Trang chính » Biên Khảo, Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 10, Dịch Thuật, Sang Việt ngữ, Tiểu luận Email bài này

Cơn giận của những người dưới đáy


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 1.11.2006

 

Tôi đã từng nghĩ rằng những thảm họa có thể sẽ làm cho cảm thức cộng đồng của con người trở nên mạnh mẽ hơn. Ngay sau vụ đại hỏa hoạn xảy ra ở Istanbul hồi tôi còn nhỏ và trận động đất cách đây hai năm, bản năng đầu tiên của tôi là muốn được chia sẻ những cảm xúc của mình, muốn nói với những người khác về thảm họa ấy. Nhưng lần này, khi ngồi đối diện màn hình ti vi trong một quán cà phê nhỏ ở Istanbul gần bến cảng nơi thường xuyên tụ tập dân đánh xe, dân cửu vạn và những người mắc bệnh lao, chứng kiến toà tháp đôi ở New York bốc cháy và sụp đổ, tôi bỗng cảm thấy cô đơn ghê gớm.

Ngay sau khi chiếc phi cơ thứ hai đâm vào toà tháp, các kênh truyền hình của Thổ Nhĩ Kỳ đã phát sóng trực tiếp vụ tấn công này. Trong quán cà phê, một đám người ngồi xem những cảnh tượng không thể tin nổi đang hiển hiện trên màn hình ti vi với sự kinh ngạc dửng dưng của người ngoài cuộc, sững sờ đấy nhưng rõ ràng không hề bị tác động. Lúc đó, tôi đã muốn đứng dậy và nói to lên với mọi người, rằng: “Tôi đã từng sống ba năm ở Manhattan. Trong số những toà nhà ấy, có nơi tôi đã từng ở. Tôi đã từng lang thang trên những con phố ấy mà không có xu nào trong túi. Tôi đã từng trò chuyện với những người sống trong những toà tháp ấy.” Song, như trong một giấc mơ mà người ta thấy sự lạc lõng của mình mỗi lúc lại rõ nét hơn, tôi đã im lặng.

Tôi bỏ ra ngoài phố vì không thể chịu đựng nổi khi nhìn thấy những gì đang diễn ra, và quan trọng hơn thế, tôi muốn chia sẻ với những người khác điều mình đã nhìn thấy. Không lâu sau đó, tôi bắt gặp một phụ nữ trên bến cảng đứng lẫn giữa đám đông đang khóc nức nở trong lúc đợi lên phà. Nhìn nét mặt của chị và của những người xung quanh, tôi nhận ra ngay: chị khóc không phải vì mình có họ hàng thân thích nào đang ở Manhattan mà vì chị nghĩ rằng ngày tận thế đang đến gần. Hồi còn nhỏ, tôi nhớ khi người ta cảnh báo cuộc khủng hoảng tại Cuba có nguy cơ dẫn đến đại chiến thế giới thứ ba, tôi cũng đã nhìn thấy những phụ nữ cùng quẫn khóc nức nở như thế, trong khi đó, những gia đình trung lưu thì lo tích trữ đậu lăng và mì ống. Tôi quay về quán cà phê, xem lại những cảnh tượng đang được phát hình trên ti vi mà trong đầu cũng nặng trĩu một nỗi ám ảnh không thể rũ bỏ được giống như phần nhân loại còn lại của thế giới này.

Sau đó, khi tôi lại đi ra phố, tôi gặp một người hàng xóm của mình. “Thưa ông, ông thấy không, bọn họ đã ném bom nước Mỹ,” ông ta nói với tôi và còn dằn mạnh từng tiếng nói thêm: “Họ đã làm điều cần phải làm.”

