Trang chính » Da Màu và Bạn, Email bài này

Bốn năm sau – Phần II

0 bình luận ♦ 8.07.2010

 

 

 

[tiếp theo Phần I]

 

9.

Ông anh rể đã sốt ruột lắm rồi vì cái thói đi ngang tắt của tôi, vẫn phải rẽ theo cô em vợ dở hơi xuống con đường thấp tịt hẳn xuống chạy quanh hồ. Tiếng gì như tiếng cầu kinh, phát ra từ cái radio đặt trên lề cỏ. Một nhóm người đủ nam phụ lão ấu, (tôi tia ngay được một nhan sắc hom hem nhưng đoan chắc có thời đẹp dã man và một nhan sắc khác ngon như trái na chưa mở mắt) đang đi một bài dưỡng sinh chậm theo hiệu lệnh phát ra từ đó. Nghe một hồi na ná tiếng Tàu, một hồi nữa có âm gì từa tựa như sung quá trong tiếng Việt. Tới đó thì tất cả co chân giơ một tay. Còn khi radio thì thào súng qu thì tất cả giơ hai tay. Không biết bài tập của môn phái nào. Tôi, nói chung dù rất khổ vì khả năng thở hít của bản thân, vẫn coi sự thở là tự nhiên như nhiên, khó thở thì cố mà thở, có bị làm sao thì sẽ tự an ủi chết trẻ khoẻ ma, không cứ làm ma khoẻ mà còn là ma đẹp, bảo tập dưỡng sinh tập trung vào từng hơi thở thì… Chịu. Nên rất thú vị đứng ngắm mọi người đang hết sức chăm chú vào từng động tác dưỡng sinh này.

Rồi mới miễn cưỡng đi tiếp theo ông anh rể cho hết một vòng hồ. Qua tòa nhà của tổng công ti dầu khí, thấy tấm biển đồng sáng choang:  Chng nhn công trình kiến trúc tiêu biu cho thi kì đi mi. Mẹ kiếp, kiến trúc gì mà không tính tới quần thể, xây ngôi nhà to vật vưỡng thế này ngay sát hồ, khác gì lấy ngà voi lắp hàm người. Gửi tấm ảnh này qua Pháp cho một kiến trúc sư kì cựu, ông cũng kêu trời.

Ông anh rể khoát tay còn tm bin na kia kìa. Nằm ở góc khuất, màu sắc rất kiểu cổ động Bờ Hồ, tấm biển của công đoàn cơ quan dầu khí kêu gọi vic hôm nay ch đ ngày mai. Chỉ vì mải tìm góc ngắm mà tôi sơ ý bước vào vạch cỏ cấm, bị cậu bảo vệ mặc đồng phục xanh quát một tiếng vãi cả linh hồn.

Thì đi, dưới chân tượng Indira Gandhi – bà thủ tướng Ấn Độ từng bị ám sát – rất nhiều người đang vẹo hông lắc cổ. Ôi giời. Bà Gandhi phải di tản về đây. Ngày trước, bà được rước về vườn hoa trước Ngân hàng nhà nước, sát ủy ban hành chính thành phố, to đẹp đàng hoàng hơn rất nhiều, lại còn được ngày đêm dõi nhìn ảnh Bác cực đại treo trên nóc nhà tiền. Nay, nơi đó cây cối được bạt đi khá nhiều để dựng tượng đài Lý Thái Tổ, chuyển chỗ cho bà cũng phải, nhưng ai lại xén một góc cái vườn hoa còi vốn đã bị xén gọt đủ vành để xây nhà cửa làm chỗ ở cho bà. Lại nhớ câu chuyện với đám nghệ sĩ hôm ngồi với nhau ở quán cà phê góc hồ. Bà vợ một nhạc sĩ bảo không biết người ta đút cái gì vào mm ai mà được phép xây sướng phn cm thế này, thế nào ri bà Gandhi cũng phi sơ tán ln na, khéo ln này lên Hòa Lc và Đào Anh Khánh ngồi cười cười lắng nghe, dáng rất quái.

Chắc hẳn đã phát ngấy cô em vợ cứ đi một bước lại dừng một bước ngó ngoáy cổ nhìn nhìn ngó ngó, ông anh rể đem tôi bỏ ở chỗ náo động nhất hồ. Trước mặt tôi, một đám đông có lẽ gần trăm người đứng trong vòng quây của rất nhiều làn nhựa xanh xanh đỏ đỏ đang say sưa tập dưỡng sinh theo một tấu khúc chắc chắn Trung Hoa. Tới gần, tôi mới biết đó là các làn đựng đạo cụ tập luyện. Tiếng Tàu, phát từ cái loa đại của một hàng bán nước mía nghe chói lói íí a ìa aa sc mnh thn công hây và tất cả mọi người lại chân co chân duỗi lao về phía trước trong tư thế xông tới, tay xỉa thẳng gáy người đứng trước, những cái quạt lụa đỏ rực đồng loạt xòe ra nghe pạch một cái giật mình. Bất chợt nghĩ sự hăng say này, sự hết mình này nếu không giải tỏa qua tinh thần thể dục thì…

Sc mnh thn công đột ngột bị át đi bởi giai điệu Xibone. Như nước. Như lửa. Xì bô nê b tây đen m tây đen đ ra con cũng đen sì ngày xưa chúng tôi âm ư hát nhại, tưởng mình là Vân Khánh mặt vuông giọng hát khàn hoang dại. Ngày xưa Hà Nội chiều mùa hạ phảng phất mùi ổi chín, hương sen, loa truyền thanh vang vang, Vân Khánh say đắm Xibone, Ái Vân thiết tha triu triu bông hng, Ngọc Tân gp nhau trên bến cng ta cm tay nhau nghe trong lòng xao xuyến ôi đt nước… Ôi đất nước!

Lạc chân sang với Xibone, tôi đứng sững. Khiêu vũ lúc bình minh! Cái này mới thực là đặc sản Hà Nội Mới đây. Nếu là hướng dẫn viên du lịch cho dân nước ngoài, thế nào tôi cũng dựng cổ khách dậy cho ra đây ngắm. Một chị áo dạ hội xẻ tà cao tận thắt lưng, lưng áo sũng mồ hôi, mê mệt trong vòng quay cùng một bác già già quần đùi giày đông bóng loáng. Hai chị đỡ vai nhau tiến tiến lùi lùi, quần ngố áo hai dây, mặt mũi căng thẳng và rạng rỡ tập trung hết mình cho điệu nhảy. Một chị khác dáng trẻ trẻ như tôi váy ngắn tới lim giơ cao hai tay say sưa trong một vòng xoay bốc lửa, váy cũng bốc. Xibone lịm tắt, tất cả rời sàn nhảy, là mặt đất cỏ trụi vì những bàn chân quần đảo, ra tạm nghỉ trên những vỏ cây thuốc vinataba đập bẹp, đặt rải rác cùng với rất nhiều quạt nan. Môt giai điệu khác trỗi lên. Thanh mát trong đêm trường ta xúm quanh… Em hi em , có mt chiu… Xiberi. Sao hôm nay tôi lại được gặp tuổi trẻ của tôi nhiều như thế này. Một bác già già dáng dấp rất viên chức nghèo về hưu trước Đổi Mới xoè tay mời và tôi bước lùi, chối từ bằng một câu rất chướng b cháu có l đang bế cháu ra tìm em.

