- Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới - https://damau.org -

Bốn năm sau – Phần III

 

 

tiếp theo [phần I] [phần II]

 

 

17.

Và lại rơi đánh phịch vào trong cái ồn ã chứa đầy sức sống tôi chưa cảm hết của những dãy phố mới thành hình. Trên cao biểu ngữ đỏ rực, dưới thấp biển báo mời chào đủ mọi màu sắc. Vt nướng đi em bên cạnh lời mời Tm thuc bc .Khoan ct bê tông nằm sát Dch v sn xut thương binh nng. Sát bên hàng Bánh t quê hương nhân tht lc là tiệm Thi trang tóc Gi chăn ga Hàn Quc. Hà Nội có khác chăng chỉ còn là mấy nhà hàng nhớn nhằm vào đám khách ngoại quốc hay đôi ba người có tiền chê nước dùng (miền Nam miền Trung gọi là nước lèo đây), nóng chảy mỡ nhưng ưa mì ống Ý ăn giữa không gian máy lạnh. Hàng ăn mở thẳng ra đường, hàng ở, tỉ như hàng tắm thuốc bắc kia thì cửa kính mờ đóng kín đáo. Những quán bia c người ngồi ràn rạt làm thằng con tôi kinh ngạc kề sát bên phòng khám hay hiệu thuốc. Nếu cứ nhòm vào các nhà hàng kiểu này thì thấy dân mình sướng kinh khủng, chỉ thấy ăn và uống, sự ăn uống đã trở thành cả một công nghệ cực kì phát triển. Nhưng cậu lái xe thì khuyến cáo tôi hãy gắng nhìn qua những khe kẽ ở mặt phố ra phía sau. Phía sau, giữa Hà Nội, là những ngõ hẹp chi chít nhà và người, ở ngoại thành mới mở, là cánh đồng ruộng nước phấp phới bù nhìn, hàng rào nilon ngăn chuột và đôi ba bóng người lủi thủi dưới nắng. Từ trên xe nhìn ra, không còn nữa cánh đồng Phùng vừa được cày ải và tháo nước, con cua càng khó nhọc bò trên luống cày, nơi tôi đau đáu nhớ một Hà Nội vừa rời buổi sáng, chờ chuyến xe xuôi cùng bao nhiêu người đàn bà tần tảo với bịch xô màn nhà dệt, với khối mật mía nặng như bộc phá, với thịt chó, bu gà, dưa lê, thúng bún, thúng nem chua. Rất nhiều người trong số đó là học trò cũ của trường tôi, gặp nhau miệng chào tay dúi thẳng hàng hoá vào lòng cô hi vọng qua mắt phòng thuế để yên lành tới được chợ Hàng Bè, Hàng Da, chợ Âm Phủ, chợ Hôm và bao nhiêu chợ cóc mới thành. Họ giờ cũng tuổi bốn mươi rồi, không biết đã thôi lam lũ, không biết có ra được mặt phố làm bà chủ nhỏ hay hết ruộng rồi vẫn phải lần hồi kiếm ăn quanh nuôi chồng con?

Giữa rừng người bịt mặt phóng xe máy nháo nhào kiếm sống, giữa cánh đồng còn chưa bị những dự án quy hoạch ma thôn tính toàn phần từng lúc lại hiện ra một khoảng xanh mênh mang cây lá, một biệt thự như được khuân  thẳng từ một góc phố châu Âu nào đặt giữa một vườn hoa cũng hệt ở châu Âu, con đường vào uốn lượn có rất nhiều cổ thụ bứng nguyên cây từ trên rừng về trồng lại trên đất ruộng nghiêng mình trầm tư. Đấy là trang trại, là nhà của các đại gia. Không thể hình dung nổi mức độ giàu có của lớp người mới này, nhưng có thể tận mắt thấy cực kia của đời sống. Thế mà một đại gia bạn tôi còn chép miệng bn mình mi ch coi là trung nông.Phú nông đa ch tht ra là viên chc nhà nước. Có điu h chưa xây nhà, chưa ăn chưa chơi như bn mình khi chưa đến thi h cánh.

Bạn tôi không có lí do gì để đùa cợt trên sự thiếu hiểu biết của tôi. Chỉ mới hôm kia thôi, trên đường sang làng gốm Bát Tràng, dừng chân thăm một nghệ sĩ về sống ở Văn Giang, nơi có công trình Bắc Hưng Hải nức danh miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa khi xưa, tôi đã thấy đằng sau nhà của chủ nhân một khu đất mênh mông đã giải toả xong xuôi. Năm trăm héc ta – ông chủ khàn giọng kể – người ta đn bù cho dân 19 triu mt héc ta, và bây gi rao bán 6 triu mt mét trên ti vi, nhưng thc phi tr 15 triu mt mét. Không biết chúng nó chy ca nào đ đui được dân đi như thế này. Bao nhiêu nước mt. C máu…

Và đất nước từng ngày thay đổi theo hướng đô thị hoá, hay nói đúng hơn là tỉnh hóa. Và khoảng cách sướng khổ giữa con người từng ngày giãn dần ra. Chúng ta hay nói về khoảng cách giàu và nghèo, tôi nghĩ ở đâu chẳng vậy. Hãy nói về khoảng cách sướng khổ. Tương quan tinh thần này có gốc rễ từ tương quan vật chất, đã đành, nhưng nó soi rọi cho người ta thấy rất nhiều điều khác.

Và khi đó, sẽ không thể yên lòng khi nhìn mông thôn nữ mẩy căng sau lớp quần Jean thường là hàng Trung Quốc, vai trần thôn nữ phơi qua cổ áo cắt theo kiểu Hàn Quốc, chân thôn nữ ngả nghiêng trên đôi giày cao gót rất đỗi Hà Nội phố. Cũng không phải là bằng chứng của sự đồng đẳng về chất lượng sống, khi thanh niên làng hát karaoke, bà lão mặc quần hoa ra ngõ hóng gió, và các cô các chị trong làng giờ bữa cơm chiều sai con vác bát đi mua dưa cà tương mắm như ở một góc đường phố nào giữa Hà Nội, Sài Gòn.

