- Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới - https://damau.org -

Những con ong, phần 1

 

            từ nguyên tác “The Bees, Part 1”. Nguồn: The New Yorker, số ngày 14&21/10/2002

ALEKSANDAR HEMON sinh năm 1964 tại Sarajevo, Bosnia Herzegovina. Ông tốt nghiệp cử nhân văn chương tại đại học Sarajevo (University of Sarajevo) năm 1990. Vào thời gian ấy ông đã in một số truyện và bài báo tại Nam Tư. Năm 1992 ông đến thành phố Chicago, Hoa Kỳ và sau đó định cư tại Mỹ khi Sarajevo xảy ra biến loạn. Bắt đầu từ đó ông viết bằng tiếng Anh. Sáng tác của ông đã được in trên các tạp chí uy tín như The New Yorker, Ploughshares, Granta, và Esquire. Truyện ngắn “Những hòn đảo” của ông đã được chọn vào tuyển tập The Best American Short Stories 1999 (Những truyện ngắn hay nhất nước Mỹ năm 1999). Truyện ngắn khác của ông cũng được chọn vào tuyển tập The Best American Short Stories 2000. Tập truyện đầu tiên của ông, The Question of Bruno (do nhà xuất bản Nan A. Talese/Doubleday phát hành năm 2000) đã đoạt giải John C. Zacharis First Book Award của tạp chí Ploughshares năm 2001. Cuốn thứ nhì của ông, Nowhere Man, đã được nhà Nan A. Talese/Doubleday phát hành năm 2002.

CHUYỆN NÀY LÀM GÌ CÓ THẬT

Cách đây đã nhiều năm, hồi còn ở Sarajevo, tôi và em gái cùng bố mẹ đi xem một bộ phim. Bộ phim kể về một anh chàng đẹp trai đi tìm một kho báu, thế rồi trong cuộc hành trình ấy, anh ta gặp một cô nàng xinh đẹp. Mẹ tôi ngủ gật ngay tức thì; phim ảnh vốn thường làm cho bà dễ buồn ngủ. Bố tôi thì có một phản ứng khác. Hết cảnh đầu tiên, bố tôi khịt khịt mũi tỏ ý giễu cợt:“Thật là ngớ ngẩn,”ông thì thầm vào tai tôi. Rồi bố tôi quay lại nói với mọi người xung quanh, giọng khẩn nài như thể ông đang có một ý đồ nào đó: “Các đồng chí! Đừng tin! Chuyện này làm gì có thật!” Lúc này nhân vật chính của bộ phim đang phải vật lộn giữa một bầy cá sấu đói ăn và khán giả tỏ ra không thiện cảm lắm khi bố tôi cứ làm gián đoạn sự chú ý của họ. Tôi và em gái giả vờ tập trung lên màn hình. Một nhân viên quản rạp phim xuất hiện, nhắc bố tôi phải giữ trật tự. Mẹ tôi, khi ấy bừng tỉnh bởi sự ồn ào xung quanh, nhận ra mình đang ở giữa một cảnh tượng bối rối. Cảnh tượng đó kết thúc khi bố tôi nổi giận đùng đùng, lôi chúng tôi ra khỏi rạp vì trong lúc mẹ tôi nán lại để xin lỗi những khán giả đang xem phim. Tôi ngoái lại nhìn lên màn hình lần cuối, ở đó đang diễn ra cảnh nhân vật chính cùng một thiếu nữ áo quần tả tơi (nhưng quả thật là đẹp) cưỡi hai con la trông rất ngộ băng qua khu rừng đầy những kẻ thù.

ĐỜi TÔI

Vào mùa xuân năm 1979, bố tôi đem về nhà một chiếc máy quay phim loại Super- 8 mà ông mượn được từ một cộng sự của mình ( chú Bozo A., người có đai đen karate và lúc đó đang mang một khối u trong não ở thời kỳ đầu – chú đã chết trước khi cha tôi trả lại chiếc máy quay phim). Chiếc máy tuy nhỏ nhưng cấu tạo kỹ thuật của nó rất tinh vi, dường như chỉ có những sự việc quan trọng mới xứng đáng được nó ghi lại. Bố tôi thông báo là ông sắp làm một bộ phim, bộ phim ấy sẽ không nói dối. Mẹ tôi hỏi bộ phim sẽ nói về cái gì. “Sự thật. Tất nhiên là thế”. Bố tôi nói.

Bố đã dành ra một tuần đề ngồi viết kịch bản trước khi tiết lộ cho mọi người biết bộ phim sẽ kể về cuộc đời của ông. Bộ phim được lên kế hoạch quay trong tháng sáu, vào dịp chúng tôi về quê để thăm ông bà nội. Chúng tôi sẽ quay bộ phim, như người ta vẫn nói, “ngay tại hiện trường”. Tôi được phân đóng vai bố hồi nhỏ, và em gái tôi sẽ đóng vai em gái của ông (bố không nói cụ thể là cô em nào – vì bố có đến sáu chị em gái).Mẹ tôi được đề nghị làm trợ lý đạo diễn nhưng mẹ từ chối ngay; bà bảo muốn dành kỳ nghỉ của mình để đọc sách.

Bố không cho chúng tôi xem kịch bản và hoàn toàn không thay đổi lập trường ngay cả khi chúng tôi nói rằng các diễn viên thông thường đều được nhận kịch bản để còn diễn tập: bố tôi muốn tự thân cuộc sống sẽ trở thành nguồn cảm hứng của chúng tôi, bởi vì, như bố thường xuyên nhắc chúng tôi ghi nhớ, bộ phim này nhất thiết phải thật. Tuy nhiên, trong một lần dọn dẹp bàn làm việc của bố như thường lệ, anh em tôi đã tìm thấy một tờ bản thảo. Chúng tôi đã đọc bản thảo đó cho nhau nghe đến mấy lần trong trạng thái vừa ngạc nhiên lại vừa khoái trá. Đây là bản thảo kịch bản của bộ phim:

Đời tôi
1. Tôi được sinh ra
2. Tôi tập đi;
3. Tôi đi chăn bò;
4. Tôi rời nhà để đến trường học;
5. Tôi về nhà. Mọi người đều vui;
6. Tôi rời nhà để đi học đại học;
7. Tôi ngồi trong lớp học. Tôi học khuya;
8. Tôi đi dạo. Tôi gặp một cô gái xinh đẹp;
9. Tôi đưa cô bạn gái xinh đẹp ấy về nhà ra mắt bố mẹ;
10. Tôi cưới cô gái xinh đẹp ấy;
11. Tôi làm việc;
12. Tôi có một cậu con trai;
13. Tôi hạnh phúc;
14. Tôi nuôi ong;
15. Tôi có một cô con gái;
16. Tôi hạnh phúc;
17. Tôi làm việc;
18. Chúng tôi ở ngoài bờ biển;
19. Chúng tôi hạnh phúc;
20. Các con tôi hôn tôi;
21.Tôi hôn bọn trẻ;
22. Vợ tôi hôn tôi;
23. Tôi hôn bà ấy;
24. Tôi làm việc;
25. Hết.

CHÀO TẠM BIỆT

Cảnh đầu tiên (và cũng là duy nhất) mà chúng tôi thực hiện là cảnh 4. Địa điểm quay là ở sườn đồi, dưới chân ngôi nhà của ông bà nội. Tôi, trong vai bố năm mười bốn tuổi, phải diễn cảnh đang đi xuống đồi, rời xa dần chỗ đặt máy quay, với một chiếc tay nải vắt trên đầu một cây gậy đặt gá lên vai, miệng huýt sáo một giai điệu ủ ê, rồi quay đầu lại, nhìn chằm chằm về phía máy quay, nơi ấy có ngôi nhà mà tôi vừa rời khỏi, vẫy tay nói lời chào tạm biệt.

Lần quay đầu tiên thất bại vì cách vẫy tay của tôi không biểu lộ đủ cảm xúc. Bố tôi bảo tay tôi trông giống như một con gà mềm oặt, bị vặt trụi lông vậy.