Sự giận dữ của ông già hàng xóm hoàn toàn không phải bắt nguồn từ cảm thức tôn giáo. Ông già đã phải vật lộn kiếm ăn bằng công việc sửa chữa vật dụng lặt vặt và làm vườn, hầu như tối nào cũng say sưa và lớn tiếng với vợ. Ông ta thậm chí còn chưa xem những cảnh kinh hoàng trên ti vi mà mới chỉ được nghe người ta bàn tán, rằng đã có kẻ gây ra một điều gì đó hết sức khủng khiếp đối với nước Mỹ. Tôi đã nghe thấy nhiều người cũng bộc lộ sự giận dữ tương tự như phản ứng ban đầu của ông già (mà sau đó, chính ông đã hối tiếc vì đã có thái độ ấy). Thoạt đầu, ở Thổ Nhĩ Kỳ, nhiều người đã lên tiếng về sự tàn bạo của vụ khủng bố, cho rằng vụ tấn công này là một hành động đê tiện, khủng khiếp. Tuy nhiên, người ta đã thêm vào một chữ “nhưng” bên cạnh sự lên án việc giết những người vô tội, tiếp nối chữ “nhưng” ấy là những lời chỉ trích hoặc cố gắng kiềm chế hoặc hết sức gay gắt nhằm vào quyền lực chính trị và kinh tế của nước Mỹ. Tranh cãi về vai trò của Mỹ trên thế giới trong sự phủ bóng của một thứ chủ nghĩa khủng bố được hình thành trên cơ sở của sự thù địch đối với phương Tây, dã man giết chết bao nhiêu người vô tội là một điều cực kỳ khó và có lẽ còn có vấn đề phải bàn từ góc độ đạo lý. Nhưng trong không khí sục sôi của sự giận dữ chính đáng trước những hành động khủng bố tàn bạo, trong cơn thịnh nộ của chủ nghĩa dân tộc, người ta dễ nói ra những lời có thể lại dẫn đến việc tàn sát những người vô tội khác. Bởi thế mà có điều cần phải nói lại.

Chúng ta có lẽ đều có thể thấy được một điều là: nếu những trận oanh tạc xảy ra gần đây càng kéo dài, số những người dân vô tội ở Afghanistan hay ở bất kỳ một khu vực nào khác trên thế giới bị thiệt mạng tiếp tục tăng lên để làm thỏa mãn người Mỹ thì điều đó sẽ chỉ càng làm cho mối căng thẳng giả tạo giữa “phuơng Đông” và “phương Tây”, “văn minh Hồi giáo” và “văn minh Thiên Chúa giáo” mà một số nơi đang cố dựng lên trở nên trầm trọng hơn; và điều đó chỉ bênh vực cho chủ nghĩa khủng bố để rồi dẫn đến những hành động quân sự để trừng phạt. Giờ đây, khó thể từ quan điểm đạo đức để bàn về sự thống trị thế giới của Mỹ cũng như về sự nhẫn tâm không thể tưởng tượng nổi của những kẻ khủng bố khi đã giết chết hàng nghìn người vô tội. Đồng thời, chúng ta cũng cần tìm hiểu xem tại sao hàng triệu người ở những nước nghèo, những người bị gạt ra một bên và bị tước mất quyền định đoạt chính lịch sử của mình lại cảm thấy giận dữ đối với nước Mỹ.

Tuy nhiên, không phải lúc nào chúng ta cũng nhất thiết phải nhìn sự giận dữ ấy với cái nhìn cảm thông. Hơn nữa, ở nhiều nước thuộc thế giới thứ ba và các nước Hồi giáo, cảm thức chống Mỹ không hẳn là một sự giận dữ chính đáng mà đúng hơn, nó được sử dụng như một phương tiện để che giấu tình trạng thiếu dân chủ và củng cố quyền lực của các thế lực độc tài địa phương. Việc cố thiết lập nên một mối quan hệ chặt chẽ với Mỹ ở các xã hội có tư tưởng hẹp hòi như Saudi Arabia như thể để chứng minh rẳng Hồi giáo và nền dân chủ không thể hoà giải được với nhau hoàn toàn không khuyến khích được những người đang cố gắng xây dựng nền dân chủ thế tục ở các đất nước Hồi giáo. Tương tự, sự thù địch ngoài mặt đối với Mỹ, như trường hợp của Thổ Nhĩ Kỳ, đã tạo điều kiện để những người quản lý đất nước lãng phí tiền bạc họ nhận được từ các tổ chức tài chính thế giới qua việc tham ô và do thiếu trình độ quản lý, cũng như giúp cho họ có thể che giấu được khoảng cách phân hóa giàu – nghèo mà ở Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay đã vượt quá ngưỡng có thể chấp nhận được.