Sẽ, bất an, khi từ nghĩa trang Yên Kì xuôi về Hà Nội chỉ một quãng đường đã thấy một cái cổng cao vòi vọi trên có tấm biển rất hoành “Công viên Vĩnh Hng”. Thoáng nhìn, tôi tưởng đó là một công trình văn hóa nào của địa phương và bật cười vì chuyện nghĩa trang dành cho người chết kề bên công viên chơi nhởi dành cho người sống. Chứ sao, chẳng phải là một ý tưởng tuyệt vời ư, khi để sinh kề bên tử.

Nhưng không phải, công viên Vĩnh Hằng là một nghĩa trang tư bên nghĩa trang công. Ở đó, các đại gia mua đất xây mộ phần cho người thân, cũng là chuẩn bị sẵn sinh từ kiểu mới cho mình. Nghe nói kiến trúc của các ngôi mộ ở trong đó đẹp lắm, chí ít vì có không gian. Có ngôi mộ ngự hẳn trên diện tích 400 mét vuông. Bao nhiêu tiền của nhỉ? Khi viết Đt đá ong chan ngàn ngn l, Quang Dũng làm sao hình dung được quê mình có những địa danh mới tinh như thế này.

Những người dân thường chắc chắn không thể nào hình dung nổi công sá cả tháng trời vất vả của họ chỉ bằng tiền một bữa ăn sáng bình thường của một số không ít người giàu mới nổi, và nhiều lần công sá như thế cũng không thể nào mua lại được một mảnh đất tương tự để cả gia đình nằm khi sống. Cậu cháu tuần trước đưa tôi về Hưng Yên khẳng định điều tôi từng nghe qua mấy ông bạn nhà báo, rằng tiền cắt xén từ các dự án lên tới 70%. Mà đó là tiền nhà nước đi vay. Ai đó ngồi lo thế hệ sau còng lưng trả nợ, chứ cậu ta thì không: Nước nào chng phi đóng thuế, kh cũng chng đến lượt bn nhóc như thng cu nhà cháu, ngay c khi cháu không h cánh an toàn. Ch kh my ông cn vào tay thôi.

Ai? Mấy ông cn vào tay là nông dân tay làm hàm nhai, ráo mồ hôi là nước bọt cũng phải ráo.

 

18.

Có của ăn của để nên có cửa cho đời sống tâm linh phát triển chăng? Tôi luôn nghi ngờ điều đó. Cái nhu cầu được qùy xuống, hướng lên một nơi chốn cao xa và thiêng liêng chỉ nảy sinh khi cái thường sống không đủ sức làm cho con người cảm thấy bình an.

Tuy nhiên, việc ở đâu cũng trùng hưng, xây mới những đền chùa phế phủ rõ ràng cũng phải bắt đầu từ sự có. Chính điều này làm cho người chỉ thích lai vãng chốn thiền đường thiên đường như tôi ngần ngại. Tôi không thích tới một cảnh chùa rỡ ràng, cái gì cũng mới tinh tươm, rằm mồng một xe lớn xe bé người béo người gầy chen vai trước chính điện miệng thoăn thoắt khấn khứa thề nguyền. Chắc thiêng người ta mới rủ nhau tìm tới nhiều như vậy. Nhưng mà tôi thì, chẳng biết vì đâu, chỉ ưa chốn vắng. Chùa chiền với tôi phải có hồn sương nắng, trên mái tam quan, dưới nền đất nện, với ngói nâu già rêu ẩm, với hoa sói hoa ngâu, vại nước, cong tương…

Nên, khỏi phải nói cảm xúc của tôi khi cậu lái xe cho dừng chân trước chùa Mía. Đến cái thằng con mới lần đầu biết thế nào là Việt Nam quê hương mình cũng trầm trồ chùa này đp quá. Nằm giữa làng Đường Lâm nổi tiếng vì còn lưu giữ được nhiều nhà cổ, chùa Mía, giống như làng, cũng đón rất nhiều du khách tới tham quan.

Khác ở phủ Tây Hồ, xe vào chùa Mía chỉ phải mua vé một lần, tuy nhiên đỗ xe trước cửa chùa mới dăm ba phút đã lại có người ra bán vé. Dù sao cũng tiến bộ hơn ở phủ Tây Hồ, ai đời vừa mua vé vào phủ, xe đi chưa đầy hai mươi mét lại có một cánh tay đàn ông lực lưỡng chắn ngang đường bán vé mới cho đoạn đường kế tiếp, và lái xe mới chỉ định quay đầu xe trước cửa phủ đã lại có người ra hạch “lm tin nh, mua vé đ xe chưa”. Suốt con đường vào phủ là vô thiên lủng hàng ăn uống, tuyệt không có lấy một hàng ăn chay. Hai mươi năm trước tôi đến đây, đường vào phủ còn là bờ ruộng, những hàng bún ốc Tây hồ còn ngự trên những sạp nứa lao ra mặt nước ven đường. Bây giờ, tất cả đã là mặt … đất, ngốt mắt vì biệt thự đời mới. Chp tay ly thánh nhân… Cứ nhìn cảnh này là tôi lại muốn bắt chước ca sĩ Lê Dung vặn vẹo đôi tay lạy thánh, nhân thể kêu trời. Chùa Mía, may sao, không có những dịch vụ khủng bố tâm linh vòng ngoài như thế.

Và, nếu như Đường Lâm nói là cổ nhưng có vẻ phần kim đã lấn, với đường làng đã bê tông hóa, đến nỗi cây đa cổ thụ đầu làng năm ngoái tí nữa là tắc tử vì không còn đất cho rễ thở, với vô số nhà hai ba tầng, và những gia đình còn đang làm chủ các ngôi nhà cổ thì thở dài vì không có tiền bảo tồn di sản cha ông để lại, không biết ngày nào phải phá nhà cổ xây nhà kim tránh cảnh dột nát, chùa Mía khác hẳn, vẫn nguyên vẹn vẻ thâm trầm của một nơi chốn cho con người tìm về, thanh lọc lại bản nguyên.