Lần quay thứ hai bị gián đoạn khi cha tôi quyết định quay cận cảnh một con ong đang rập rờn quanh một bông hoa gần đó.

Đến lần thứ ba thì hai bà dì của tôi bất ngờ xuất hiện đúng lúc bố tôi đang cho máy quay chuyển từ cảnh tạm biệt cảm động của tôi đến cảnh ngôi nhà. Họ đứng ngây ra, toét miệng cười; trong giây lát, họ như bị thôi miên trước ống kính máy quay, rồi sau đó, họ vẫy tay chào cái máy quay một cách vô duyên.

Mỗi lần quay, tôi lại phải đi lên đồi, trở về điểm xuất phát của mình.Tôi đau nhừ chân, lại còn vừa đói vừa khát, mà lòng thì không khỏi băn khoăn về sự trình độ đạo diễn của bố: Tại sao bố/tôi lại không bắt xe buýt? Sao bố/ tôi lại không mang nhiều thứ hơn, chứ chỉ chất vừa một cái tay nải này thì được việc gì? Lẽ nào bố/tôi lại không cần đem theo chút đồ ăn để đi đường?

Trong lúc đang quay lần thứ tư thì máy hết phim.

Lần thứ năm cảnh quay gần như là hoàn hảo: tôi đi xa dần ngôi nhà, thõng vai buồn bã, bước đi ngập ngừng đúng điệu, cái tay nải đong đưa một cách tội nghiệp trên cây gậy cong oặt. Tôi ngoái lại nhìn ngôi nhà mà tôi sắp rời xa mãi mãi. Ngôi nhà tường trắng mái đỏ; mặt trời đang lặn dần ở phía sau. Mắt tôi nhoè đi khi vẫy tay chào quá khứ yêu dấu, bàn tay tôi giống như một chiếc máy đánh nhịp dang đếm phách cho một khúc adagio1 não nề. Chợt tôi nghe thấy tiếng một con ong. Nó vo ve sau cổ tôi. Bàn tay đánh nhịp của tôi chuyển ngay sang điệu allegro2 khi tôi lấy tay xua nó khỏi đầu mình để tránh bị đốt. Con ong không chịu bay đi. Tôi liền quẳng cây gậy và cắm đầu chạy như điên, đầu tiên là chạy lên đồi, rồi về phía máy quay sau đó lại bổ xuống đồi, chân vắt lên cổ. Con ong vẫn không thôi truy đuổi tôi và tôi thấy khiếp sợ bởi sự quyết tâm của nó nhiều hơn là bởi ý nghĩ về một vết ong châm khó tránh khỏi. Tôi hét toáng lên, huơ tay lên không trung, chạy bán sống bán chết nhưng con ong vẫn không rời. Càng chạy tôi lại càng cách xa mọi sự cứu trợ. Thế rồi khi nhận ra con ong đã thật sự đậu trên đầu mình – như vậy nghĩa là mọi nỗ lực trốn chạy của tôi đều vô ích – tôi sảy chân và ngã lộn. Tôi cảm thấy vết ong châm lúc tôi lăn lông lốc xuống chân đồi cho đến khi bị một bụi gai chặn lại.

Tôi có cần phải nói là bố tôi vẫn tiếp tục giữ máy quay? Và thế đó, tôi hiện hình trên ống kính, hai tay đập đập như thể muốn cất cánh, chẳng khác nào một chàng Icarus3 không hiểu biết gì mà lại muốn vọt lên một nơi còn xa hơn cả đỉnh trời, trong khi đó, một con bò đứng nhìn cảnh tượng ấy với ánh mắt lãnh đạm vô vi như thể muốn nói Thượng Đế cùng những tạo vật ngây thơ của Người sẽ chẳng bao giờ buồn bận tâm đến cú ngã đó của con người. Rồi tôi ngã nhào vào bụi gai, còn bố tôi – như một như đạo diễn nhanh nhạy và lạnh lùng – làm hình ảnh của tôi nhoà dần đi trên ống kính máy quay.

NHỮNG LĨNH VỰC KHÁC

Có lẽ tôi cũng nên bổ sung vào “lý lịch hoạt động nghệ thuật”của bố tôi thiên hướng của ông về nghề mộc. Hơn một lần tôi được chứng kiến bố mình mơn man, hôn hít cái thanh gỗ mà ông định biến nó thành một cái kệ, một cái ghế đẩu hay một cái khung tổ ong. Ông thường ép tôi mân mê và dí mũi ngửi một thanh gỗ “hoàn hảo”, ông muốn tôi phải cảm nhận được rõ rệt sự trơn nhẵn và mùi thơm tự nhiên của nó. Đối với bố tôi, thế giới này chỉ gồm những vật thể mà người ta có thể cầm nắm được trong tay mình. Ông làm ra đủ thứ như vậy – hộp đựng dụng cụ, giường, ghế và những chiếc giàn cho các thứ cây mà mẹ tôi trồng – nhưng kiệt tác của ông là một chiếc bàn làm bếp không đóng đinh mà ông đã phải mất cả tháng trời để ghép những mảnh ván lại. Ông đã phải trả giá. Một buổi chiều, ông từ xưởng làm việc đi ra với bàn tay bị lạng lòi cả thịt bởi một cái chàng – máu phọt ra từ chính giữa lòng bàn tay y như từ một cái giếng – một hình ảnh có thể sánh với phép nhiệm màu trong Kinh Thánh. Bố tôi tự lái xe đến bệnh viện và chiếc xe sau đó trông giống như tang vật của một vụ án vậy.

Bố tôi cũng thích hát. Một buổi tối, tôi thấy ông ngồi trước màn hình ti vi với một cuốn sổ và một cây bút chì vót nhọn đợi để chép lời một bài hát yêu thích của ông thời đó, bài “Hãy nhỏ xuống, hỡi giọt lệ bội phản” (Drop, You Traitor Tear) sắp được trình diễn trong một chương trình ca nhạc. Liền nhiều ngày sau đó, ông hát đi hát lại không biết chán bài hát ấy, chỗ nào không nhớ được lời thì ông lại ngâm nga âm ư, tập dượt cho những buổi biểu diễn trong tương lai. Ông hát trong các buổi tiệc và những buổi gặp mặt gia đình, thỉnh thoảng ông còn tự đệm đàn cho mình với một cây ghi ta lên dây rất tồi, ông chỉ chơi ba hợp âm (La thứ, Đô, Rê7) (Am, C, D7) cho bất kể bài hát nào. Bố tôi có vẻ tin rằng ngay cả một cây ghi ta bị lên dây sai đến mức thậm tệ cũng có thể tạo được “không khí”, còn sự đơn giản hoá về mặt hòa âm sẽ làm gia tăng tác động về mặt cảm xúc của bất cứ bài hát nào.Và, quả thật, khó mà phủ nhận được cái sức mạnh toát ra từ giọng nam trầm của ông trên một nền nhạc đệm chói tai nghe cứ tưởng là của ban Sonic Youth4 và có thể nhận thấy có một giọt lệ long lanh nơi khoé mắt ông khi ông suy ngẫm về sự phản bội của nó.

Những “tác phẩm” nhiếp ảnh của ông cũng đáng được đề cập đến, cho dù mục đích chụp ảnh của ông chỉ là để ghi lại cái dòng chảy tàn nhẫn của thời gian. Tất cả những bức ảnh mà bố tôi chụp đều có bố cục giống nhau: mẹ tôi, em gái tôi và tôi đứng đối diện với máy ảnh, những năm tháng trôi qua được đánh dấu bằng sự xuất hiện của những nếp nhăn trên khuôn mặt và những sợi tóc xám trên mái đầu của mẹ, bằng khoé miệng cứ nhích thêm ra của cô em gái mỗi khi cười và cả bằng sự vênh váo ngày càng lộ rõ trên nụ cười của tôi qua từng bức ảnh.