Rời sàn nhảy độc đáo này, tôi rơi thẳng vào môt lớp học khiêu vũ chay không nhạc ngay tại đó. Vũ sư, dáng dẻo như một bóng cậu, da đen nhẻm vì sáng chiều đều có mặt nơi đây đang ra lệnh qua máy tăng âm và chân tôi cuống lên. Bên cạnh tôi, một đàn bà, một đàn bà, một đàn ông, hai con gái say sưa luyện bước theo hiệu lệnh. Nhanh nhanh chm … chm… nhanh nhanh … bước xoay tròn … qu trám … ô vuông… đi mi … nâng cao… nhanh nhanh chm … chm …

Gió sớm ngừng hắt mùi xe chở rác về phía chúng tôi. Mặt trời hớn hở chòi lên, rọi những tia đồng thau xuông mặt hồ chết sững. Tôi lại về với bờ sông Lừ bốc mùi hấp hối, với con. Sau lưng tôi, tiếng hô nhỏ dần đi… đi mi… nâng cao… nhanh nhanh chm… chm…. Trước mặt tôi, một chiếc xe máy lao tới.

 

10.

Làm cái thân đàn bà nghĩ rất là tội, rất đáng thương mình. Đến gọi là đi chơi cũng phải tay năm tay mười vì gia đình. Mà đã về đến Việt Nam thì sự vì gia đình phải nghĩ tới đầu tiên là chuyện đường âm. Chưa đưa được con về quê thăm mộ ông bà ông vải, nhận họ hàng, lòng không yên để đi nhởn trên dương thế.

Buổi sáng, gió lập thu như một ân huệ mênh mang vờn trên phố. Thằng cháu chồng, trộm vía, đã ngoại tứ tuần, đương kim giám đốc gì to lắm của tập đoàn than khoáng sản Việt Nam vè vè ô tô đến đón. Tốt nghiệp Mỏ Địa Chất và có thêm dăm ba cái bằng khác của nước ngoài, anh cháu tự tổng kết: Hoành nht là cái bng ca Hc vin Chính tr cao cp cô . Cô đng tưởng cháu được bế vào đng. Cũng sy vy đy. Cơ hi làm ăn mà. Cô thy xe cháu được không. Mi mua tháng trước. Nh ơn Đng và nhà nước đy.

Hay thật, tôi để ý cái chữ tậu đã gần như mất hẳn trên môi người Việt. Ngày xưa tu trâu tutu nhà tu cửa, chữ tậu xuất hiện tronng những sự vụ trọng đại nhất của đời người. Bây giờ, cái nhà triệu đô triệu (eu) rô cũng chỉ nói là mua, nữa cái xe dăm ba chục ngàn đô rô.

Giữa một thành phố người như nêm của Hà Nội hôm nay, xe ô tô là chuyện phân đẳng cấp giữa người có của. Vừa vừa thì là xe Hàn Quốc. Cao cao thì , đấy, như cô diễn viên chân dài Tăng Thanh Hà, chơi luôn mt con mc đi mi nht – ông cháu vừa khai hóa cho cô chú vừa đưa xe luồn lách ra khỏi đê La Thành. Ba mươi năm trước, khi học sư phạm, tôi một ngày hai lần đi về trên con đê này. Tụt hẳn dưới chân đê là làng Hào Nam, đi qua chỉ thấy cây lá. Ngày hai buổi trước lúc lên giảng đường hay sau lúc tan trường, sinh viên đại học Thương Nghiệp, Sư Phạm, Giao Thông, Ngoại Thương, Ngoại Giao, tiên trường Múa công chúa Cao đẳng sư phạm Hà Nội 10 + 3 dập dìu xe đạp, tán nhau bằng tiếng Việt chen lẫn tiếng Nga, còn ngoài ra, con đê này vắng ngơ vắng ngắt. Đến nỗi cái gì xảy ra ở đó cũng là sự kiện. Ví như chuyện tôi giữa kì học quân sự, ban đêm phải vào trường vì bọn bạn báo động có báo đng, mắt thị lực có 3/ 10 mà cứ đi theo cái đốm thuốc lá đỏ phía trước cũng lần được lên tới trường, chẳng bị làm sao. Ví như chuyện con lợn béo ục, phải nặng gấp ba lần tôi khi đó, mang trên lưng dòng chữ ESPANA kẻ bằng bàn tay chắc chắn là của họa sĩ nhân sự bóng đá thế giới năm đó ở Tây Ban Nha, oai vệ đi từ làng lên đê, ngáng trở con đường sinh viên của chúng tôi, buộc bọn con gái phải dừng xe đợi như đợi vẫy hoa một đồng chí lãnh đạo đảng nhà nước nước anh em nào, rất nhiều đứa cùng đi học một đường bây giờ vẫn nhắc.

Hà Nội giờ có những đoạn đường rất đẹp, chia làn đàng hoàng. Nhưng ông chồng tôi, vốn là người cầm lái vĩ đại của tôi khi ở châu Âu, vẫn không dám lái. Sợ chứ. Luồn lách trong dòng xe cộ trên phố khi trước mũi xe có chị đàn bà thản nhiên gánh một gánh toàn bát đĩa với nồi nước dùng sôi sùng sục băng qua đường? Đố! Mà ra khỏi thành phố, ngay ở chỗ cho chạy 50 km/giờ cũng không dám. Từng quãng, tự dưng lại có cái xe máy quay đầu, tự dưng lại có một đoàn người gồng gánh băng ngang, bốn năm trước tôi còn thấy người ta giúp nhau trèo qua rào ngăn hai làn ngược chiều, giờ thấy ngành giao thông đổi mới bằng cách phá luôn từng khúc để gây dễ cho dân. Ngại nhất là vụ trâu bò lừng lững đi trên đường, nghênh sừng sẵn sàng húc.