Ban trưa, mái chùa như thấp xuống trong tiếng ve ran, những bức tượng Phật mang gương mặt người thản nhiên trước thế sự nhìn ra nắng. Sân chùa nắng rọi qua giàn mướp, từng chỗ, sắc nâu bền bỉ chịu đựng của gạch nung già lại lung linh màu gió. Một dãy chậu cảnh be bé xinh xinh đặt rải dọc lối đi vào chính điện. Mươi chum tương màu sành sáng hiền hậu phả ra mùi đậu tương lên mốc, ai không quen thì phải nhìn trước nhìn sau hỏi nhau mùi gì. Còn tôi… Những ban trưa như thế này đây, màu nắng sáng lên nhờ vòm lá, mùi sân đất ẩm, cơn gió mệt mỏi nhoài qua… Vườn chùa xanh um, chỉ còn thiếu một bầu trời xanh và cao, một tiếng gà dáo dác, một mái hầm chữ A luôn phả ra mùi đất ẩm, và tiếng máy bay Mỹ tăng tốc làm tim đập thình thình… là đủ để trở lại một tuổi thơ nặng nhọc. Ám ảnh thời thơ nhỏ hay vẫn là ám ảnh của một cuộc chiến tranh trên mỗi số phận người Việt Nam mình?

Rời chùa ra với đầm sen bên kia đường, tấm tắc với nhau ít làng quê Việt Nam nào sạch và đẹp đến vậy, văn minh đến vậy, vì có cả ghế đá đặt trên đường làng bên cạnh đầm sen mời dừng chân ngơi nghỉ, mà không hiểu sao lòng vẫn tiếc. Giá thay vì con đường làng đổ bê tông vô duyên dù sạch tinh  này là con đường trải đá xanh như đường làng Đông Ngạc, giá đằng sau những bức tường kia là một mái ngói thâm nâu, là cửa bức bàn, cột gỗ lim, sân gạch, chứ không phải nhà ba bốn tầng rỉ rả tiếng nhạc não tình rão cả trưa hè, giá hàng bánh tẻ rất Sơn Tây kia có thêm dăm ba mái quán thay vì hàng ăn kiểu thị xã, và giá bớt đi dăm ba biểu ngữ cái gì làng văn hóa gia đình văn hóa chăng ngang đường… Giá ni cô trong chùa không hỏi tôi có cần biên lai ghi nhận đã đóng bao nhiêu tiền công đức…

Giá… Xin Phật độ trì cho lòng tham đỡ làm khổ con hơn.

 

19.

Tham gì cũng khổ. Kể cả tham cái vô thưởng vô phạt nhất là tham biết. Nhưng ngẫm kĩ, thấy chính cái lòng tham riêng tư kia làm nên ý nghĩa đời sống của từng người.

Thế cho nên tôi khoái vô cùng khi biết được một phần nội hàm của khái niệm làng văn hóa. Lm thng nghin chết thì thành làng văn hóa ch sao na. Nghe rồi nghĩ một hồi mới thấm nốt phần sau của lời chỉ bảo từ một ông cán bộ phường. Cứ tưởng con nghiện chết nhiều thì làng trong sạch lại nhờ thống kê mới, mà không. Lắm người nghiện chết thì xã phường phải vẽ mặt, chạy cho được cái tiêu chuẩn làng văn hóa, đơn vị dân cư văn hóa và vân vân…, chứ cóc cần làng nằm trên địa bàn văn hóa lịch sử gì hay có di tích lịch sử văn hóa gì.

Tường minh rồi lại đâm ngờ vực. Khi đi về đâu cũng thấy biển báo chào mừng làng văn hóa, đơn vị văn hóa. Phòng văn hóa phường nơi tôi về ở tạm trong kì nghỉ cũng được trao tặng danh hiệu đơn vị văn hóa. Thế nên… thôi! Cứ để mắt và tai no nê với những tên đất tên người đã quen lắm bao nhiêu ngày tháng cũ trên từng trang sách. Thế mới gọi là chơi.

À mà tôi chưa kể là tôi đi Cửa Lò đây.

Mất tới hai tiếng mới ra khỏi Hà Nội nghẹt cứng người và xe. Vừa tới được cái chỗ thênh thang năm xưa Quang Trung đánh trận Ngọc Hồi thì qu chui vàng – là cảnh sát giao thông với phục trang mới – xuất hiện cứ y như mọc thẳng trên đường. Nhìn qua chỗ lố nhố xe đạp bán hàng rong, mới phát hiện ra có cái ô vàng đặc hiệu của cảnh sát cắm bên cạnh một cái xe van mà mới đây tôi biết là để chở hàng hóa hay xe cộ bị tịch thu.Với tuổi tôi thì màu quần sắc áo vàng vàng này thật ra cực kì quen thuộc, từ hồi còn bé tí, nhưng nó đã bị thay thế từ lâu lắm rồi, bây giờ mới được phục hồi. Nhìn thấy cảnh sát chặn đường, mặt chú lái trẻ tái dại. Lại mất thêm gần một tiếng dừng xe chú mới lầm lầm trở lại, ngủng ngẳng quăng ra mấy câu than thở về nỗi vừa bị phạt vì tội đi sai làn. Tội quá thật, xe mười hai chỗ ngồi, đường có độc hai làn, không đi sang làn trái thì chẳng lẽ cứ chạy sau ngửi khói cái xe buýt hồng hộc bò phía trước. Mà tội nhất là quy định giao thông mới về làn đường này chú lái xe không hề biết. Hỏi tại sao? Thì có ai ph biến đâu . C b pht thì biết thế thôi. Xe mình không may. Cháu hi mãi nên mi phi làm biên bn lâu. Ch cái xe buýt chy trước kia kìa, cô thy không, tuýt còi mt cái là được đi ngay. Nó là xe chuyên tuyến, chuyn làm lut là dĩ nhiên, dng xe đưa tin là phn tiếp.

Hiểu rồi. Vào được ngành công an đã khó, mà ra đứng đường còn khó hơn. Trước cứ nghĩ công an khổ nhất là cái anh đứng đường, mặt mũi lúc nào cũng đen sạm, khó đăm đăm. Nhưng hóa ra đó là cái chỗ dễ ăn nhất, để được ăn phải tốn vô khối tiền. Về Việt Nam, nghe chuyện đút lót, thấy ai cũng toàn tư duy trên đô la euro cả, mà toàn từ vài ba chục ngàn. Trong khi đồng lương chính thức thì chỉ một hai trăm đô la một tháng cho công chức già đầu. Và, trong khi dân thường ở vùng sâu vùng xa thì tiền triệu Việt hàng năm cũng khó để dành ra nổi. Cái phi lí này, mấy thi nhân triết gia nổi tiếng thế giới có sống lại mò qua Việt Nam cũng không hòng cắt nghĩa nổi để bảo rằng cây đi mãi mãi xanh tươi.