Thêm một điều nữa: Có một lần bố tôi mua một cuốn sổ và trên trang đầu tiên của cuốn sổ ấy, ông viết: Cuốn sổ này dành để ghi lại những suy nghĩ và cảm xúc sâu sắc nhất của những thành viên trong gia đình. Có lẽ bố tôi dự định lấy những suy nghĩ và cảm xúc ấy làm chất liệu cho một cuốn sách trong tương lai, nhưng cuối cùng trong cuốn chỉ có hai dòng chữ: một ghi chú khó hiểu của mẹ tôi, chắc là bà đã vớ được cuốn sổ trong lúc đang nghe điện thoại và ghi vào đó: Thứ sáu/ Bọn trẻ con khỏe/Húng tây; và một dòng chữ của em gái tôi viết tay nắn nót, đúng nét chữ của trẻ con: Mình thật sự thấy buồn vì mùa hè sắp hết.

CUỐN SÁCH CHÂN THỰC

Bố tôi tin vào bất cứ cái gì truyền đạt hiện thực. Ông nghi ngờ những bản tin thời sự trên ti vi vốn không ngớt liệt kê những thắng lợi của chủ nghĩa xã hội nhưng lại nghiện mục dự báo thời tiết. Ông đọc báo nhưng chỉ tin duy nhất mục “Tin buồn” mà thôi. Ông yêu thích những chương trình về thế giới tự nhiên, bởi vì sự tồn tại và ý nghĩa của thiên nhiên tự nó đã rất rõ ràng- chẳng có cách nào để phủ nhận việc một con trăn nuốt chửng một con chuột hay một con báo cheetah nhảy lên lưng một con linh dương đầu bò đã kiệt sức và sợ hãi. Nhưng không có gì lại xúc phạm ông bằng văn chương. Toàn bộ ý niệm văn chương chỉ là một trò xảo quyệt. Không phải chỉ vì chất liệu của nó là ngôn từ – mà tính hiện thực của ngôn từ lại mơ hồ, bấp bênh, ngay cả khi nó diễn đạt tốt nhất – mà còn vì những ngôn từ đó lại được dùng để biểu đạt những thứ thật sự chưa bao giờ xảy ra cả. Mối ác cảm của bố tôi đối với văn chương lại càng trở nên trầm trọng hơn khi tôi tỏ ra có hứng thú đặc biệt với nó (vì điều này mà bố tôi đổ tội cho mẹ tôi), đã thế tôi lại còn cố gắng thuyết phục bố thích nó nữa. Vào ngày sinh nhật lần thứ 45 của bố, tôi đã khờ dại đem tặng bố một cuốn sách có tên “Những kẻ nói dối”- chưa bao giờ ông buồn đọc quá cái nhan đề. Một lần khác, tôi đọc cho bố tôi nghe một đoạn văn từ một truyện của García Marquez kể về một thiên thần từ trên trời rơi xuống và bị nhốt trong một cái chuồng gà, và bố tôi đã tỏ ra hết sức lo lắng về thần kinh của tôi. Sau rồi lại thấy thỉnh thoảng bố tôi nói đến dự định viết một cuốn sách chân thực.

Viết một cuốn sách như vậy không phải là một việc đòi hỏi những cố gắng đặc biệt, bố tôi cho là vậy – chỉ cần người ta đừng để sự phóng túng của trí tưởng tượng lôi kéo, cốt yếu là phải bám chặt lấy những sự kiện đã thật sự xảy ra. Tất cả những gì mà ông cần là một vài tuần rỗi rãi. Nhưng ông không kiếm được thời giờ: công việc của ông, những con ong, những thứ cần phải xây dựng, những giấc ngủ ngắn cần thiết để lấy lại sức đã chiếm thời gian của ông. Một buổi chiều tôi thấy bố nằm ngáy trên đi văng với cuốn sổ trên ngực và cây bút chì bị rơi xuống sàn nhà bên cạnh chỗ ông nằm, trên cuốn sổ chỉ có mấy chữ được viết ra: Cách đây đã nhiều năm.

CHỐN ẨN DẬT CỦA NHÀ VĂN

Bố tôi thật sự bắt tay vào viết lách khi sang sống tại Canada vào mùa đông năm 1994. Bố mẹ tôi và em gái đã định cư tại đó sau vài năm lang thang tị nạn; cùng khoảng thời gian đó, tôi đang phải làm đủ thứ nghề mạt hạng tại Chicago và cố xin được thẻ cư trú dài hạn. Bố mẹ tôi rời Sarajevo vào ngày mồng 1 tháng 5 năm 1992, cái ngày trước khi cuộc biến loạn bùng nổ. Trước đó, một vài vụ xung đột vũ trang đã xảy ra và tình hình biến loạn rõ ràng đang có cơ xảy đến, nhưng lý do chính khiến bố mẹ tôi ra đi là vì sự tận tuỵ của bố tôi đối với nghề nuôi ong. Nếu ông không phải làm những công việc vào mùa xuân cho nhà nuôi ong của mình – dọn dẹp những tổ ong, đem ghép những bầy ong yếu với những bầy ong khoẻ mạnh, vân vân – thì có lẽ bố mẹ tôi sẽ chẳng bao giờ rời khỏi Sarajevo. Mặc cho chuyện gì xảy ra đi nữa, bố mẹ tôi vẫn sống một năm tại ngôi nhà của ông bà nội đã quá cố của chúng tôi ở nông thôn trên quả đồi có tên Vucjak để chăm sóc đàn ong, lấy rau quả trồng được trong vườn làm nguồn thực phẩm để sinh sống và hằng ngày nhìn những đoàn xe tải chở đầy lính Serbi chạy ngang qua nhà trên đường ra mặt trận. Thỉnh thoảng, bố tôi bán mật ong cho những toán lính và đến cuối mua hè thì ông cũng bắt đầu bán cả rượu mật ong cho bọn họ, tuy nhiên đám lính lại thích say sưa với loại rượu mận slivovitz hơn. Bố mẹ tôi lén nghe đài phát thanh phát từ Sarajevo lúc bấy giờ đang bị bao vây và họ sợ hãi nếu như nửa đêm có một tiếng gõ cửa. Thế rồi mẹ tôi bị viêm túi mật tưởng chừng không qua khỏi, do đó, bố mẹ tôi đến Novi Sad nơi em gái tôi đang cố hoàn thành khoá học để lấy tấm bằng cao đẳng. Họ xin visa di tản sang Canada rồi được chấp nhận, và vào tháng 12 năm 1993, họ đến Hamilton, bang Ontario.

Bố tôi thấy thất vọng ngay khi vừa đặt chân lên đất Canada. Từ cửa sổ căn hộ tuềnh toàng không có một thứ đồ đạc nào trên tầng thứ mười lăm, ông có thể nhìn thấy những đụn tuyết, những cuộn khói bốc lên từ những nhà máy thép ở Hamilton và một bãi để xe trống trơn. Tất cả mọi vật đều chỉ có ba màu trắng, đen và xám như loại phim hiện sinh Đông Âu ảm đạm mà bố tôi thấy vừa giả tạo vừa nhạt nhẽo đến phát bệnh, không có một ngoại lệ nào. Ông không hiểu mình đang ở đâu, họ sẽ kiếm đâu ra tiền để mua thức ăn và đồ đạc; ông không biết điều gì sẽ xảy ra nếu như có ai trong gia đình bỗng nhiên ngã bệnh. Và rõ ràng là ông không bao giờ muốn học tiếng Anh.

Mẹ tôi, ngược lại, vẫn kiên trì thái độ chấp nhận hoàn cảnh của mình – một phần để làm đối trọng với những nỗi sợ hãi của bố tôi và một phần cũng bởi bà nghĩ mình đã mất hết tất cả, đến nỗi chẳng còn điều gì thật sự quan trọng nữa. Bà buông xuôi trước sóng gió bi kịch của mọi chuyện. Bây giờ tôi vẫn còn hình dung được hình ảnh của mẹ với vẻ nhẫn nại và vô cảm ngồi xoay khối ru bích trong lúc nhìn màn hình ti vi truyền đi tin tức về một vụ thảm sát ở Sarajevo, bà hoàn toàn không tỏ ra sốt ruột khi không và sẽ chẳng bao giờ chơi thành công cái trò này.