Con đường về quê Hưng Yên của ông chồng tôi cách Hà Nội chưa đầy 40km, nhưng phải đi áng chừng tiếng rưỡi. Xe đi qua những dãy phố mới hình thành sau khi mở đường. Đèn xanh đèn đỏ chỉ đường còn hiện đại hơn ở châu Âu, vì có thêm bảng báo từng giây đèn sẽ đổi màu. Từng đoạn từng đoạn, trụ sở những tổ hợp sản xuất, tập đoàn kinh tế Vinashin, Hòa Phát và vân vân hiện ra, rất hoành tráng. Cậu cháu hờ hững giữ tay lái, bảo: “đ cháu gii thiu vi cô mt ch rt hoành na, đ cô biết là gì”. Cô chịu. Hóa ra là trụ sở các cơ quan huyện nhà. Một dãy nhà nằm ven đường 5, không còn một chút dáng dấp nhà cửa cơ quan tỉnh huyện của ngày trước với bậc thềm dẫn lên hành lang rộng, với những cánh cửa chớp màu xanh, với những bụi cây cô tòng lá lốm đốm vàng hay đỏ sẫm chen lẫn hoa màu gà mặt trước. Trụ sở Ủy ban hành chính, trụ sở công an, chi cục thuế… các cơ quan huyện giờ đây là một dãy biệt thự cửa đóng kín. Có lẽ các phòng trong đó đều lắp máy điều hòa. Khác với các đoạn đường xe vừa đi qua, đoạn đường trước cửa cơ quan huyện không thấy ngập rác.

 

11.

Rác ở thành phố ê hề. Tưởng ra chỗ đất rộng người thưa đi một chút thì ít rác hơn một chút. Nhưng có phần kinh khiếp hơn. Khi chưa về tôi có đọc một bài về sự rác đồng quê, cũng tưởng chuyện đơn lẻ qua mồm nhà báo bị phóng đại. Hóa ra thật. Thành phố còn có nơi đổ rác theo quy định, có xe thu gom, có xe chở rác. Đi đâu không biết, chắc hẳn phải có nơi cũng theo quy định và cũng đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu vệ sinh của dân. Còn ở nông thôn, rác tự phát. Đi trên đường, từng lúc, gió lại hất tung những túi nilon và giấy từ bãi rác ven đồng. Đại họa cho ai nếu bờ ruộng nhà mình lại thành nơi đổ rác của thiên hạ, làm mùa thay vì nhặt cỏ thì giờ trước hết phải nhặt vỏ đồ hộp, túi nilon. Mà cũng nhặt làm sao hết khi rác ngày ngày được đổ vãi thế này. Rác chất chồng ngay dưới chân đèn xanh đèn đỏ, chân cột đèn cao áp. Còn bên cạnh, ở ranh giới các làn đường, những người đàn bà mặt bịt kín đứng tựa bên cái xe đạp thồ chất ngất không bánh mì thì hoa quả, vàng rộm, đỏ tươi, chẳng che đậy. Nhìn ra, rặt một giống đào tàu đẹp như đào nhựa, nhưng ăn rất nhạt và bở. Cô em họ chồng, chuyên môn phụ là cày cấy chuyên môn chính là buôn bán hoa quả thì khuyến cáo không nên ăn.

Quê chồng, cả hai vợ chồng sinh ra giữa lòng phố không có dịp về thăm nhiều, nhưng đây không phải lần đầu về quê, vậy mà tôi không tài nào nhận ra đường sá. Thứ nhất vì đường toàn ổ ma mút, nắng chan lửa mà nước từ cơn mưa nào vẫn vỗ ì oạp khi xe bò qua, y hệt xe qua ngầm sau trận bom thời chiến tranh. Thứ hai là đầu làng giờ mới nảy chợ cóc giống như Hà Nội. Cũng một chái nhà vẩy thêm, bà chủ ngồi ngó ra đường nắng, trước mặt là dăm ba cây cải bắp, một dúm rau thơm, ít quả mướp đắng, một mẹt rau muống rau cải các loại, khúc bí xanh, nắm nụ mướp. Đậu phụ và lòng lợn sống. Thịt tươi bày sàng và cá  bơi trong chậu. Ôi chao, nhà quê giờ cũng nước sông gạo chợ thế này ư? Đồng đã xoay ra phố cả làng ư? Hỏi, cậu cháu bảo tất cả chỉ là để phục vụ các nhà may mắn chòi ra được mặt đường mở cửa hàng buôn bán và dăm ba nhà giàu trên tỉnh, các cụ già muốn vui thú điền viên bỏ phố về làng dưỡng già. Còn phần lớn dân làng, một thời thanh niên tứ tán về Quảng Ninh làm thuê, đi đào than thổ phỉ, không chết vì sập hầm thì cũng chết dần vì phổi nhiễm bụi, súc phổi ra nước đen như bồ hóng, nay, lên Hà Nội đi xây, chạy xe ôm, hoặc đem nhà thế chấp học tiếng Hàn, hi vọng sang làm thuê cho mấy bác Cao Li, rồi ngồi ôm món nợ cả trăm triệu vì bị bọn tuyển người lừa, vắt mũi đút miệng còn chẳng đủ, làm sao dám sống kiểu nước sông gạo chợ ngay trong làng.

Ai nghèo cứ nghèo, ai giàu cứ giàu. Mà không phải là chuyện giàu xó quê đâu nhé. Nếu cứ căn cứ vào con đường chạy giữa làng quê chồng tôi đây thì đố ai dám bảo nước mình nghèo. Biệt thự tơi tới mọc lên, kiểu cách cầu kì sang trọng. “Cái ngày bác mi ly bác trai, v quê ln đu còn đp xe đp, em cũng mi ly v, xin ra bìa làng là ch này đây, nhìn quanh có đc hai v chng son. Gi thì lên ông lên bà ri, còn cái ch này thì li thành gia làng – Cậu em con chú chồng hai mươi mấy năm làm từ công tác đoàn sang công tác đảng, chính quyền, có thời là phó chủ tịch kiêm trưởng công an xã, nay theo quy định mới về chức trách của nhà nước, trở lại giữ một đầu việc trưởng công an rầm rì kể. Hỏi chuyện công tác, bà vợ của ông em mau mắn: y nhà em ba bn hôm ri b nghin nó hành, phi đi vi công an xã bên. May mà tóm được… Thnh thong rnh ri thì li đan qut bác .”

Thế mới biết đàn bà là giống dại, nghe thế phải ngoảnh nhìn chồng và được ông em hơn tuổi vừa lừ mắt cho vợ vừa giảng giải: “có my thng nghin quy làng xóm quá, sut ngày dân t b trm, rình bt được ln đu nó vác ghế quăng lên mái nhà thng c ngói, tay còng s tám mà nó trèo tường trn được mi tài. Bt ln này là phi phi hp công an my xã. Mà ri cũng là bt cóc b đĩa thôi. Mình làng bt con người ta gii đem np huyn đ công an huyn th. Na oán na ân, không làng không hiu được cái kh ca quan làng kiu như em.” Thế còn đan quạt, thời nay quạt máy cũng có từ quạt điện cho tới quạt pin, đến cái quạt nan vừa rồi tôi cũng thấy làm bằng da… Chồng cười phì phì còn ông em chồng ngượng nghịu thay cho cái sự chậm hiểu của bà chị dâu thì thnh thong hp nhau chơi bài cò con y mà bác.