Xe đi qua các thị trấn, thành phố, qua những đất và người. Phủ Lí… Hoa Lư… Bích Động… Đâu đâu quê hương chúng ta cũng hệt như một công trường lớn và tôi tự hỏi giá như điều này diễn ra ngay sau chiến tranh… Thì có lẽ đất nước không phải nói mãi về thời hậu chiến!

Song song với dự án đường mòn Hồ Chí Minh, đường quốc lộ số 1 được mở rộng. Tôi chưa đi con đường mới, nhưng con đường cũ giờ rộng thêm rất nhiều vẫn cứ thường xuyên ùn tắc. Mặt đường mở tới đâu là hai bên lập tức mọc lên phố mới. Trông xa cũng sầm uất. Nhìn gần thì tiếc. Vì không có một chút bản sắc. Hay nếu coi phô phang và a dua cũng là một thuộc tính của sự vật thì đó chính là bản sắc của các thành phố, thị xã trên đất nước mình. „C nước đng lên hướng v Hà Ni…“ Ngày bé tí đi sơ tán tôi cùng bọn trẻ nhà quê vỗ tay đồng ca. Bây giờ, câu hát lại trở về trong trí nhớ xuống cấp của tôi, khi từ cửa xe nhìn ra, thấy tất cả vẫn hệt như một khoảng phố vừa rời buổi sáng. Một đôi chân phồn thịnh song song thò ra qua mép váy ngắn. Một mái tóc suông đỏ đỏ nâu nâu. Những chiếc khẩu trang vừa chống bụi vừa chống dịch cúm lợn to như cái tã trẻ con che kín mặt người đi. Đôi quang gánh nhẫn nại giành giật từng mẩu đường với dòng xe máy đang trôi. Khắp nơi, khẩu hiệu chào mừng quyết tâm, đã hẳn. Nhưng biển báo quảng cáo cũng giống hệt nhau, lộn xộn về kích cỡ, màu sắc, đáng ngờ về nội dung. Một chiếc xe buýt hung hãn tìm cách vượt lên, chìa ra cái đít đỏ chói dòng chữ: Xe cht lượng cao loi 1. Đã chất lượng lại còn chất lượng cao, lại còn chất lượng cao loại 1. Ơ hơ! Thằng bé con con gọi tôi bằng bà trẻ nhìn theo cái đít xe đỏ đỏ đang phì khói đen dịch cho ông chú họ cùng tuổi lần đầu quy cố hương: CLC là cht lượng cao, chết là chc, chc là chết đy chú .

 

20.

Ở Việt Nam đi đâu cũng thấy đủ thứ CLC. Sữa cho trẻ em thì có thứ phát triển trí thông minh. Chậu để giặt hay ngâm gì đó, nghe trong quảng cáo từ ra dio cũng chất lượng cao (không phi  cái anh mua ln trước đâu em), trường học cũng có trường chất lượng cao, thằng cháu tôi đang ở Úc cũng từng học qua đại học trong nước ở cái lớp gì có tên là cử nhân tài năng chất lượng cao.  Ngôn ngữ Việt đời mới có nhiều sắc thái bổ sung khó phân tích nổi. Lạy Trời lạy Phật thôi nhân thể lạy cả bác, biết tin vào đâu bây giờ.

Thằng con chết khiếp vì chuyến đi ra biển. Đường quốc lộ chỗ nào cũng nghẹt cứng người xe. Hai làn đường, nhưng không ít lần xe tôi đấu đầu với những hai ô tô và rất nhiều xe máy xe đạp. May mà chạy tốc độ cực thấp. Và cũng nhờ thế mà tha hồ ngắm cảnh. Phố Cà. Gia Viễn. Sông Trà Lý. Cầu Gián Khẩu. Tam Điệp. La Vân. Đền Sòng. Sông Hạc. Đò Lèn. La Man. Cầu Bố. Sông Mã… Những cái tên thân quá. Nhưng quá nửa đời người, về đâu cũng thấy mình lạ hoắc lạ huơ. Đâu cũng như quê. Đâu cũng như thành phố. Biệt thự xây giữa hai thửa ruộng nước là nét mới của rất nhiều thị xã. Những mái ngói chờ đảo lại nhô lên tủn hoẳn sau bức tường vây bằng gạch vỡ một thời vốn rất quen mắt khi xe ra khỏi Hà Nội, nay đã là của hiếm không qúy. Nhà làm trước đường mở sau. Quán chữa xe máy xe đạp khép nép bên tiệm ăn tiệm chơi, đây Dê Núi, kia Cơm Cháy, Gà Cắp Nách. Có chỗ chủ còn tự phong cho cái quán nhỏ của mình là Nhà Hàng Năm Sao. Vùng nào cũng có chỗ mời nhau ăn thân mật. Còn tắm thân mật thì sẵn những nhà tắm thuốc bắc, tiệm mát gần mát xa. Nhìn qua kính xe, thấy nhô nhốp người đang hì hục đẩy nhau qua những cung đường khó vượt. Chàng trai với chiếc xe máy chất ngất lốp ô tô hỏng. Cô gái kềnh càng hai sọt hàng không biết hàng gì. Bầy trẻ áo trắng quần xanh đồng phục đua xe đạp trên đường, tay còn khua cái chổi. Không biết bây giờ chúng nó có phải lo sơn bảng trước ngày khai giảng không nhỉ? Và có biết sơn bảng bằng lá khoai nước như thời chúng tôi đi sơ tán hay không? Có biết những trò ma mãnh của học trò thời chúng tôi không? Tức thầy cô nào thì mùa này đây, khi thị đã vàng, thơm ngọt, rứt dăm ba túm lá thị xát dưới ghế thầy cô ngồi, đảm bảo thầy nào cô nào cũng phải đứng lên ra khỏi chỗ và giờ đó học trò tha hồ phá. Thằng con thấy mẹ tủm tỉm cứ ra sức kéo tay đòi công bố ý nghĩ trong đầu. Giá nó biết mẹ nó thời đi học sức thì yếu nhưng đến lớp buổi nào là nghịch khoẻ bọn con trai phải nể, e tôi không còn hi vọng làm tấm gương sáng để con soi và e thằng ranh thêm đồng cảm với ông bố trót dại dột thời tuổi trẻ mà cưới mẹ.