Mẹ tôi bài trí căn hộ bằng những đồ đạc mà cô giáo dạy tiếng Anh của bà tặng lại nhưng trông nó vẫn trống trải, nó thiếu vắng tất cả những thứ nhỏ nhặt in dấu ấn cuộc sống mà gia đình tôi từng trải qua: chiếc đồng hồ hình quả địa cầu với những cây kim mô phỏng vệ tinh Sputnik mà bố tôi đem từ Liên Xô về; bức ảnh của tôi hồi còn nhỏ đang ngồi trên cây anh đào cười tươi (mà chỉ sau đó một lát tôi đã ngã lộn và bị gãy tay); cái vòi tắm có vết ố do hơi nước đọng lại mà nhìn cái vết ố đó, tôi lại liên tưởng đến hình ông Lenin với bộ râu lởm chởm và tóc dài bờm xờm; bức tranh chép lại một bức vẽ tĩnh vật của Cezanne được lồng trong một cái khung xấu xí, những hũ mật ong mang nhãn hiệu “Mật ong thứ thiệt”, trên nhãn có vẽ mấy con ong nhỏ bay bay.

Bố tôi bỏ lớp học tiếng Anh của mình, ông bực bội với cái thứ ngôn ngữ thỉnh thoảng lại có những mạo từ và bất cứ một câu ngu xuẩn nào cũng đòi hỏi phải có chủ ngữ. Ông đường đột gọi điện đến các công ty ở Canada xin việc và bằng một thứ tiếng Anh khó hiểu, ông trình bày cho người ta về cuộc đời mình – trong bản lý lịch cuộc đời đó, có cả chi tiết ông đã từng là một kỹ sư đem ánh sáng đến cho những thành phố lớn – khiến những nhân viên trực máy hết sức bối rối và đành để mặc cho ông cầm ống nói, đến lúc nào chán thì thôi. Suýt nữa ông dính vào một vụ làm ăn liều lĩnh do một gã người Ukraina mờ ám xúi giục, hắn đã thuyết phục ông rằng có thể kiếm được một món tiền béo bở bằng việc buôn lậu loài ngỗng Ukraina xuống miền nông thôn cho ngành công nghiệp làm nệm của Canada.

Tôi gọi điện từ Chicago về cho gia đình tôi và bố tôi nghe máy.

“Bố đang làm gì thế?” Tôi hỏi.
“Tao đang chờ”, ông trả lời.
“Bố chờ cái gì cơ?”
“Chờ chết”
“Cho con nói chuyện với mẹ”.

Và rồi đến một ngày, khi những nỗi khổ sở của ông đã đến độ quá sức chịu đựng, tâm hồn ông đau đớn thật sự, một nỗi đau có thể hiểu theo nghĩa đen, tựa như ngón chân bị bật móng hay tinh hoàn bị sưng tấy, ông bắt đầu cầm bút. Ông không cho mẹ hay em gái tôi xem những gì mình viết, nhưng họ đều biết là ông đang viết về những con ong. Đầu mùa xuân năm 1994, tôi nhận được một phong thư bằng bìa cứng, trên có dòng chữ được viết với nét thảo rất ấn tượng: “Những con ong, phần 1”. Tôi run run lật mở tập bản thảo 21 trang mà có cảm giác như đang mở một cuộn sách linh thiêng mới được phát hiện lại sau một nghìn năm. (Cảm giác về sự linh thiêng đó trong tôi có phần giảm đi một chút khi tôi bắt gặp một vết mật ong bết lại trên trang 6).

NHỮNG CON ONG, PHẦN 1

Có một mối liên hệ thân thiết giữa gia đình tôi và những con ong, câu chuyện của bố tôi đã bắt đầu như vậy. Giống như thành viên của gia đình, bao giờ những con ong cũng quay trở về.

Trước khi ông nội của bố, tức cụ Teodor của chúng tôi, người đầu tiên mang nghề nuôi ong hiện đại đến Bosnia năm 1912, theo như bố tôi kể lại, thì dân bản xứ ở đây vẫn nuôi ong trong những chiếc tổ được trát bằng rơm và bùn và dùng lưu huỳnh giết chúng- giết tất cả bọn chúng – để lấy mật ong. Ông ôn lại câu chuyện về cuộc hành trình của mấy cái tổ ong đã cùng với gia đình mình từ miền nội địa duyên hải Ukraina đến vùng đất hứa ở Bosnia. (Lúc bấy giờ chỉ có một điều duy nhất hứa hẹn với họ là ở vùng đất ấy có nhiều củi, điều đó giúp cho họ có thể chống chọi được qua mùa đông). Những tổ ong ấy phát triển nhanh chóng, bất chấp sự bùng nổ của Thế chiến thứ nhất. Con trai của cụ Teodor, tức ông nội Ivan của tôi, mới có mười hai tuổi khi đặt chân đến Bosnia, về sau trở thành chủ tịch Hội nuôi ong của tỉnh Prnjavor. Trong bức ảnh ghi lại buổi liên hoan ngoài trời nhân dịp thành lập hội, ông nội Ivan đứng chính giữa một nhóm nông dân với bộ râu mép dài rất điệu và đội một chiếc mũ ba góc không vành đúng mốt. Một vài thành viên khác kiêu hãnh phô ra bộ mặt sưng vù bởi ong đốt.

Thỉnh thoảng những con ong lại giở những trò ranh mãnh thú vị, bố tôi ghi chú mà không nói cụ thể đó thực sự là những trò ranh mãnh gì. Xuyên suốt bản thảo, ngôn từ của ông giằng co giữa những lời lẽ mang âm hưởng phán truyền u ám nặng nề để gợi lại bối cảnh lịch sử – Chiến tranh giẫm chân lên nẻo đường quê hay Những vị thần huỷ diệt đã trỏ ngón tay giận dữ của mình vào những hũ mật ong của chúng tôi – và những đoạn miêu tả mang đậm phong cách kỹ thuật về cuộc cách mạng trong việc xây tổ ong mà ông nội đã thực hiện. Mạch văn của ông đang từ chỗ bàn luận về cái chết khủng khiếp mà một con ong phải chịu khi nó đốt (và cả ngụ ý triết lý chứa đựng trong đó nữa) lại chuyển sang mạch miêu tả đầy chất trữ tình về cây táo gai nở hoa và tiếng của con ong chúa có thể nghe rõ trong cái đêm trước khi bầy ong rời tổ. Ông dành gần một trang để kể lại lần đầu tiên ông nhận ra một con ong chúa. Một tổ ong chứa khoảng năm mươi ngàn con ong và chỉ có duy nhất một con ong chúa. Nó nổi bật bởi to hơn những con ong khác đang nhún nhảy xung quanh mình, chúng lượn vòng, di động một cách kỳ lạ, thậm chí dường như là theo một nghi thức sùng bái nào đó. Nhìn thấy con ong chúa lần đầu tiên trên một chiếc khung tổ trĩu mật, ông viết, có cảm giác giống như được chạm vào trung tâm vũ trụ; sự mênh mông và vẻ đẹp của vũ trụ phơi mở trước mắt ông, và cái logic nằm phía sau tất cả những điều đó.

Thời kỳ nghề nuôi ong của chúng tôi thành công nhất bắt đầu từ những năm hai mươi với sự ra đời của Hội nuôi ong và chấm dứt vào năm 1942 trong thời gian Thế Chiến thứ hai, khi lần đầu tiên chúng tôi phải chịu mất những đàn ong của mình, ông viết. Sự mất mát đó là tai hoạ lớn đối với gia đình nhưng bố tôi cố gắng nhìn vấn đề ở tầm rộng hơn – lúc đó, trong vùng Sarajevo đang bị bao vây, có nhiều tấn bi kịch. Có những điều còn tồi tệ hơn xảy đến với người ta. Chẳng hạn, cả một gia đình bị tiêu diệt, không để lại một dấu vết nào. Chúng tôi không bị tiêu diệt, đó đã là một điều tốt rồi.