 

12.

Cơ nghiệp của ông em bây giờ là bà vợ yếu, vừa ngồi nhà ôm cháu vừa bán cò con dăm ba cân thức ăn gia súc cho dân làng, cô con gái chồng con rồi đi làm xí nghiệp chưa đủ nuôi thân. Mảnh đất năm xưa vừa xin vừa lấn thêm nay cũng mới cắt ra bán bớt cho cậu út, vừa là anh em giúp nhau vừa là để có đồng ra đồng vào.

Ông chú chồng tôi, bố của mấy ông em vốn là hiệu trưởng trường cấp 2 của xã, cực kì đẹp trai (ở tuổi ngoài bảy mươi thì phải nói là cực kì kháu lão), dáng rất thi sĩ như người đời vẫn hình dung chứ không phải giống thi sĩ thật thường lệch thệch, thế nhưng suốt đời vất vả. Là học trò trở về làng vào thời kháng chiến, chỉ vì chuyện lí lịch một thời buổi mà phải lấy ngay nữ đồng chí dân quân mù chữ. May, bà thím dâu của tôi tính rất lành. Mà cũng không may, vợ lành quá, buông súng xuống cũng chỉ biết cầm lại cái hái cái liềm, bao nhiêu chuyện cơm áo gạo tiền cho bầy con toàn một tay chú. Lương không đủ sống, chú trồng chuối trồng khế, nuôi cá nuôi gà, kèm nhịn ăn, cho con ăn học. Lần này về, thím tôi đã mất, chú đã yếu nhiều, vừa phải giải tán đàn gà chọi tăng gia. Chú lòm khòm đi ra đi vào, giục ông con ngoài năm mươi tuổi hái bưởi, trẩy khế, ngắt một cái lá ngọc lan để gói cho chị mấy bông hoa mới nở, nói cười mừng rỡ vì đứa cháu trai sinh ra lớn lên ở Hà Nội, nửa đời người biệt xứ vẫn biết lùa vợ con về với quê làng. Buổi trưa, lúc cùng bầy con cháu đưa nhà tôi ra thắp hương ngoài nghĩa trang làng, ông chú rì rầm kể cho tôi nguyện ước cuồi cùng, “chú ch xin ông bà cho kho mnh mt hai năm na…  trước là đ kp sang cát cho thím, sau là xem thng em đi b đi biên phòng v có sng được hay không”.

Một đời làm giáo làng, một đời răn dạy con người con mình. Thằng con đầu trưởng công an xã sợ ông bố già một phép. “Ông nhà em không nói nhiu, nhưng nói mt câu bà con nghe mt câu. Em làng, có đnh ung chén rượu người ta mi cũng phi nghĩ v ông s nói gì, có bo đng làm cường hào đi mi, sng đt l quê thói, phi biết đâu oán đâu ân mà cư x sao cho ông không phi tránh mt ai khi đi trên đường làng.”

Thằng con út của ông chú, ngày tôi về quê chồng lần đầu còn đang dong bò ngoài bờ thửa, nay đã vợ con, chồng thú y vợ nhân y làng, xây cái nhà to vật vưỡng bên cái nhà cũ kĩ của bố mẹ nhưng gần như suốt ngày ở cái nhà mặt đường, nơi có cái tủ kính mờ bụi chất đầy thuốc men cho lợn cho gà cho chó cho người, cứ băn khoăn mãi cái nỗi em ch được vi b em lúc đêm hôm, còn ngày thì ông bo không mun phin con nào, t ngày bà mt ông toàn ăn cơm hp.

Chao ôi, đời mới, ông thầy giáo làng kiêm nông dân nghiệp dư có thể đặt cơm hộp để khỏi phải lọ mọ cơm niêu nước lọ trong cái chái bếp lúc nào cũng tanh bành vì con gà mái già nanh nọc. Nhưng nỗi lo toan cho cháu cho con cả đời người thì vẫn vậy. Đứa ở làng yên phận, còn đứa xuống bể đứa lên rừng. Không nói ra nhưng tôi biết ông thương bầy cháu ngoài đảo Cát Hải nhất nhà. Bố chúng nó, thằng con trai thứ của ông, bộ đội biên phòng, ngày ra đảo gặp mẹ nó, giờ đóng quân trên Daklak. Mỗi năm một lần về phép, giữ lễ về thăm cha rồi lại tốc ra đảo đón vợ con về ở với ông dăm ba ngày, rồi lại đem vợ con gửi ra đảo nhờ cậy ông bà ngoại. Gặp thằng em họ mặt mũi đen sắt, quân phục lúc nào cũng nồng nực mồ hôi, không hiểu sao tôi cứ nhớ có người đi lính hin như đt – mùa h tưng bng thương núi sông của Chính Hữu. Đất nước thời bình, cái tưng bừng của một thời buổi cả dân tộc rũ bùn đng dy sáng lòa (Nguyễn Đình Thi) không còn nữa. Chỉ còn toan lo sống và sống.

Buổi trưa nhà quê, đồng trống, gió nổi làm bó hương bốc đùng đùng. Ông bà mình v, b m cháu v đy. Ông chú hoan hỉ trong niềm tin vào sự giao hòa âm dương. Tôi đứng ôm thằng con trong tay, nước mắt rưng rưng không sao kìm nổi. Chao ôi, có những đời người khổ và đẹp như vậy đấy, như đời ông lão đang đứng cùng tôi dưới gốc phi lao này. Sống, cực nhọc tận cùng, vẫn một lòng một dạ vì con, mong con giữ đạo thường, và vẫn hi vọng… kho mnh mt hai năm na…  trước là đ kp sang cát cho thím, sau là xem thng em đi b đi biên phòng v có sng được hay không”.

Buổi chiều lên xe từ Lực Điền nơi chú ở sang Đồng Than quê ngoại chồng tôi, chú dúi vào tay tôi túi khế ngọt và gói hoa ngọc lan bọc trong lá, thắt sợi nilon vàng. Cứ ngỡ rơm khô. Thằng bé con từ trưa ra thăm mộ ông bà hăng hái bắt chước mọi người chắp tay lạy như bổ củi, nhoài khỏi tay mẹ theo ông, rồi lại cười tít mắt chắp tay lễ và ông chú cười “cha b nó ch… Thôi các cháu cho con đi… Ln sau …”

 

13.