Lại quán xá, lại nhà đang xây đường đang mở, quảng cáo chềnh ềnh giữa trời, và khẩu hiệu. Việt Nam vốn nhiều khẩu hiệu, biểu ngữ. Ấn tượng nhất với tôi phải kể tới hai biểu ngữ này: Rèn luyn sc kho theo gương Bác H vĩ điĐng b nhân dân quê hương bác Tôn quyết tâm đi theo con đường bác H đã chn. Khẩu hiệu đầu chính mắt tôi nhìn thấy, khẩu hiệu sau thì chính tai nghe. Cái bình thường này ở đất nước mình đến bao giờ thành được cái bất bình thường trong mắt dân mình nhỉ?

May mà còn có thiên nhiên.

Ngoài kia, Bích Động, Hoa Lư, núi chồm dậy giữa cánh đồng, giữa lòng phố huyện, núi chen với nhà, tưởng giơ tay ra là sờ được chân núi. Anh hùng xưa nh hi là hi niên thiếu, dy binh ly lau làm c Có vẻ như không có vùng đất phát tích của ông vua Việt nào hữu tình như đất phát của nhà Đinh. Bái Tử Long trên cạn của Việt Nam đây. Là mơ ước được tới được thấy của học sinh Hà Nội mấy mươi năm trước, cũng là nỗi kinh hoàng của tôi thời đi dạy. Bởi vì ngày ấy đi lại nhọc nhằn, bởi vì tôi ốm và tôi nhát. Ốm phải nằm nhà nhưng học trò lên cơn mê đi cũng đành khuân mình theo, không dám nhờ ai quản. Chỉ sợ nhỡ ra… Thà mình cùng chết. Thành ra, phải tới bây giờ, thành nhà giáo mất dạy rồi tôi mới cảm được hết cái hữu tình này.

Ngoài kia, Cầu Ghép, Đò Lèn, Cầu Bố… Núi thấp, trập trùng xanh, thân gần. Hoa phượng nơi này vẫn đỏ, dẫu sang thu rồi. Con chó vàng nhà ai lừ đừ ra khỏi giọt hiên, nằm xuống sát đường tàu hỉnh mũi ngửi nắng. Cầu Hàm Rồng xa xa, cũ kĩ theo năm tháng, nhưng nguyên vẹn vẻ hào hùng và cả u uất nữa trong trí những người đã đi qua bão giông một thời nửa nước nơi này. Ri rác biên cương m vin x – Chiến trường đi chng tiếc đi xanh – Áo bào thay chiếu anh v đt – Sông Mã gm lên khúc đc hành  của Quang Dũng thì người nơi ấy nơi này biết cả. Nhưng Hò h lên… Cho thuyn vƠi, câu hò sông Mã…  qua giọng hát cao và căng của Trung Kiên thời chống Mỹ, tôi tin mãi mãi chỉ đi về được trong tâm cảm thế hệ chúng tôi trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa mà thôi. Đất nước mình nó vậy. Có chung nhau chăng chỉ mãi mãi là những nỗi đau không dễ hiểu cho nhau.

 

21.

Tới đất Nghệ An thì trừ cậu lái và tôi, tất cả đã y như đại biểu quốc hội khi biểu quyết. Gật. Nên không ai thấy con đường ra Cửa Lò đẹp như thế nào. Nó làm tôi ngạc nhiên. Hai bên đường vẫn là ruộng lúa. Chưa thấy nhà cửa chòi ra tựa gần như bất cứ một khúc đường nào mới mở. Một nhà thờ đang xây dở theo kiến trúc nhà thờ cổ ở châu Âu, nhìn giàn dáo từ xa đã thấy cực lớn nằm bên phải đường cũng cho tôi một ngạc nhiên thú vị. Gió mang vị muối thổi lại từ phía biển át hơi nước trên đồng.

Cửa Lò làm tôi kinh ngạc từ đường vào. Tới sát lại càng kinh ngạc. Con đường chạy sát bãi được đặt tên Bình Minh, không phải là tên một đồng chí cán bộ lãnh đạo đảng nhà nước nào đã đang sống chuyển sang từ trần. Mà đất Nghệ An thường thôi quê Bác này nhiều cán bộ Cách mạng nổi lên từ thời bóng tối lắm đấy nhé.

Con đường tên thì thơ, nhưng thật ra lại làm cho bãi biển hẹp lại. Phí. Càng phí mất cái bao la khi thị xã cho xây cả một quảng trường có cái cổng chào hình vòng cung chắn ngay tầm mắt nhìn ra biển. Họa chăng có dân bản địa lấy đó làm mừng. Thì đấy, ra đó mà đấu thầu mở quán. Đủ thứ quán, ăn, uống, bán hàng lưu niệm, karaoke. Ngày hai buổi, đài truyền thanh thị xã bắt du khách nghe toàn trông cây li nh ti Người, gia Mc Tư Khoa nghe câu hò ví dm với gin thì gin mà thương thì thương. Còn từ chập tối thì các quán karaoke ngoài bãi lại bắt cả thị xã và du khách nghe tiếp, vẫn ôi câu hò ví dm, cạnh tranh với thành ph bun. Thằng bé nhà tôi sau bữa cơm chiều ngồi tính toán chi tiêu, so sánh tỉ giá tiền Việt với Euro, rồi bắt cả nhà nghe thống kê, tổng kết: “Đi xa vất vả, nhưng nếu ở đây lâu thì chuyến đi cực rẻ. Bố mẹ sẽ được ăn toàn đặc sản. Khi nào lớn con sẽ rủ bạn về Việt Nam du lịch, đi biển luôn cả tháng. Chắc chắn các bạn sẽ thích đồ ăn Việt. Nhưng người ta phải học cách làm du lịch. Con là người Việt con cũng không nghe nổi nhạc như thế này ngày ngày. Bắt khách du lịch nghe nhạc Việt thế này là người ta bỏ đi đấy.”

Nhưng hình như ở Việt Nam người ta không để ý, hay để ý cũng mặc kệ cho sự này diễn ra. Không thế làm sao ăn chia được khi cho dân đấu thầu mở quán. Tôi nhớ hồi ra Cát Bà. Biển. Đảo. Long lanh. Nhưng tàu cập bến thì ngớ người. Ai đời người ta cho xây toàn khách sạn che kín núi. Từ tàu nhìn lên chỉ thấy đôi ba ngọn núi tội nghiệp cố chen vượt lên mái nhà năm bảy tầng. Vào khách sạn mới hay chân núi thành nơi cho người ta nấu bếp và rửa bát. Chán, đi tắm thì phục vụ viên chạy vào gọi giật xin cô vào phòng tắm đừng đóng cửa! Vì sao? Ti vì cô mà khóa thì s không m được ca đ ra đâu .