Ở trang tiếp theo, ông vẽ tấm bản đồ về ngôi làng nhỏ ở Vucjak và thị trấn tỉnh Prnjavor cách đó sáu cây. Ông vẽ những ngôi sao nhỏ xung quanh trang giấy để biểu thị những ngôi làng khác và dân chúng trong khu vực. Đó quả thật là một vùng đa quốc gia, lời ghi chú của ông đượm một nỗi bâng khuâng. Ngưòi Đức, người Hungary, người Séc, người Ba Lan, người Ukraina, người Slovakia, người Ý, người Serbi, người Hồi giáo, người Croatia, và tất cả những người có thành phần quốc tịch hỗn hợp. Cư dân trong vùng xuất thân từ mười bảy quốc gia- thậm chí có cả một người Nhật là thuỷ thủ ở Prnjavor. Vào năm 1942, bố tôi giải thích, xã hội trở nên hỗn loạn, luật pháp rối ren. Có những băng đảng giang hồ theo chủ nghĩa phát xít người Serbi và người Croatia đồng thời cũng có cả quân du kích của Tito5 nữa. Một hôm có hai dân quân xuất hiện trước cửa nhà bố tôi. Họ vốn là hàng xóm của gia đình, trông họ vẫn như những nông dân bình thường, ngoại trừ việc họ mang theo bên mình những cây súng trường cà tàng và trên mũ họ có gắn phù hiệu quân Chetnik6 (có hình một con đại bàng xấu xí đang giang rộng cánh) ở phía trước và ngôi sao đỏ tượng trưng cho quân du kích ở phía sau – họ sẽ đảo mũ trong trường hợp thấy cần thiết. Sắp có đánh lớn, những người nông dân đó nói vậy. Họ bảo chúng tôi tốt hơn là hãy rời đi. Họ bảo họ sẽ lấy khoá móc khoá lại tất cả mọi thứ và cho chúng tôi xem một cái chìa khoá lớn, mà nhìn thì thấy rõ sẽ chẳng có cái ổ nào vừa với nó cả. Họ đề nghị chúng tôi chỉ lấy những thứ gì có thể đem theo được, vừa nói họ vừa lần sờ những con dao gài ở thắt lưng, ra vẻ như là chỉ vô tình chạm vào. Cha tôi nài xin được mang theo một con bò, mẹ tôi, sáu chị em gái của tôi, hai anh em trai chúng tôi khóc nức nở. Mùa đông đã đến gần kề. Có lẽ chính sự khóc lóc thảm thiết đó đã khiến bọn họ thương hại và cho phép chúng tôi dẫn một con bò đi, mặc dù đó chỉ là một con bò ốm yếu- cái vú của nó teo tóp như thế thì làm sao có thể vắt ra được một chút sữa nào hay làm chúng tôi thấy tạm được an ủi vì còn mang theo được một thứ đáng giá. Và chúng tôi đành phải bỏ lại sau lưng ba mươi tổ ong.

Ở đoạn kế tiếp, văn của bố tôi bắt đầu trở nên bất ổn, một vài câu bị gạch xoá. Bên dưới một dòng gạch xoá nhằng nhịt, tôi có thể đoán được một vài từ ngữ: quạ, nước đái, thuộc về, và da dẻ, lưỡi hái.

Hồi đó tôi mới sáu tuổi, ông kể tiếp, và tôi mang theo một cái cối xay thịt khi phải rời nhà. Bà nội của chúng tôi thì ôm em trai út của bố tôi, đứa con nhỏ tuổi nhất nhà – thằng nhỏ ôm ghì lấy ngực mẹ mình như một con khỉ con. Chỉ sau vài tháng, tất cả những vụ cướp phá và ăn cắp của những kẻ hàng xóm láng giềng đó lộ ra. Những người nông dân sau khi đã khua khoắng sạch trơn ngôi nhà, căn gác xép, kho thóc của chúng tôi, cuối cùng cũng động đến bọn ong. Bọn họ muốn lấy mật ong mặc dù lượng mật ong chỉ còn lại rất ít- chỉ vừa đủ cho bầy ong chịu đựng hết mùa đông. Họ mở tổ ong và đem dốc những con ong vô phương tự vệ ra khỏi tổ. Lúc đó đã là cuối tháng Mười, trời lạnh, bầy ong không thể bay hay đốt được nữa. Chúng rơi xuống mặt đất trong trạng thái im lặng tuyệt đối: không một tiếng vo ve, hoàn toàn không còn sự sống, đêm đó cả bầy ong đã chết hết. Khi gia đình cuối cùng cũng quay về nhà được, bố tôi phát hiện một đống xác ong đang rữa mềm xốp. Trước khi chết, những con ong đã bò sát lại gần nhau để giữ hơi ấm.

Hai trong số những tổ ong của gia đình chúng tôi bị một người hàng xóm khác, lão Tedo, một người cũng làm nghề nuôi ong, ăn trộm. Ông nội Ivan biết thừa Tedo đang giữ những tổ ong đó nhưng chưa bao giờ ông hỏi xin lại. Một ngày Tedo đến nhà chúng tôi, lão không dám nhìn thẳng vào mắt ông Ivan của chúng tôi nữa, lão quả quyết rằng mình chỉ chăm sóc đàn ong giùm gia đình chúng tôi khi chúng tôi phải rời đi mà thôi. Lão muốn trả lại chúng tôi những tổ ong đó. Tôi còn nhớ mình đã cùng cha đến lấy lại bầy ong của chúng tôi. Chúng tôi đi trên một chiếc xe trượt tuyết và phải rất cẩn thận không để những tổ ong bị xóc vì nếu không, e sẽ làm rã bầy ong đang cấu kết lại thành khối để duy trì hơi ấm. Bố tôi ngồi giữa hai tổ ong, giữ chúng rất chặt. Đó là một đêm lạnh giá, trên trời có những ngôi sao lấp lánh như những vụn băng vỡ. Nếu cẩn thận và kiên nhẫn thì hai tổ ong này sẽ sinh sôi nảy nở thêm rất nhiều, ông nội đã nói với bố tôi như vậy. Những năm sau đó, gia đình chúng tôi đã có sáu tổ ong, rồi số lượng đó lại nhiều lên gấp đôi và chỉ trong vài năm, chúng tôi đã gây dựng được hai mươi lăm tổ ong.

HOÀN CẢNH SÁNG TÁC

Vì trân trọng nỗi mong mỏi của bố, nỗi khao khát của ông muốn được viết ra một cuốn sách chân thực- tôi thấy cần phải nói thêm đôi điều về hoàn cảnh của ông khi thực hiện công việc trình bày sự thật này. Tôi không ở bên ông khi ông viết vì thế tôi đành phải dựa vào những thông tin từ một nhân chứng đáng tin cậy là mẹ tôi. Ông chủ yếu viết vào buổi chiều, với một cây bút chì viết trên tập giấy rời, loại giấy người ta thường dùng để đóng sổ, nét chữ dài, nghiêng đặc trưng của dân kỹ sư. Ông ngồi trên giường của mình, với chiếc bàn ngủ kẹp giữa hai chân. Ông gọt bút chì bằng con dao bỏ túi của quân đội Thụy Sĩ (món quà tặng bố mà tôi mua được từ một của hàng miễn thuế cách đây đã nhiều năm), và xả vỏ bào bút chì rải rác khắp phòng ngủ. Những cây bút chì được mua từ một cửa hiệu tạp hoá bình dân và thường xuyên bị gãy ruột chì. Có khi ông đã tức tối bẻ gãy mấy cái liền một lúc. Qua điện thoại, tôi nghe những lời than vãn lâm li và cả sự tiếc rẻ của bố về những chiếc bút chì “của chúng ta”, những cây bút chì mà người ta có thể yên tâm hoàn toàn về chúng. Thỉnh thoảng, ông chỉ ngồi đó huýt sáo xua lũ bồ câu đang mổ chỗ vụn bánh mì mà mẹ tôi để lại cho chúng trên ban công. Ông thường xuyên gián đoạn những suy nghĩ của mình để đi lấy một lát bánh mì cùng với bơ và mật ong. Cuối cùng thì ông cũng bắt tay vào viết, có khi ông ngồi viết liên tục trong khoảng bốn mươi lăm phút- đó là một khoảng thời gian kỷ lục đối với một ngưòi thiếu kiên nhẫn và khổ sở như bố tôi.