Du phi theo chng thân phn gái – Đường v quê m vn không quên… (Đoàn Văn C)

Quên làm sao được. Quên làm sao cái tuổi lên năm lên bảy của mình. Quên làm sao những ngày trời cứ xanh vô ưu và bên dưới bầu trời kia, đứa bé gái là tôi nhìn dọc theo con đường quốc lộ kìn kìn người, có chú bộ đội trong hàng quân đang đi về phía Bình Đà giơ tay vẫy vẫy, có thằng bé con ngồi trong ghế mây chằng sau lưng mẹ suýt tuột khỏi xe đạp rơi xuống đường, hai bàn tay xinh như chiếc lá chua me đất vẫn cố vỗ vào nhau theo tiếng hát ngọng nghịu “bé bé bng bông bé đi sơ tán bế em theo cùng bao gi thng nht cho bé v ph đông.” Sau này đọc lắm tự biết ngu nhiều, tôi thấy mình chỉ thật sự hiểu (bằng mọi cảm quan)  Ni bun chiến tranh của Bảo Ninh và Có mt đêm như thế của Phạm Thị Minh Thư. Cái vng trăng màu đ bất an của Phạm Thị Minh Thư thật sự là màu trăng của một thế hệ thanh thiếu niên Hà Nội. Cái nỗi khắc khoải trước hồ Tây chiều bình an về một cơn gió phũ phàng nào s thi của Bảo Ninh cũng vậy, cũng là của một thế hệ học trò đất này. Chúng tôi lớn lên thời buổi ấy, tuổi thơ nào cũng gắn với niềm thương nhớ phố và với một vùng quê đêm nằm năm ở ngày sơ tán. Một đời người Việt, còn đôi khi bất chợt thèm nhớ một ngọn rau muống rau khoai, xác tép trong vò mắm, hạt ngô hạt nếp trong bát tương, quả cà muối xổi… là còn nặng nỗi quê người quê nhà. Quê mẹ tôi, đất Mọc Quan Nhân, nay đã xoay ra phố cả làng rồi. Đi trên phố Chính Kinh, chịu không biết đâu thuộc về giáp nào, chịu không tìm ra cái ngõ nhỏ thâm u bờ ruối dẫn tới ao đình gần nhà bà Trưởng Ái bác mẹ tôi. Hồi còn ở nhà, có dạo tôi dã toan tính mua mảnh đất ở quê mẹ xây nhà, rồi lại thôi, vì có người khuyên đất gần chùa, xây cao hơn chùa dù cách cả đầm sen cũng vẫn là không phải. Thế mà giờ, mái tam quan tủn hoẳn bên vô số nhà mái bằng mái lệch, xe đi qua không được chỉ được trỏ cũng khó nhìn ra.

Qua Mọc Quan Nhân, qua Ba La Bông Đỏ là vẫn đang trên đường tìm về với mảnh đất quê xưa có mái nhà tôi thơ dại lủi thủi vào ra với bà tôi. Nằm ngay đầu ngã ba sông Đáy và sông Nhuệ, ngả ngược Thác Bà ngả xuôi xuống Phù Lưu Tế, người đất làng này bao đời tự xưng mình là Kẻ Thá, không cần hiểu Thá là dòng tiếng cổ và do vậy mà có chữ Ba Thá quê mình.

Có những miền đất cứ như bị trời đày, rất khổ. Làng Ba Thá nằm ngay đầu cầu vắt ngang sông Đáy, dẫn về phía Miếu Môn trong chân núi. Khi những Mai Thảo, Nguyễn Tuân và bao nhiêu văn nghệ sĩ kháng chiến còn đang “… mơ thy tiến v Hà Ni – Bao gi s v – Ph phường xưa gch ngói ngang đường … Nh đêm ra đi đt tri bc la – C đô thành nghi ngút cháy sau lưng – Nhng chàng trai chưa trng n anh hùng…” bên chõng thịt chó bên mâm vịt cỏ đất Vân Đình cũng nằm ven sông Đáy thì Ba Thá đã là vùng tề, dân đã bị bắt đi phu xây lô cốt đầu cầu, du kích bị trói giật khuỷu tay đem ra mom sông ngay trước lô cốt bắn rồi xô xác thẳng xuống sông. Ông trẻ của tôi từng mất xác ở đó vào những ngày tháng đó. Cô họ tôi, nếu còn sống cũng đã ngoài bảy mươi, hòa bình về đi cắt cỏ gần lô cốt, liềm giật trúng mìn, vĩnh viễn tuổi mười ba. Và tôi, mấy chục năm sau, hết đạn bom nhưng chưa được về với phố cứ trưa trưa lần mò trong các khoang lô cốt ngửi cứt bò chán lại ra bò trên chạc cây nhãn cụ, nhắm mắt nghe nước thao thiết xoáy dưới mom sông. Đôi khi ta lng nghe ta, như Trịnh, mới hiểu ra suốt đời người cô độc với người trăm sự cũng vì những đùm gói kí ức vụn ai khôn thì quăng bỏ này.

Ba Thá, cũng như toàn Hà Tây, mà xa xôi hơn thì gọi là tổng Hà Đông một thời bị kéo giật vào thành một cái tỉnh mới cùng với Sơn Tây, Hòa Bình gọi là Hà Sơn Bình, vẫn bị chúng tôi chòng ghẹo là Hà Sơn Buồn, nay được nâng đời thành Hà Nội. Thôi, khỏi bàn làm gì cái sự nước mình bé tí mà có cái thủ (đô) to tổ bố, chẳng giống ma nào và những sự đằng sau cái sự đó. Cái nước mình nó thế. Cái đêm Hoàng Ngọc Hiến qua nhà tôi, hổn hển hậm hực kể lại những điều trông thấy nghe thấy, và quăng ra cái câu này, tôi đã thì thào với quý chồng b này chc s muôn năm.

Cái nước mình nó thế, nên quê tôi Hà Tây bây giờ thành Hà Nội. Tự ái dồn dập về cái sự văn hóa xứ Đoài việc quái gì phải cấy ghép với văn hóa thần kinh, tôi vẫn phì cười khi nghe mấy cô em họ kể chuyện ra tnh bán thịt lợn bị chê là nhà quê không biết gì, các cô vều môi ra mắng lại các ch chng qua là Hà Ni cũ ch chúng em đây là người Hà Ni mi. Cũ mà hơn được mi a?

 

14.

Không biết có phải vì tình quê hay vì không biết lái xe mà tôi cứ tâm niệm rằng con đê men theo bốn làng Vân (Vân Nội Vân Ngoại Vân Xá Vân Đồng) về đất Ba Thá đẹp nhất nước, đẹp hơn cả con đê sông Đuống mà mỗi lần rời cầu Long Biên bò tới Yên Viên tôi lại sững sờ. Cậu lái xe thì lăm lăm tay lái, miệng liên hồi rủa, khi thì rủa anh lái cái xe chạy ngược chiều, qua chỗ vòng không giảm tốc độ như thằng muốn chết, lúc lại rủa con bò cái hông còn nguyên vết bùn hay bầy vịt núc ních thản nhiên lạch bạch trên bờ đê. Còn tôi chỉ thấy đẹp. Đẹp thật. Dưới kia là sông Đáy, của Mai Thảo Đêm giã t Hà Ni, của Quang Dũng Đôi mt người Sơn Tây, của Nguyễn Quang Thiều Hai người đàn bà xóm tri, của tôi. Bờ đê lướt thướt cỏ may uốn mình dưới nắng trưa như một người đàn bà được buổi vãn việc tự cho phép mình uể oải, vừa thơ vừa lẳng.