Người phục vụ khách sạn mà chúng tôi nghỉ không nhiệt tình đến thế. Dáng đi thất thểu, lúc nào cũng như đang giận dỗi điều gì. Cũng dễ hiểu nếu nhìn vào bữa ăn của họ trong tương quan với bữa ăn dành cho du khách. Song những anh xích lô chờ khách trước cửa khách sạn thì cởi mở, vồn vã. Các anh nói giọng Nghệ đã nhẹ rất nhiều. Hỏi, tất cả cười xòa, trở lại giọng địa phương cực nặng: “Phải đi tập huấn tiếng Bắc ở bên du lịch cả tháng mới được chạy xích lô mùa nghỉ mát đấy”. Chở tôi đi chợ cá đêm và chợ cá sáng, anh xích lô giảng giải mua nước mắm thì phải chọn hàng ruồi nhiều. Tại sao? Nước mắm không ruồi thì không phải là nước mắm, nhà làm nước mắm mà sạch sẽ thì đó là nhà dùng hóa chất. Nước mắm làm ra để bán cho người không biết, chứ người làm mắm chê. Aha! Phát kiến mới cho những người nhớ mắm.

Chưa tới 15 triệu tiền Việt cho bảy nhân mạng ăn chơi trong gần tuần lễ, quả là cực rẻ. Nhưng, cô giáo trường thị xã chủ cái quán ăn đối diện khách sạn tôi ở cho biết cả vụ nghỉ mát vợ chồng và hai thằng con trai lăn lưng làm từ mờ sáng tới đêm khuya kiếm được chừng 50 triệu. Nhưng, anh nông dân kiêm đạp xích lô chở tôi đi chợ sáng mua cá thu tươi đem nướng mang ra Hà Nội làm quà tần ngần xin cái đầu cá mang về cho vợ nấu canh bữa trưa. Ừ phải, nhặt nhạnh từng đồng thế này làm sao mua nổi con cá đắt bằng công sá cả tháng làm ăn. Nhưng, ngay bên bàn tôi đây, có chú bé đêm qua nắm tay bạn chạy vòng quanh đống lửa đốt sát chân sóng hát tiến lên đoàn viên em ước ao bao ngày xng cháu Bác H dng xây nước non này vừa gọi bát mì ăn liền với cá mực. Đã hẳn là một cách ăn của dân xứ biển, có điều chắc chắn là của dân nghèo. Chú bé mồ hôi mồ kê vã đầy mặt, thỏa mãn húp chút nước còn sót lại và cẩn thận đếm tiền trả cô chủ quán. Mười lăm ngàn. Trong khi bữa ăn vừa xong của chúng tôi gần triệu bạc. Bất lực và xót xa khi nghĩ tới chiều nay thôi, sau kì cắm trại, chú bé trở về với nhịp sống thường ngày và bát mì ăn liền rẻ tiền kia có khi thành hồi nhớ cho suốt tuổi thơ.

Lại nhớ một buổi chiều tuần trước, các bác bên đài truyền hình Hà Nội thấy thằng bé nhà tôi nói tiếng Việt lau láu, nổi hứng phỏng vấn cháu. Trước ống kính camera và trước câu hỏi nghĩ gì về Hà Nội, về con người tại Việt Nam, thằng cu nghiêm trang: Cháu thy nhiu hơn m k. Hà Ni không đp như m nói. Đông quá. n quá. Bi quá. Còn người Vit thì phi làm nhiu quá mà nghèo quá, chng được gì. Các bn nên sang M hay Đc mà . Ôi trời là cười. Ai cũng bảo khó được nghe nói thật thế này, về phải cho cả đài xem.

Nhưng s không phát được đâu. Buổi tối, thằng con thì thầm với mẹ. Con bo các bn đi khi Vit Nam là sai. Vì đi khó lm. Mà người b đi thì Vit Nam mình Trung Quc gii quyết nhanh lm.

 

22.

Con tôi chưa biết rằng đất nước này chưa bao giờ mất bởi nhân dân. Song, khi mặt trời nhảy lên từ chân sóng, nó đã thấy, ngay chỗ nó đang nhào theo con nước thủy triều rút dần, mấy người đàn ông dầm mình dưới nước đẩy te và những mẻ lưới buồn cất lên, óng ánh trong nắng sớm, trống rỗng. Nó đã thấy trên bãi cát những chiếc thúng úp sấp, những người đàn ông đàn bà đêm xuống lại lầm lụi xách theo cái đèn chai, lên thúng ra biển câu mực. Nó đã biết, con mực nhảy buổi sáng sớm nhà hàng hấp cho nó ăn là công sức cả đêm của những người dân nơi này. Mt trăm năm chc ngàn, cô chú y kiếm được mt trăm năm chc ngàn mt đêm m . Nhưng còn nhng ngày mưa bão, vi li mùa ngh bin coi như cũng qua ri. Nơi này nơi kia, nó đã thấy và đã biết làm người Việt nhọc nhằn thế nào. Với tôi, đó là thành công lớn nhất của lần quy cố hương này.

Thằng con tôi tủm tỉm khi chúng tôi tính ghé thăm quê cụ Hồ. Phải giải thích cho thằng bé vốn dị ứng nặng với những trò tuyên truyền của chế độ phát xít mà nó cực kì am hiểu rằng, và rằng…

Đường sang Nam Đàn Hưng Nguyên vẫn là một kiểu đường tỉnh hóa. Khác chăng, huyện mà có cả quảng trường (Hồ Chí Minh) và biểu ngữ thì to và nhiều như biểu ngữ ở thành phố. Pano mời dân nước vễ LỄ HỘI LÀNG SEN cao như một bức tường dựng sát đường bên cạnh pano quảng cáo ẨM THỰC DINH DƯỠNG cao không kém. Tiến bộ hơn nhiều nơi, ở đây, lần đầu tôi thấy một khẩu hiệu xem được: “Tiền thuế để phát triển giáo dục”. Xe lao qua con đường ràn rạt hàng quán nếu không phải tiệm ăn thì xanh xanh đỏ đỏ toàn đồ Tàu. Ngất ngưởng giữa đường, trên cao, công nhân dựng biểu ngữ nhân ngày 2- 9 sắp tới. Biệt thự xây cách nhau cả thửa ruộng nước, rất đẹp và tôi chợt nghĩ rằng đất này nhiều khả năng đẹp hơn Hà Nội nếu quy hoạch đô thị được tôn trọng. Cậu lái xe bảo chủ các biệt thự này thường cũng là chủ nhiều ngôi nhà khác ở Hà Nội hay Sài Gòn. Còn ông anh rể tôi, dân thường thôi quê Bác chính hiệu thì cười cười: “toàn nhà rng. Được tin đn bù gii ta b hết vào xây cái bit th , ri chy ăn tng ba toát m hôi y mà cô.”