Ngày nay, ở Mỹ có những người ủng hộ vô điều kiện đối với những đòn tấn công quân sự nhằm mục đích phô diễn sức mạnh quân sự của Mỹ và để “dạy cho bọn khủng bố” một bài học. Trên ti vi, một số người hào hứng bàn xem Mỹ nên ném bom xuống địa điểm nào như đang chơi một trò chơi điện tử vậy. Những bình luận viên như thế đáng ra phải thấy những quyết định phát động chiến tranh đó là vội vàng, bốc đồng, không được cân nhắc kỹ lưỡng và do đó, chỉ khoét sâu thêm sự thù địch đối với phương Tây của hàng triệu người ở những nước Hồi giáo và những khu vực đói nghèo trên thế giới – những người mà hoàn cảnh sống hiện thời khiến họ có cảm giác tủi nhục hoặc mang mặc cảm là những thân phận thấp kém. Không phải Hồi giáo, thậm chí cũng không phải chính sự đói nghèo đã sinh ra sự ủng hộ trực tiếp đối với những kẻ khủng bố mà sự dã man và tinh vi của chúng chưa có tiền lệ trong lịch sử nhân loại.

Chưa bao giờ trong lịch sử, hố ngăn cách giữa người giàu – người nghèo lại rộng như bây giờ. Người ta có thể bảo rằng sự vương giả của những đất nước giàu có là thành tựu của chính những đất nước ấy, nó chẳng tác động gì đến những mối bận tâm của các nước nghèo trên thế giới; nhưng chưa bao giờ trong lịch sử, cuộc sống của những kẻ giàu có lại gây chú ý mạnh mẽ như thế đối với những kẻ nghèo qua truyền hình và phim ảnh Hollywood. Cũng có thể nói rằng cuộc sống của các đế vương là trò giải trí của những kẻ nghèo. Nhưng vấn đề còn tồi tệ hơn thế nhiều, chưa bao giờ trong lịch sử, sự giàu sang và quyền lực của những đất nước vương giả ấy lại là sự đúng đắn hiển nhiên, là sự “hợp lý” đến như vậy.

Ngày nay, một thường dân ở một đất nước Hồi giáo nghèo, không dân chủ, một công chức ở một đất nước thuộc thế giới thứ ba hay ở các nước xã hội chủ nghĩa trước kia nhận ra rằng đóng góp của mình vào lượng của cải vật chất của thế giới này – cái mà anh ta phải chật vật hằng ngày để làm ra – chỉ chiếm một phần hết sức ít ỏi; anh ta hiểu rằng điều kiện sống của mình khắc nghiệt, gây tổn thọ hơn nhiều so với “bọn Tây”, có nghĩa là, anh ta bị kết án phải sống một cuộc đời ngắn ngủi hơn nhiều. Tuy nhiên, cùng lúc ấy, anh ta mơ hồ cảm thấy sự khốn khổ một phần lớn bắt nguồn từ chính sự dốt nát và thiếu thốn của bản thân hay của cha ông mình. Thế giới phương Tây dường như không biết gì về sự thống ngự của cảm giác tủi nhục mà một bộ phận lớn của dân chúng trên thế giới đã trải nghiệm ấy; đó là cảm giác mà người ta phải tìm cách vượt thoát mà không được để đánh mất lương năng của mình, không bị lôi cuốn bởi chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩa dân tộc cực đoan hay chủ nghĩa chính thống trong tôn giáo. Đó là phạm vi kín đáo phức tạp và kiên cố mà cả những tiểu thuyết hiện thực thần kỳ vốn phú cho sự nghèo khó và sự ngu ngốc một vẻ duyên dáng lẫn một thứ chủ nghĩa “ham của lạ” (exoticism) ở các tiểu thuyết phiêu lưu đều không muốn thăm dò, khám phá. Chính vì sống trong phạm vi kín đáo như thế mà phần lớn dân chúng trên thế giới hiện nay phải chịu đựng một nỗi thống khổ tinh thần. Vấn đề mà phương Tây phải đối mặt không phải chỉ là việc phát hiện xem bọn khủng bố đang chuẩn bị cho một vụ đánh bom tại một lều trại nào, trong một hang động nào, ở ngõ phố hay tỉnh thành nào mà còn là việc làm thế nào để hiểu được phần đông nhân loại – những người khốn khổ, bị coi thường, “đầy sai lầm” không thuộc về thế giới phương Tây.