Giờ đây tôi đang cầm bản thảo của ông trong tay, tôi có thể mường tượng được mức độ dao động của sự tập trung ở ông. Tôi có thể phán đoán được lưng của ông lên cơn đau mỏi rồi lại đỡ đau đi như thế nào qua nét chữ liền lạc, đều đặn, chẳng hạn, ở đầu trang 10 rồi lại nguệch ngoạc ở trang 11, qua những từ được ghi ngẫu nhiên bên lề (Branko, những kỵ sĩ, dưa hấu, vụ tàn sát), những tính từ phụ trợ cho những danh từ trơ trọi, nhạt nhẽo (từ hôi tanh bốc mùi quanh từ bàn chân, từ cổ điển lại đi kề bên từ vụ trộm, chữ vàng óng lại tan chảy trên chữ mật ong). Có chỗ câu ngắt nửa chừng, sự thiếu logic trong kết cấu cú pháp cho thấy tư tưởng của ông đang bị phân tán. Thi thoảng lại có một câu đột ngột bị ngắt: Chúng tôi hiểu, rồi bỏ lửng; Phải nói rằng, nhưng không ai hiểu điều gì ở sau đó.

Ở trang 17, bố tôi kể lại một câu chuyện hài hước về một người hàng xóm có tên là Branko. Lúc này, những tổ ong của ông nội Ivan đã bị hợp tác xã trưng thu và ông được giao trách nhiệm quản lý nhà nuôi ong của hợp tác xã, trông coi khoảng hai trăm tổ ong – một số lượng tổ ong quá lớn tập trung tại một nơi như vậy thì khó lòng đem lại hiệu quả được, nhưng mệnh lệnh là mệnh lệnh. Bố tôi, lúc đó mười ba tuổi, phụ giúp cho ông nội. Hôm đó là một ngày rực rỡ, chim chóc ríu rít, cây táo ở giữa khu nhà nuôi ong trĩu quả. Hai cha con cứ lẳng lặng làm việc, họ chỉ gián đoạn khi thỉnh thoảng lại có một quả táo chín rơi bịch xuống đất. Một bầy ong đang bám trên một cành cây và hai cha con phải làm sao để đưa chúng vào tổ. Ông nội Ivan bảo bố tôi giữ cái tổ ong ở bên dưới trong lúc ông rung cành cây; khi bầy ong chạm vào cái tổ, ông bảo, chúng sẽ lần lượt bò vào trong đó theo con ong chúa. Nhưng, bố tôi lo xa, tôi không đủ sức để giữ được cái tổ ong và nhỡ bọn ong không bay trúng vào tổ thì chúng sẽ rơi xuống đầu tôi mất. Tôi biết là ong không đốt khi chúng đang di chuyển theo bầy nhưng nếu chúng rơi mà ngòi lại chĩa xuống đầu tôi thì chúng vẫn có thể làm tôi đau. Đã thế, chúng tôi còn phải chờ cho đến lúc nào chúng hợp bầy trở lại. Đến lúc này thì Branko xuất hiện, hắn là một gã vô tích sự. Hắn căm ghét loài ong bởi vì đã bị ong đốt nhiều lần, thế nhưng hắn vẫn tình nguyện xin giúp một tay, có thể là vì muốn tranh thủ xoáy một cái gì đó. Vậy là Branko làm nhiệm vụ giữ tổ ong thay cho bố tôi, gã hằn học ngước nhìn bầy ong, bước quanh quanh lón rón, cố gắng làm thế nào để hứng cái tổ ong vào đúng hướng. Khi hắn đang dịch chuyển thì ông nội Ivan lấy một cây gậy dài, cong queo khua cành cây và thế là cả bầy ong sà vào Branko. Khi ong còn chưa kịp chích cho hắn một nhát thì hắn đã hét toáng lên và lắc lắc đầu như thể hắn bị cả một bầy quỷ ám. Hắn hộc tốc chạy khỏi nhà nuôi ong, đâm sầm vào một bờ rào và cuối cùng ngã lăn xuống một vũng bùn. Chủ nhân của vũng bùn ấy, một con lợn nái ục ịch, lờ đờ nhìn hắn. Bố tôi bò lăn ra đất mà cười, còn ông nội Ivan thì hơi nhíu mày, khẽ cười mỉm trong giây lát rồi trở lại như không có chuyện gì xảy ra. Đoạn văn đến đó thì bị ngắt.

Ở đoạn tiếp theo, với nét chữ mờ mờ dường như là bởi run rẩy và mệt mỏi, bố tôi kể về một trận đại dịch tấn công những tổ ong của hợp tác xã. Trận dịch nhanh chóng lan rộng vì các tổ ong nằm quá gần nhau, làm chết đến một phần mười tổng số ong. Ông tả lại cảnh tượng một lớp dày xác ong le lói trên đám cỏ trông thật thương tâm. Ông nội Ivan ngồi bệt xuống, dựa lưng vào gốc cây với vẻ chán chường tột cùng, quanh ông là cả bầy ruồi điên cuồng bu trên những quả táo thối. Đời là thế, bố tôi kết luận, hết cuộc đấu tranh này đến cuộc đấu tranh khác, mất mát nối tiếp mất mát, chỉ rặt là những khổ đau vô tận.

NHỮNG ÔNG BỐ VÀ NHỮNG CÔ CON GÁI

Phải mất một thời gian tôi mới hiểu điều gì đã xảy ra giữa các đoạn văn. Một tháng trôi qua kể từ khi bố tôi viết văn, chuyện bắt đầu từ việc bố tôi nhận được một cú điện thoại từ Nada, con gái của Slavko, anh họ ông. Cô gái đã một thân một mình tìm đường di tản, cuối cùng thì định cư tại Lincoln, Nebraska, nơi cô theo học đại học, chuyên ngành chính là thư viện học và chuyên ngành phụ là thần học. Bác Slavko và bố tôi đã lớn lên cùng nhau – họ bằng tuổi nhau – nhưng bác Slavko vừa mới qua đời, bác là một người nghiện rượu nặng. Nada gọi điện cho bố tôi bởi như cô nói, cha cô đã kể cho cô nghe những câu chuyện về thời thơ ấu của hai anh em. Bố tôi rất vui vì được nói chuyện với cô, ông nói cô có thể gọi điện cho ông bất cứ lúc nào cũng được- vì “gia đình là gia đình”. Nhưng chi phí điện thoại rất đắt đối với cả ông lẫn Nada vì thế họ thường xuyên thư từ cho nhau. Thay vì viết “Những con ong”, ông lại dành thời gian để kể lại chi tiết những kỷ niệm cho Nada, ông hồi tưởng những trò ranh mãnh tuổi thơ của ông và bác Slavko với bao trìu mến. Những lá thư của ông bề bộn chuyện kể về những con ong, những quả táo và những buổi sum họp gia đình, nơi mọi người cùng hò hát, ôm hôn nhau và liếm mật ong trên đầu ngón tay. Mẹ tôi bảo nếu Nada không có họ hàng với bố tôi hẳn cô ta đã nghĩ ông đang yêu cô mất. Giờ thì ông đã có một người để ông có thể vẽ những bức tranh đời mình cho người ấy nhìn ngắm, để ông có thể kể cho người ấy câu chuyện chân thực của minh.