Nhà bà tôi, cách cầu chừng 30 mét mấy chục năm nay đã là nhà người khác. Tôi không đủ can đảm vào nhìn. Khác hết rồi, tất cả. Đầu cầu xưa trơ trọi cửa hàng hợp tác xã bán độc có diêm, muối, xà phòng hương lí hương chanh, chiều muộn có thêm dăm ba đàn bà trẻ mỏ mang mớ tép mớ tôm vừa đi hôi đi tát về bán lại, chỉ thật sự đông vui vào ngày phiên chợ một tháng đôi lần, nay quanh năm suốt tháng họp chợ. Có quán cháo lòng tiết canh. Có quán bún thịt chó bên quán gội sấy tóc. Con cháu họ mới lấy chồng vừa góp mặt đầu cầu bằng việc mở thêm quán karaoke, tự tính đêm v nhà quê biết đi đâu ăn chơi ngoài ra đu cu hóng gió, không th nào l được.Vẫn biết đó là chuyện cung cầu, nhưng vẫn thấy mất hết cả duyên quê đồng bằng Bắc Bộ. Cái sự tinh mơ mấy anh nông dân ra chợ ăn sáng như ở đồng bằng sông Tiền sông Hậu, hay đêm về gầy một cuộc lai rai với chiếc ghi ta là của độc đáng yêu của miền đất phương Nam thì ở phương Bắc bờ ruộng chỉ bằng mình con chó nằm ngang lại thấy kì kì.

Ngày đưa bà tôi về làng theo ý nguyện của bà, làng còn bé và bà tôi nằm một mình giữa cánh đồng, xa làng nhất họ. Bây giờ, ô tô lao thẳng ra đó, và tôi kinh ngạc thấy một ngôi nhà rất lớn chắn ngay đầu bờ, sát bên một ngôi mộ xây cực kì hoành tráng. Đất hẹp người đông, nay, làng đã lên đời, người làng nửa đêm bò dậy đã ra người Hà Nội cả, tấc đất tấc vàng, thành ra người sống lại nhào ra đồng chen chân cùng người chết. Thôi cũng được, âm dương giao hòa, sống với làng với nước, chết cũng với làng với nước, càng vui.

Mà nước mắt cứ ứa ra. Thắt ruột thương bà, ông đi kháng chiến hi sinh, gửi xương ở góc rừng Việt Bắc nào không sao tìm được, bà một thân góa bụa, từ Hà Nội về làng, thẻo đất chó ỉa cũng chẳng có, lệch vai tập cấy tập hái tập gồng tập gánh, chèo chống nuôi con. Rồi đến thời đạn bom chống Mỹ, lại lếch thếch dẫn bầy cháu đi sơ tán, tới đâu bà cũng xách theo cái bu nhốt con gà mái mắn đẻ và chục bát Trung Quốc mỏng tang, gắn chặt với ngày sống mà vẫn như tách rời khỏi ngày sống ấy để mơ về nơi xa lắm mà bà đã đi qua thời con gái. Bà không biết, đứa cháu của bà lớn lên nết ở hệt như bà, cho nhau cái gì cũng không băn khoăn mà lại tiếc lưng bát cơm thiu, cũng hệt như bà. Bà không biết, đứa cháu của bà từng viết trong nhật kí tuổi mười chín hai mươi của nó những dòng về ông về bà, may mà không ai biết: Có người trai ca thi bui y – Đã ra đi không tr li bao gi – V li mt mình thành bà lão – Ri mt mình thành nm m chơ vơ – Đy lch s dân tc tôi là thế – Thế h nào cũng tri nhng cơn đau – Trong khao khát đi qua thi gian kh – Đ yên lòng lo nhng chuyn mai sau – Chiến tranh đi qua như mt phép màu – Người còn sng cô đơn hơn người khut…

Nhưng đất nước ngày giông bão, chẳng lo chết chỉ lo sống, mấy ai ngồi nghĩ tới sự cô đơn. Có lúc nào rảnh rang, bà dẫn tôi qua nhà hàng xóm, vừa tẩn mẩn với âu trầu, các bà vừa nhắc lại chuyện ngày xưa, có lúc còn véo von cò lả chung mt cnh nghèo này ai ơi… thi đôi chúng ta chung mt cnh nghèo, rồi cười. Ngày ấy sao có lắm đàn bà con gái sống một mình, mà chỉ mãi sau này nhớn nhao rồi tôi mới nhận ra điều ấy.

 

15.

Từ mộ bà nhìn sâu vào những ngõ hẹp thấy toàn nhà to sân nhỏ. Không có việc bãi bỏ hợp tác xã, chắc khó có cảnh này. Khi tôi còn bé, chập tối áng chừng xong bữa cơm chiều là đầu các xóm kẻng vang lên, gọi người làm đồng đi họp tính điểm. Sân nhà nào cũng to hơn cái nhà, chưa tính sân hợp tác. Luật quật cả ngày, bà cô tôi, goá chồng từ năm hai sáu tuổi một nách nuôi bầy con bốn đứa, đi họp về đứng giữa sân chửi đổng c ngày được 10 đim tính ra bng sáu lng thóc ướt chó nó cũng đéo thèm làm, rồi lại ôm đứa em tôi khóc khi nó thỏ thẻ con cho u mười đim toán ca con, vi li con còn đi mót. Là một trong hai ba người đàn bà tần tảo nhất làng, dám tung hê công điểm, thuê người cấy rẽ từ hồi phong trào hợp tác xã còn đang vượng, bà tềnh tang quang gánh, đi buôn. Từ hạt cải tới bông, qua măng tươi măng khô, mùa nào thức nấy. Cứ nửa đêm là vục dậy ra ngõ thì thào gọi nhau, những người đàn bà làng tôi ngược xuôi từ Ba Thá vào Miếu Môn buôn bán đổi chác với bà con người Mường, lúc đi nhờ xe tải, lúc tắt rừng trốn phòng thuế, tiếng Mường choanh choách. Rất tài. Cái thời cán bộ công nhân viên còn chưa biết mặt đồng vàng thế nào, con gái bà đứa nào tai cũng khuyên cũng nụ lủng lẳng. Mấy mươi năm qua, những người đàn bà thế hệ cô tôi đã người còn ít hơn người mất, mắt mờ tai chậm, lại lần mò vào ra góc sân bờ hè ôm cháu ôm chắt cho người trẻ tuổi thay mình xốc vác. Và tính việc vẫn minh mẫn lạ kì.