Định vào làng Sen thì xe phải dừng vì đường cấm. Chỉ ra chứ không được vào. Bà chủ phản thịt gần đó kiêu hãnh khoát tay, tuôn một tràng Nghệ ngữ: “Chưa vào quê Bác bao giờ à? Thế thì vào cả quê ngoại lẫn quê nội”. Mãi vẫn chưa hiểu tại sao bị bắt làm cả tua như thế. Vì lí do du lịch hay vì lí do lịch sử? Chịu.

Người là Cha là Bác là Anh… Con nghe Bác tưởng nghe li non nước – Tiếng ngày xưa và c tiếng mai sau… Tố Hữu đấy. Tụng niệm đủ điều, lần đầu tôi tới đất này. Chắc chắn không có một làng thôn nào ở Việt Nam sạch đẹp như quê cụ Hồ. Đường làng đổ bê tông, lắp đèn cao áp, uốn giữa đầm sen, ruộng lúa. Nhưng xe dừng trước khu di tích, mở cửa cứ thấy thoảng trong nắng trưa miền Trung mùi nhà vệ sinh công cộng thiếu nước.

Nhớ cách đây mấy năm, nhà văn P. T. H tiên đoán rằng tới đúng năm 2009 này đây, đất nước mình sẽ đổi và tôi đắc chí cười thầm tinh thần lạc quan của bà chị. Phải tới đây, tận mắt nhìn du khách. Đừng để ý làm gì mấy ông quan chức tay khư khư bó hoa bán sẵn, tất ta tất tưởi xua cán bộ trong đoàn vào làm lễ dâng hương. Cô nhân viên khu di tích vừa cầm phấn viết lên bảng theo dõi các đoàn đăng kí những con số đáng nể: Bộ tư lệnh quân khu 4: 100 người; Tổng công ti dầu khí Việt Nam: 1200 người. Nhưng mà kinh nghiệm làm giáo học cũ của tôi cho biết rằng toàn là tranh thủ kết hợp Cửa Lò với quê Bác, lấy thành tích gì đó cho công đoàn đấy thôi. Phải nhìn những phụ nữ mặc bộ bà ba đồng màu, đội mũ đan bằng sợi nilon dáng mũ tai bèo trông y như vừa từ trên R về, hay đoàn phụ nữ dân tộc Chăm từ Thuận Hóa ra, dáng phấn chấn, bồi hồi như đang sống qua sự kiện lớn nhất đời, mới hiểu hoài nghi thực tế là điều cần thiết lắm.

Quầy hàng lưu niệm ở khu di tích không khác bất cứ một cửa hàng tạp hóa nào và điều đó làm tôi sững sờ. Tự hỏi ngày xưa ở đây người ta bán gì? Và nếu hôm nay còn là nhà giáo có dịp đưa học trò tới nơi này, mình sẽ nói gì? Lơ thơ dăm ba bức ảnh chụp cụ Hồ tay chống nạnh trong chiến dịch Biên giới, cụ Hồ cúi cổ cho trẻ con quàng khăn đỏ. (Bà trẻ con này là đồng nghiệp cũ của tôi, vừa mới về hưu và cái vụ gặp Bác này là niềm kiêu hãnh suốt đời làm trò làm thầy của chị.) Thêm dăm ba tấm chụp hàng cau trước nhà bác, cả thế kỉ qua rồi mà vẫn cứ mới tinh tươm. Và dăm ba bức tượng. Chắc bày cho có chứ không đắt khách. Ngoài ra: quần áo trẻ con, đồ chơi Trung Quốc, súng liên thanh, kẹo Cu Đơ, tương Nam Đàn. Đáng kể nhất là mấy đôi dép đen đen lấy mẫu đôi dép lốp cụ Hồ, nhưng cầm lên mới biết là bằng nhựa.

Thằng bé nhà tôi lao ra khỏi nhà di tích, thông báo đề nghị của đấng sinh thành: “Bố đang phim ở trong đó. Bố bảo người ta bán tượng Hồ Chí Minh bằng thạch cao sơn xanh lá cây. Bố bảo nhìn kinh lắm. Bố hỏi mẹ có mua không?”

 

23.

Mua chứ! Tôi mua cho con một chú hải cẩu đội quả bóng trên đầu bằng nhựa, nhét cục pin vào là nó gật, quay, lộn nhào. Ra Hà Nội, được học trò lớp cũ mời, lại bị các mẹ trẻ cười ầm ĩ: Cô Hà vào nhà Bác mua đồ chơi Trung Quốc. Cũng dỗ được thằng bé con mấy tiếng đồng hồ chứ bộ. Cho mẹ nó đi loăng quăng quanh khu tưởng niệm cụ Hồ.

