màn.
Brian vượt kịp khi Hân đứng lại bên gốc cây Hoa Khỉ, hỏi giọng kiên nhẫn:
“Sao thế?”
“Cây Hoa Khỉ này trông giống một loại cây cảnh tàu ở Việt Nam.”
Brian tiến lại gần ôm lấy đầu Hân lau đi mấy giọt nước mắt.
“Sao thế?” Brian hỏi.
“Người Miwok họ ăn gì?” Hân lại hỏi.
“Hạt dẻ và sò.”
“Phải rồi.” Dao ấy nước biển còn vào đến tận chân núi Burdell. Người Miwok hay đẽo mấy con thuyền mộc tám đến mười người ngồi, dùng sào chống đi trong nước cạn, dùng chèo hai mái đi nước sâu. Hân gỡ tay Brian, quay mặt đi.
“Thôi mà” Brian năn nỉ: “Chúng ta về đi.”
Ở ngay cái hõm quanh của núi này, gió không lọt được. Mùi của rừng dồn nén, đậm đặc đến khó diễn tả. Chính Hân giờ đây cũng không còn khả năng nhận biệt.
Người Miwok biến mất vào trong những khu rừng sồi. Hân vẫn đang chìm dần xuống lòng hồ giữa những viên sỏi. Cả hai điều đó đều xác thực.
 
 
Nguyễn danh Bằng

 

Ghi Chú:
 
[1] Olompali, theo ngôn ngữ đã mất của người da đỏ Miwok, ám chỉ Làng Miền Nam hoặc Người Miền Nam.
[2] James Black là người may mắn. Thoạt đầu tuy chỉ là một người thủy thủ Scotland bị vất lại cảng Monterey vì bịnh tật, sau ông đã trở nên giàu có chớp mắt khi khám phá ra bãi vàng. Ông biết đọc nhưng không biết viết. Tên tuổi ông gắn bó với lịch sử miền duyên hải như những đại điền chủ khai phá thế lực và giàu có.
[3] Thoạt đầu là sự hiện diện của những nhà truyền giáo khiến người da đỏ từ bỏ tín ngưỡng và truyền thống của mình. Sau đó các bịnh truyền nhiễm mang đến từ Châu Âu mà người da đỏ không có kháng thể đã giết 90% dân số.
[4] Tù trưởng da đỏ Ynitia được trọng dụng khi California còn thuộc Mễ Tây Cơ. Sau người Mỹ gây chiến Mễ năm 1846-1848 và chiếm tiểu bang này, không tôn trọng quyền sở hữu đất của những người thổ dân được trọng dụng trước đây, gây khó khăn cho họ.

bài đã đăng của Nguyễn Danh Bằng


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)