Minh mẫn nhất là ngay từ buổi đầu phong trào hụi phong trào đề bùng nổ, bà cô tôi đã cảnh cáo bầy con dính vào còn khốn khổ hơn cụ ngày xưa nghiện thuốc phiện, trâu nghé gì cũng theo nhau chui tọt vào trong dọc tẩu cả. Nhưng mắng mỏ răn đe đàn con đã thành ông thành bà cũng bằng như lội ngược dòng. Tôi về, đứa em họ hơn chục năm trước phải phới khỏi ngôi nhà giữa xóm ra bìa làng mở quán bán cơm, đón khách ra vào bệnh viện tâm thần Hà Tây, nay mới hớn hở trở lại được. Cô giáp út nhà bà cô tôi, từng nhiều năm tranh với tôi chỗ nằm cạnh bà để sờ ti toàn da , nay vừa mất cả trăm triệu chạy cho thằng con đi Hàn Quốc và đang lăm le chơi đề bù lỗ, bị bà mẹ cấm cửa, nói cười với bà chị ở xa về mà mắt cứ lấm lét liếc bà mẹ già nghiêm khắc. Tôi ở xa về, bà cô hạ lệnh con cháu bỏ hết công việc ở nhà  nhận họ. Là hai thằng con tôi chưa ai biết mặt. Cả nhà râm ran vui mừng về sự đông đủ, cháu bế ông bác hai mươi tháng tuổi chạy khoe hết ngõ nọ ngõ kia. Phúc đc quá. Người thành phố, người đi xa tít trời Âu Mỹ nhiều khi không hiểu hết cái sự hoan hỉ này của người quê và cứ tưởng mình văn minh với ý tưởng cá nhân là rốn (của gì không biết), không để ý mình lẫn lộn văn minh thành ích kỉ, bo bo sống. Bất chợt giật mình.

Hỏi chuyện làm, cả nhà rổn rảng kể chuyện người làng thôi không đua nhau đi buôn gỗ như trước mà ra Hà Nội bán thịt lợn. Cô em họ ham đề đóm của tôi ngày ngày vi vu tay lái, phía trước là con lợn mổ phanh nhăn răng cười, phía sau có ông chồng ngồi, kẹp giữa là con lợn sống cứ xe vừa đi vừa ị. Đó chính là cô trều môi tuyên bố mình là người Hà Nội Mới.

Nhờ nghề gỗ và nghề buôn thịt lợn, rất nhiều người làng tôi xây biệt thự trong làng, mua nhà ở Hà Nội nuôi con ăn học. Mùa thi đại học năm nay, cả làng có tới 25 em thi đỗ. Hỏi học làm gì mấy trường đại học hàng tỉnh hàng huyện chất lượng như đùa để rồi lại lo thất nghiệp, cậu em họ cười khắc khổ: bác xa không biết ch. Gi chng làm người nhà nước na nhưng c rút được chân ra khi rung, có lương có bo him là hơn. Nhà nào có ca ăn ca đ con không hc được thì đành chu, ch con còn chu đèn sách thì bán nhà bán đt cho con hc ri li trên tnh làm văn phòng vn là sướng nht.

Sau bữa cơm trưa ngon lành vì có món măng vầu tươi thật chứ không phải tươi nhờ hóa chất ( khó kiếm ở cái làng làm làm nghề buôn măng bao đời này) đứa cháu họ dẫn tôi vào thăm bếp. Không còn rơm rạ, không còn chạn bát, không còn chuồng lợn gà kề bên, bếp nhà quê bây giờ là bếp ga, tủ lạnh chạy ro ro, ruồi muỗi đi định cư nơi khác. Vòi nước chảy ào ào. Không phải nước gánh từ sông lên. Đứa cháu cười bảo sông Đáy đang chết dần, bến sông ngày nào bố mẹ nó và tôi vùng vẫy mỗi chiều có dạo là nơi cho cả xóm đổ rác và bến sông nào ở khúc sông nào qua làng cũng vậy. Nhớ, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều than Sông Đáy người ta th rau mung bè ri em ơi. Nhớ, Quang Dũng dặm dài kháng chiến vẫn đau đáu Sông Đáy chm ngun qua Ph Quc. Nhớ, một dòng trong có thể nhìn thấy cả con hến đang dò dẫm dưới lòng sâu, trưa tháng ba bà dắt cháu ra cào hến, thẳng lưng nhìn về xuôi và lại nhắc cái ngày son rỗi bà về làng theo chúng bạn mang theo thúng bánh giày, ra bến sông này gọi đò dọc xuôi về Bến Đục, vãng cảnh chùa Hương hết cả giêng hai.

Sông không lành nữa. Người ven sông cũng không lành nữa. Hăm hở, hừng hực sống. Rồi lại rủ nhau tự tàn phá đời sống của mình. Cô em ham đề đóm bần thần kể chuyện bn em nhà làm c làng được lên ti vi bác . Hỏi, tất cả lại ào ào giảng giải cho tôi bằng cái giọng chỉ người vùng này mới có, giọng Kẻ Thá, âm e nghe bẹp như bất kể người ở đâu quanh quanh cái mảnh đất một thời được phong là Hà Tây quê lụa cửa ngõ Thủ Đô này, và dấu huyền thì nói cao dấu sắc thì nói thấp, réo ra réo rắt.

Vâng, người quê tôi hôm nay nổi tiếng vì cả làng có những lúc chỉ lo nuôi độc con… Số Một, hi vọng bõ công ăn, vì phụ nữ trong làng xắn quần chạy theo số đề, có lúc làm chồng con thất điên bát đảo. Nhưng đất này vẫn còn phiên chợ Thá, vẫn còn dòng sông đang chết dần kia nhất định phải có lúc hồi sinh, vẫn còn đám đàn ông dám quật mình vào việc làm ăn tận trên rừng trên rú, vẫn còn đám đàn bà xốc vác nửa đêm gà gáy kéo nhau ra bán thịt lợn ở hầu khắp các chợ cóc quanh quanh Hà Nội. Và những đứa trẻ, đã tập được thói quen thôi mang rác ra vứt rệ sông mà chờ xe rác tới gom theo quy định mới của xã.

Gần như là đơn độc, nhưng vẫn còn những ông lão bà lão như bà cô tôi, còn sống còn nhất quyết giữ cho làng một linh hồn. Như bao đời đã thế.

Tôi lại rời bà tôi, mừng tủi chia tay họ hàng, lên xe, qua con sông Đáy từng trong văn vắt nay đang chết dần bốc mùi không ai dám tắm, nghĩ tới một ngày về lại.

Biết đâu chừng lại được úp mặt vào lòng nhau. Sông ơi!

 

16.