Nhưng những bức thư của Nada lại thường là những lời lẽ cường điệu ồn ào, chỉ một giọng rên rỉ chuyện cha mình cuối cùng đã biến thành một lão già ốm đau và cay nghiệt còn mẹ cô lại dễ dãi quá mức trước sự để ý của những gã đàn ông khác. Cô căm ghét nước Mỹ và người Mỹ, cô căm ghét chủ nghĩa tỉnh lẻ của bọn họ, cô căm ghét nền văn hoá ngu xuẩn, không có cội nguồn của xứ sở này. Cô ấy rõ ràng đang rất đau khổ, mẹ tôi nói vậy, thế nhưng bố tôi lại chẳng để ý đến điều đó. Thế rồi có một dạo Nada không viết thư nữa. Nhưng một đêm, bố mẹ tôi bị đánh thức bởi một đống giấy tuôn ra dồn dập từ máy fax. Một bản fax dài đến 65 trang. Cha của Nada bị cô kết án trong bức fax là một kẻ quấy rối tình dục trẻ con còn mẹ cô là một mụ điếm già rẻ tiền. Nước Mỹ đã trở thành một thứ địa ngục nhơ nhuốc, ở đó chỉ rặt những điều ngu ngốc và vô nghĩa, do dân Do Thái và C.I.A thống trị. Kẻ cùng phòng với cô (một ả gái làng chơi gốc Latinh) muốn giết cô; những giáo viên của cô bàn tán về cô với các bạn cùng lớp, họ cho nhau xem những bức ảnh chụp lén cô trong trạng thái khoả thân, trong lúc đó, lũ con trai thì thủ dâm. Bác sĩ của cô định cưỡng hiếp cô, ở văn phòng sở Di dân và Quốc tịch (I.N.S), nơi cô xin đăng ký thẻ cư trú dài hạn, người đàn bà phỏng vấn cô có móng guốc thay vì chân người; và có ai đó đã biến đổi những từ ngữ trong sách vở mà cô đang học – giở ra cô lại thấy dày đặc những từ dối trá, dối trá, dối trá được viết thêm vào đó mỗi ngày. Thoạt đầu, cô nghĩ rằng cô bị những kẻ đố kỵ quấy phá, những kẻ căm ghét cô bởi sự trinh bạch của cô nhưng giờ thì cô biết Chúa đã biến thành quỷ dữ và bắt đầu thanh trừ kẻ vô tội. Niềm hy vọng duy nhất của con là chú, cô ta viết, Chú có thể đến đây và mang con khỏi hầm tối địa ngục này? Ở mấy trang cuối cùng, cô nhắc bố tôi phải cảnh giác đối với tôi, cô gợi lại cho ông huyền thoại Oedipus7 và lưu ý bố tôi rằng con trai của ông (tức là tôi) đang ở Mỹ, điều đó có nghĩa là tôi là đứa hư hỏng và không đáng tin. Chú hãy luôn nhớ, cô ta viết, Chúa bao giờ cũng thiên vị những đứa con trai hơn những ông bố và những cô con gái.

MỘT CÂU CHUYỆN KHÁC

Bố tôi liên tục gọi điện cho Nada nhưng đều không nhận được trả lời, cho đến khi Madrigal, cô bạn sát nhân cùng phòng với Nada nhấc máy. Cô ta nói cho ông biết Nada “đã bị đưa vào dưỡng trí viện” rồi. Ông không hiểu từ đó và còn không phát âm được nó để tôi có thể dịch cho ông hiểu, vì thế tôi đành phải gọi cho Madrigal. “Nó phát rồ rồi”. Madrigal nói. “Ở trong thư viện. Cô ta nghe thấy những giọng nói phát ra từ những cuốn sách lan truyền những tin đồn thổi về mình.”

Bố tôi bị sốc nặng. Ông gọi cho một người nào đó ở trường đại học Nebraska, với một thứ tiếng Anh của Tarzan8, ông yêu cầu người ta phải đến thăm Nada ở nhà thương điên và nói cho cô ấy biết là ông đã gọi điện đến. “Chúng tôi không làm việc đó được”, cái người không rõ tính danh ở đại học Nebraska ấy trả lời ông. Bố tôi ngồi xuống bàn, lấy cây bút chì ra gọt như điên như dại (nhưng ông không viết) cho đến khi cây bút chì chỉ còn trơ một mẩu mà ông có thể kẹp giữa ngón tay. Ông gọi điện thoại cho tất cả thành viên trong gia đình, dường như ông nghĩ rằng họ có thể dốc hết năng lượng tinh thần của mình lại và chữa chạy cho Nada bằng một phương pháp ngoại cảm. Hầu như ngày nào ông cũng điện thoại cho tôi và yêu cầu tôi phải gọi lại cho ông vì ông không đủ khả năng chi trả cho những cuộc gọi. Ông kể lại cho tôi những nỗ lực vô ích của ông để liên lạc với Nada và cuối cùng, ông bắt tôi đến Lincoln tìm cô ta. Tôi không thể làm việc đó được. “Mày biến thành một thằng Mỹ rồi”, ông bảo tôi thế. Nhưng đó lại là một câu chuyện khác.
LỜI CĂN DẶN

Sau đoạn ngắt đó, nhịp độ của câu chuyện chậm dần. Ông lướt qua câu chuyện ông nội Ivan của chúng tôi bị cả trăm con ong đốt và phải mất vài ngày hôn mê bất tỉnh. Ông dành một đoạn để viết về nghề nuôi ong, những năm sáu mươi, bảy mươi, thời kỳ được xem là giai đoạn hoàng kim thứ hai của nghề nuôi ong gia đình, mặc dù cha của ông gần như đã mù hẳn. Khi ông nội Ivan bị mù, đàn ong cũng từ từ chết dần và cho đến lúc ông qua đời, nhà tôi chỉ còn lại ba tổ ong. Bố tôi không thể làm gì được. Công việc buộc tôi phải đi khắp thế giới, chủ yếu là sang Trung Đông và Châu Phi, tôi chỉ có thể về nhà thăm cha mẹ ba lần một năm và không có cách gì để dành thời gian cho bọn ong. Không lâu trước khi qua đời, cha gọi tôi và các anh em trai của tôi lại để bàn về nghề nuôi ong gia truyền của nhà mình. Ông căn dặn

Và sau đó thì “Những con ong, Phần 1” kết thúc, không có lời căn dặn nào được ghi lại, mặc dù cũng không khó để nghĩ xem ông nội tôi muốn nói gì. Ông nội mất, bà nội tôi cũng qua đời, bố tôi cùng các anh em trai của ông tiếp tục duy trì nghề nuôi ong của gia đình. Đàn ong sống sót qua một trận dịch do loài bọ Varroa gây ra, tiếp sau đó là một đợt đại hạn và rồi đến thời kỳ đầu của cuộc nội chiến ở Bosnia. Khi gia đình tôi di cư sang Canada, chúng tôi phải bỏ lại hai mươi lăm tổ ong. Sau ngày chúng tôi ra đi không lâu, một toán người vốn là hàng xóm láng giềng, tất cả đều là lính tình nguyện trong lực lượng quân đội Serbi, trong trạng thái say khướt, tràn vào vườn nhà chúng tôi giữa đêm khuya, bọn họ đá vào những tổ ong, hất chúng ra khỏi bệ, và khi những con ong cố gắng một cách yếu ớt để trốn thoát (đó lại là một đêm mùa đông lạnh giá và bọn ong bò trên mặt đất), bọn họ liền ném mấy quả lựu đạn cầm tay và đứng đó khoái trá cười nhìn xác những con ong bay vòng vòng như thể đang còn sống. Bọn họ lấy đi những chiếc khung tổ to nặng và để lại một dải mật ong rỏ giọt kéo dài sau lưng mình.