Thật tôi may mắn. Mấy ai vào thăm nhà bác mà lại không có nhà bác để nhìn ngó như chúng tôi thế này. Đã nghe cánh nhà báo đưa tin mồm nhà bác bị đốt, vào, tận mắt thấy cái khung nhà đang dựng lại, che bằng tấm bạt trắng nhưng không kín, và trước cổng rào dâm bụt có tấm biển cho biết đó là công trường theo dự án văn hóa. Mấy người đàn bà ôm trong tay mớ sách, tự hào khoe mình là người nhà bác và cào khan cào vã chúng tôi mua gia thế cụ Hồ, kèm gương sen tươi, bưởi và ngô luộc. Nói đùa tôi dạy văn, tiểu sử thơ văn cụ thuộc nằm lòng, các bà các chị thôi mời mua sách, thái độ cực kì hoan hỉ, trân trọng. Nhưng khi hỏi về cái nhà đang dựng trong vườn, ai cũng dè dặt một lời rất khó tin, rằng năm nào bảo tàng cũng phá đi xây lại. Hỏi chuyện ăn làm, thái độ bà con mới vồn vã lại. Hóa ra được buổi nông nhàn, mọi người mới ra đây kiếm chút tiền tươi. Sao không thuê kios ở khu bán hàng lưu niệm ngoài kia? Bà lão lưng còng khệ nệ quả bưởi to chưa từng thấy hậm hực cho biết không ai chen được với vợ con cán bộ bảo tàng. Làm vui lòng bà, chúng tôi khuân theo quả bưởi không ăn được vì chua loét, không dám bình loạn tại chỗ đúng là bác chăm lo “không gợn chút riêng tư ” (nhạc và lời cái bài có câu này hình như là Thuận Yến bố ca sĩ Thanh Lam đây).

Trong một nghĩa nào đó, và nếu sử liệu về quê quán cụ Hồ là chính xác thì làng Sen chính là đất phát tích của một triều đại đặc biệt nhất trong lịch sử Việt và hiếm vùng đất phát tích nào được chăm chút tu bổ thế. Nhà cửa ở trong khu di tích tưởng niệm không có một dấu vết của sự xuống cấp, ngay cả vì lí do thời tiết nóng ẩm mà các công trình xây dựng khó tránh. Khắp nơi, tiếng loa vang vang, loa của thuyết minh viên vẽo vọt bài viết sẵn, loa thông báo đoàn nọ đoàn kia vào dâng hương hoa, loa phát đi các bài hát ngợi ca. “C cuc đi Bác hi sinh cho dân tc Vit Nam… …Bác đem ánh mt tri xua màn đêm giá lnh… Bác đem mùa xuân v…” Ở một góc nhà tưởng niệm thiết kế kiểu một ngôi đình làng rất đẹp, tôi vấp phải một bà lão ngồi dựa cột. Bà lão say sưa nghe cô thuyết minh đọc thuộc lòng bài ngợi ca bác chăm lo cho dân không gợn chút riêng tư, đến nỗi ông anh cả hấp hối cũng không về thăm được. Quần đen, áo nâu mới, riêng cái khăn mặt vắt trên đầu thì đã ngả màu cháo lòng. Vừa kéo cái khăn tàu tàu chấm nước mắt, bà lão vừa cho tôi biết bà thuộc đoàn phụ lão Thanh Hóa. Ngắm bà lão sau khi chứng kiến cảnh một ông bố chắc trẻ hơn tôi thành kính thắp hương giục vợ con vào qùy gối khấn khứa trước bàn thờ cụ Hồ, bất giác tôi nổi gai ốc. Với khả năng dễ tin này, đất nước sẽ về đâu?

Đất nước sẽ về đâu, cả với khả năng hoài nghi tuốt tuột của những người trẻ tuổi? Gặp lại học trò cũ nay đang kháng cự tuổi bốn mươi, tôi mừng, vì học trò khôn hơn mình, không để bị vướng vào vòng văn chương dấm dớ, nhưng lại lo lo, chắc cũng là theo quán tính của nghề giáo dở dang thôi. Có học, giỏi nghề, giàu, nhưng có cảm giác họ không tin vào cái gì ngoài may mắn. Cô bí thư lớp cũ của tôi, nay là phó tổng biên tập một tờ báo nhiều thế lực nhưng chẳng ai xem nhất định mang “người đàn ông hi vng là cui cùng ca đi em đến gp cô”, kể dự định sẽ cho hai đứa con với người chồng vừa li dị sang Mỹ học. Cô lớp trưởng, nửa đời lận đận, vừa gá nghĩa với cựu tùy viên quân sự sứ quán Mỹ tại Việt Nam và tôi biết hạnh phúc mới của cô sẽ song hành cùng nỗi cô đơn khi theo chồng luân chuyển từ đất nước này sang những đất nước khác. Một cô khác, cao như người mẫu và xinh hơn, vừa cập tuổi ba nhăm, đến thăm tôi ngay trước ngày tôi đi, kể chuyện mới trở lại với chồng, “nhưng em không yêu cô ạ… công việc là mối quan tâm lớn nhất của em sau hai đứa con”. Cô là luật sư, chuyên sâu về buôn bán bất động sản và tham gia vào rất nhiều dự án của chính phủ. Cô cho biết dự án nào thì 50% giá trị cũng phải chia cho quan chức và cũng vì thế mà rất nhiều quan ông quan bà phải nhờ tới cô. “Em sẽ cho con em ra nước ngoài, nhưng cho đi sớm thì xót quá.” Nếu nói đủ đầy là hạnh phúc thì họ đang hạnh phúc. Nhưng, “hnh phúc đôi khi rt bun phi không cô?” ( trích từ e- mail tôi mới nhận được của một trong số họ.

Đủ đầy thì thỏa mãn, nhưng buồn. Thiếu đói thì buồn tựu hết vào chữ khổ. Bao nhiêu phần trăm dân Việt Nam còn đang là người khổ? Sẽ không thể thấu hết những cảnh đời nhọc nhằn nếu chỉ nhìn và thú vị trước cảnh, giả dụ, chú bé chăn bò trên bãi tha ma bìa làng rút điện thoại di động gọi cho mẹ đang trên từng cây số bán hàng rong, hay cô bán chuối đầu ngõ chợ nhà tôi hai tay hai điện thoại vừa chửi nhau tưng bừng với ai đó vừa ngọt ngào dặn chồng đi làm về gọi dịch vụ mang cho bình ga mới.

Đấy là cuộc sống tôi không còn sống, và cũng không muốn sống. Nhưng mãi mãi thiết thân. Quặn lòng một nỗi xót xa, không biết cho ai nữa, hay cho chính mình, khi bay trên bầu trời Tổ Quốc. Không phải vì ra đi, mà vì những gì để lại, vì sự bất lực của mình, của chữ, của những điều hằng đeo đuổi, cưu mang. Chồng tôi đọc ra vị của vợ, mỉm cười.  Thằng bé lớn nhìn mẹ, bình luận “mt m bun như nông dân vào bnh vin”, rồi tự đắc hỏi thân sinh “con nói thế có đúng là người Vit Nam không?

 

 

 

.

bài đã đăng của Lê Minh Hà