Ở bên kia, đi nghỉ đúng là đi nghỉ, là những buổi nằm dài trên cát, hay lang thang trong rừng, là những bữa ăn sáng trưa chiều như ý, trong yên tịnh. Trên hết, là được thoát hẳn khỏi thế giới hàng ngày vẫn sống.

Nhưng nếu về Việt Nam, kì nghỉ sẽ là một cơn choáng kéo dài, vì nóng, vì ồn, vì bụi, vì hôm nay như đứt đoạn hẳn với ngày xưa, và toàn bộ kì nghỉ là một cố gắng tuyệt vọng để phục hiện lại cái ngày xưa sắp vô tăm tích đó.

Đó là lí do khiến tôi không nương nhẹ thằng con trai gần hết kì nghỉ vẫn chưa hết choáng, chỉ thích chui trong phòng máy lạnh đọc tin trên mạng. Đi chơi con có thể nói không. Nhưng có một số việc thì phải thoăn thoắt bò dậy theo bố mẹ.

Một trong những việc đó là đi thăm mộ bà ngoại của nó.

Với mẹ tôi, mấy chữ hồng nhan bạc phận đúng mà cũng vẫn là không hẳn vậy. Ba bảy tuổi, sống xong hai cuộc chiến tranh với Pháp với Mỹ cùng cả nước, mẹ tôi lên đường. Tháng 5. 1975, cả Hà Nội đổ ra đường mừng hết đánh nhau, mẹ tôi đi vào bệnh viện. Tháng 5. 1976, người khắp nơi dồn về Hà Nội xem duyệt binh bắn pháo hoa mừng thống nhất, mẹ tôi từ bệnh viện ra đi. Chỉ mãi sau này, tôi mới hiểu được lời bà tôi nói ngay trước ngày mẹ tôi đi m mày chết thôi cũng là hết kh.

Đường về thăm mẹ của tôi là đường lên, lên với Bất Bạt Yên Kì của cụ Tản Đà. Xe đi qua con đường xưa chị em tôi từng đi hàng ngày tới nơi học và dạy học. Qua Cầu Giấy. Qua Phùng. Qua Sơn. Qua Bún Thượng… Tây Đằng… Trung Hà… rồi Yên Kì Bất Bạt. Không còn gì như trong trí nhớ. Con đường xưa chạy giữa hai bờ lúa giờ khuôn lại bởi những dãy nhà phần lớn mới xây hoặc đang xây. Nhìn đã biết là tốn tiền nhiều của nhưng nhang nhác như nhau, bảo là Hà Nội cũng được, mà bảo là phố huyện tỉnh lẻ nào vừa đưa vào dự án quy hoạch phát triển cũng được. Cảm giác nơi nào cũng giống nơi nào này được tích cực củng cố bởi hàng loạt biểu ngữ căng khắp nơi, đặc biệt nhiều ở trục đường chính từng vùng. Th xã Sơn Tây ra sc thi đua … Nhân dân Tây Đng phn khi … Nhân dân Đan Phượng chào mng… Rồi các khẩu hiệu kêu gọi nộp thuế, đẻ từ một cho tới hai con và cả Rèn luyn thân th nâng cao sc kho là làm theo gương Bác H vĩ đi… đâu đâu cũng như Hà Nội đang đổi từng ngày và đâu đâu cũng rất quê mình, Hưng Yên cũng như Sơn Tây, không còn chút gì cái vẻ đẹp cng thành đá ong nt – hào trong soi bóng đy nng nghiêng chiu hoa lí – nga sng vó đu làng-  mái gy thơm nếp hương (Tô Hà), giá có bảo thường thôi quê Bác thì cũng … được.

Nhưng xe tôi dừng đây là đất Bất Bạt Yên Kì. Ba mươi ba năm kể từ mùa hạ đó. Ba mươi năm rồi mẹ tôi nằm lại nơi này – nghĩa trang Hà Nội.Thành phố của người khuất giờ đây đông đúc cũng y như thành phố của người đang sống, và cũng phân đẳng cấp giàu nghèo. Mộ chen chúc bên nhau, cao thấp, nhỏ to, đủ kích cỡ. Nhưng vẫn còn lại đó những ngôi mộ của mấy mươi năm trước, xây theo quy chuẩn, sụt lún như sắp lẫn vào trong cỏ. Nơi đây chỉ có người ở Hà Nội sau khi sang cát tụ về. Thắp nén hương cho những nấm mồ đơn độc không được chăm nom, lòng cứ quặn lên câu hỏi người thân của người dưới mộ bây giờ ở nơi đâu, không lẽ đã dắt nhau bỏ thành phố này biệt xứ và không có cơ tìm về?

Lòng quay quắt nỗi đau thiếu mẹ chỉ càng già càng mới hiểu. Mẹ, cùng bao người nằm đây đã đi qua những nông nỗi cơ cực nhất của một thời chiến tranh kèm bao cấp. Mẹ không đọc được trong nhật kí của con gái mẹ tuổi mười sáu những dòng này tht tem go s ích gì máu xương ca nhng người đi không v ta chiến thng ri nhưng thng đ làm chi? Nhưng như thế thật ra cũng tốt. Nếu biết trong đầu tôi từ cái tuổi ranh con ấy đã đầy ự những ý nghĩ kiểu này, có lẽ mẹ sẽ lo cho tôi suốt cả những kiếp sau, sau.

Những hàng bạch đàn tơ năm xưa nay đã lên hàng đại lão không chia được bóng mát cho tất cả người nằm dưới mộ. Năm từng năm, nghĩa trang lấn dần sang những quả đồi đá ong lúp xúp nơi đây, trở thành nới kiếm ăn quanh của dân Bất Bạt Yên Kì quê hương Tản Đà. Có dạo, dịch vụ vừa chăm sóc vừa khủng bố cả người chết lẫn người sống nơi này phát triển đến mức công an Hà Nội phải vào trận đánh dẹp. Lên thăm mộ mà không chi đẹp là y như người nhà mình nằm đây bị hành, đau hết cả lòng. Già trẻ lớn bé ở quanh quanh cứ lăm lăm cuốc quây xung quanh người vừa lên thăm mộ, kèo nèo, đòi hỏi, đe dọa. Cả một vùng văn hóa xứ Đoài bị tàn phá chỉ bởi con người phải vật lộn với miếng cơm ăn.

Nhưng bây giờ đất đã lành trở lại. Cô bé chăm nom ngôi mộ mẹ tôi theo lời nhờ cậy của gia đình vác cuốc đứng dưới gốc bạch đàn vẫy vẫy. Phía xa kia, núi Tản xanh mờ, đường viền trên đỉnh thẫm màu chàm, vừa thơ thới vừa đường bệ. Ve ran như là trong kí ức và tôi chia tay mẹ, trở về, mang theo tiếng ve xưa đã mất hoàn toàn giữa phố phường Hà Nội náo nhiệt hôm nay.

 

[còn tiếp]

bài đã đăng của Lê Minh Hà

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)