CÁI GIẾNG

Bố tôi tìm được một việc làm ở một nhà máy, chuyên bảo dưỡng thiết bị máy móc. Cái nhà máy này mùa hè thì nóng, mùa đông lại lạnh, và khi làm ca đêm, thỉnh thoảng ông lại ngủ gật trên tay lái chiếc xe Lincoln Town Car đã hom hem tàn tạ trong lúc đợi đèn xanh. Một lần, nhân khi đang đọc các mục quảng cáo để tìm mua những đồ gia dụng với giá rẻ nhất thì ông bắt gặp một mẩu quảng cáo mật ong sản xuất tại nhà. Ông gọi điện ngay cho người đăng mẩu quảng cáo và nói thẳng là ông không có tiền để mua mật ong nhưng rất muốn được xem những con ong của người ấy. Dường như giữa những người nuôi ong có một sự đồng cảm nào đó, ông chủ trại ong đó mời bố tôi đến chơi. Ông ta là người Hungary, vốn là thợ mộc, nay đã nghỉ hưu. Ông đồng ý để bố tôi phụ giúp việc nuôi ong và tặng lại bố tôi một chồng tập san “Nghề nuôi ong ở Canada” đã cũ mà bố tôi đã cố gắng để đọc với sự trợ giúp không đầy đủ từ cuốn từ điển của mẹ tôi. Sau một thời gian, ông già người Hungary đó tặng lại cho bố tôi một bầy ong và một cái tổ cũ để bố tôi bắt đầu gây dựng nhà nuôi ong của mình. Ông trách bố tôi cứ bỏ áo khoác và bỏ mũ, thậm chí còn không đeo găng tay nữa khi làm việc với những con ong nhưng bố tôi cho rằng so với mọi thứ đau đớn khác, những vết ong châm còn là điều tốt. Tôi vẫn không hình dung được họ dùng thứ ngôn ngữ nào để trò chuyện với nhau nhưng hẳn đó không thể là Anh ngữ được.

Bây giờ thì bố tôi đã có hai mươi ba tổ ong và một năm thu được chừng vài trăm pound mật ong mà ông không thể bán được. “Dân Canada không biết thưởng thức mật ong , bố tôi nói thế. “Họ không biết gì về nó cả.” Ông muốn tôi giúp ông giới thiệu mật ong của mình trên đất Mỹ nhưng tôi nói với ông người Mỹ thậm chí còn hiểu biết về mật ong kém hơn cả dân Canada.
Ông vừa quyết định viết một cuốn sách chân thực nữa. Ông đã nghĩ được nhan đề của nó rồi: “Cái giếng”. Có một cái giếng gần nhà khi ông còn là một cậu bé. Mọi người đều đến đó để lấy nước. Thỉnh thoảng cũng có “những câu chuyện thú vị” xảy ra bên giếng. Có một lần, ông nhớ lại, có một con la bỏ trốn và chạy đến bên giếng, nó biết có nước ở đó. Nhưng đầu nó bị buộc chặt vào chân- đó là cách mà người thời đó dùng để bắt con la phải nhai cỏ – do đó, nó không tài nào uống được nước. Nó cứ nấn ná quanh cái giếng, đập đầu xuống máng nước, nó đã chết khát trong khi chỉ cách chỗ có nước chút xíu. Con la kêu inh tai trong nỗi đau đớn khủng khiếp. Nó cứ kêu inh lên như thế suốt cả ngày, bố tôi kể. Suốt cả ngày lẫn đêm./.
Chú thích:
1. adagio: đoạn nhạc có tiết tấu khoan thai, chậm rãi
2. allegro: đoạn nhạc có tiết tấu nhanh
3. Icarus: nhân vật trong thần thoại Hy Lạp,là con trai của Dedalus, một nghệ nhân thiên tài. Dedalus vị vua Minos xứ Crete bắt giam trong mê cung mà chính Dedalus đã xây. Không chịu bó tay, Dedalus đã sáng chế hai một đôi cánh làm bằng lông vũ kết gắn bằng trên khung gỗ và trao cho con trai mình một đôi. Ông căn dặn Icarus không được bay gần mặt trời vì sức nóng của mặt trời sẽ làm chảy sáp. Nhưng qua sung sướng trước chuyến bay này, Icarus đã quên mất lời dặn của cha, bay đến gần mặt trời. Lông vũ trên đôi cánh rơi rụng và rốt cục Icarus rơi nhào xuống biển
4. Sonic Youth: ban nhạc rock nổi tiếng thập kỷ 80. Sonic Youth bắt đầu hình thành phong cách của mình bằng việc khước từ những quy tắc của thể loại rock & roll. Ban nhạc đặc biệt chú ý đến hiệu quả của tiếng ồn trong nhạc rock & roll và khả năng của cây ghi ta trong nhạc rock. Âm nhạc của Sonic Youth chú trọng việc tạo ra những âm thanh nghịch nhĩ, những tiếng rít ghi ta, sự lên dây đàn luân phiên nhờ đó đem lại hiệu quả âm thanh mới.
5. Tito: Tên đầy đủ là Josip Broz Tito (1892 -1980), chủ tịch liên bang Nam Tư từ sau Thế chiến thứ II cho đến khi ông qua đời vào năm 1980. Trong thời gian Thế chiến thứ II, Tito là Tổng chỉ huy lực lượng quân giải phóng Nam Tư. Lực lượng của ông vừa nhận được sự ủng hộ của quân Đồng minh phuơng Tây và bản thân ông lại có mối quan hệ mật thiết với Stalin.
6. Chetnik: Thành viên của một tổ chức người Serbi hoạt động bí mật trong thời kỳ phát xít Đức xâm chiếm Nam Tư trong Thế chiến thứ hai. Quân Chetnik ban đầu nhận được sự giúp đỡ của quân đồng minh nhưng về sau sự giúp đỡ này được chuyển sang cho phe của những người cộng sản do Tito đứng đầu.
7. Huyền thoại Oedipus: Nhân vật trong vở bi kịch nổi tiếng thời Hy Lạp cổ đại “Oedipus làm vua” của kịch tác gia Sophocles. Vở kịch xoay quanh tấn bi kịch của Oedipus, vua của thành bang Thebes, người đã phạm tội giết cha mình, sau đó kết hôn với mẹ mình. Oedipus vừa là tội nhân vừa là nạn nhân của một định mệnh độc ác, nghiệt ngã. Huyền thoại này còn gắn liền với ý niệm về mặc cảm Oedipus trong tâm lý học mà Sigmund Freud là người đầu tiên phát hiện. Nói một cách vắn tắt, mặc cảm Oedipus là một trạng thái tâm lý phức tạp nảy sinh ở trẻ nhỏ từ ba đến năm tuổi trong giai đoạn hình thành tâm lý giới tính: đứa trẻ vừa có biểu hiện yêu mến người sinh thành ra mình, thuộc giới tính khác mình vừa có lòng đố kỵ và căm ghét bậc phụ huynh cùng giới tính với mình. Theo Freud thì mặc cảm Oedipus vừa là nền tảng của cái siêu ngã (superego) vừa là trung tâm của những mối quan hệ người. Theo một số nhà phân tâm học khác thì mặc cảm Oedipus không phải là biểu hiện của những ẩn ức dục tính mà là của sự oán hờn đối với quyền lực độc đoán của bố mẹ ở đứa trẻ.
8. Tarzan: nhân vật huyền thoại trong loạt truyện lừng danh của Edgar Rice Burroughs (1875-1950) về một cậu bé bị thất lạc trong rừng thẳm từ lúc sơ sinh và được loài khỉ nuôi đến lớn. Sau đó, loài người tình cờ phát hiện ra cậu, và biết bao biến cố kỳ thú xảy ra từ đó. Loạt truyện này gồm rất nhiều tập. Tập đầu tiên được xuất bản từ năm 1912. Nhiều tập đã được chuyển thành tác phẩm điện ảnh.

* Xin chân thành cảm ơn anh Hoàng Ngọc- Tuấn đã hiệu đính cho bản dịch này (HN)

bài đã đăng của Aleksandar Hemon