Nhưng những lời kêu gọi chiến tranh, những diễn văn sặc khẩu khí của chủ nghĩa dân tộc, những hành động quân sự mạnh tay lại đang đi theo một con đường ngược lại. Thay vì tăng thêm sự thấu hiểu thì nhiều hành động, chủ trương và chính sách hiện nay của phương Tây đang nhanh chóng đẩy thế giới đi chệch xa hơn khỏi quỹ đạo hoà bình. Có thể kể ra một vài biểu hiện trong số đó như quy định mới về việc hạn chế visa đối với khách du lịch đến từ các khu vực ngoài liên minh châu Âu mà một số nước Tây Âu đã áp đặt; xiết chặt các biện pháp luật pháp để khống chế phong trào của những người Hồi giáo và người dân từ các nước nghèo; tình nghi Hồi giáo và tất cả những gì không phải Tây phương, dùng những lời lẽ thô thiển và quá khích đồng nhất toàn bộ nền văn minh Hồi giáo với chủ nghĩa khủng bố và sự cuồng tín. Điều gì đã khiến một ông lão khốn khó ở Istanbul trong khoảnh khắc giận dữ đã không xem cơn kinh hoàng chấn động New York là một tội ác? Điều gì đã khiến một cậu thiếu niên Palestine bi phẫn trước sự đàn áp của Israel nên chuyển sang ngưỡng mộ Taliban, những kẻ đã tạt axit vào mặt phụ nữ chỉ vì họ đã để lộ khuôn mặt mình? Không phải là vì Hồi giáo, cũng không phải là cái đã được mô tả một cách ngu xuẩn là sự đụng độ giữa phương Đông và phương Tây hay là vì cái đói, cái nghèo đã khiến họ có phản ứng như vậy. Mà đó chính là cảm giác bất lực của con người bắt nguồn từ chỗ thân phận họ bị hạ thấp, họ không được thấu hiểu, không biết làm thế nào để người ta nghe thấy tiếng nói của mình.

Những người thuộc tầng lớp thượng lưu, tân tiến thiết lập nên nước cộng hoà Thổ Nhĩ Kỳ này đã xử sự trước những phản kháng của những người nghèo và những khu vực còn lạc hậu của đất nước không phải bằng những nỗ lực để thấu hiểu dân mà bằng những biện pháp luật pháp, cấm đoán những hành vi cá nhân hay dùng quân đội để đàn áp. Rốt cục là những cố gắng hiện đại hoá chỉ đạt được nửa vời và một nền dân chủ của Thổ Nhĩ Kỳ chỉ là một nền dân chủ hạn chế trong đó, người ta hầu như chỉ thấy một tinh thần thiếu khoan dung. Giờ đây, khi nghe người ta hô hào một cuốn chiến tranh giữa phương Đông và phương Tây, tôi lại e sợ rằng phần lớn thế giới này sẽ trở nên giống như Thổ Nhĩ Kỹ, nơi mà tình trạng thiết quân luật đã tồn tại dai dẳng. Tôi sợ rằng chủ nghĩa dân tộc tự thoả mãn, tự cho mình là đúng đắn của phương Tây sẽ dồn phần còn lại của thế giới đến một cuộc đấu tranh ngoan cố như thể buộc phải chứng minh rằng hai cộng hai là năm vậy, giống như nhân vật người dưới hầm của Dostoevsky đã phản ứng chống lại tính “hợp lý” của thế giới phương Tây. Không gì có thể châm mồi lửa hỗ trợ những kẻ Hồi giáo cực đoan tạt axit vào mặt phụ nữ cho bằng sự bất lực của phương Tây trong việc thấu hiểu những người dưới đáy của thế giới này.

Hải Ngọc dịch từ bản dịch Anh văn “The Anger of the Damned” của Mary Isin.

Nguồn: http://www.nybooks.com/articles/14763

 


Orhan Pamuk

Đôi dòng về tác giả:

Orhan Pamuk was born in Istanbul in 1952. He attended the architecture program at the Istanbul Technical University and then studied journalism at Istanbul University. He started to write regularly in 1974. Five of his books have been published into English: Beyaz Kale (The White Castle, 1991), Kara Kitap (The Black Book, 1995), Yeni Hayat (New Life, 1997), My Name Is Red (2001) and Snow (2004). His work has been translated into more than twenty languages. He lives in Istanbul….

bài đã đăng của Orhan Pamuk


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)