Trang chính » Da Màu và Bạn, Email bài này

0 bình luận ♦ 7.07.2010

 

 

 

1.

Sân bay Nội Bài. Nóng. Nhưng thoáng đãng. Nhân viên không cười. Nhưng cái nhìn hình như không căng thẳng như nhiều lần gặp trước. Đã chuẩn bị tinh thần cho thằng con trai lần đầu đến Việt Nam về một cuộc chờ đợi làm thủ tục nhập cảnh vừa lâu vừa lắm nỗi bực mình, lần trở về này là một bất ngờ. Nhất là khi cúm lợn đang làm cho thế giới này điên đảo. Thằng con hoan hỉ rằng mẹ nói vậy mà không phải vậy, sân bay Việt Nam to đẹp đàng hoàng hơn cả sân bay Nga, bất chợt ré lên m ơi nước. Nước rỏ tí tách ngay chỗ chúng tôi đứng. Sân bay quốc tế bị giột. Đúng Vit Nam đây ri. Bố già của nó cười khì khì. Vậy là có thể giữ cho riêng mình câu chuyện vừa vô tình nghe và thấy trong toillet. Hai cô nhân viên ngồi xổm trước một đống lõi giấy vệ sinh đã dùng hết, cãi vã nhau tưng bừng vì nỗi khách nhiều ít như nhau mà giấy… chùi … lại (hết) nhiều ít khác nhau ở mỗi ca. Giải pháp đưa tới hòa bình mà tôi được chứng kiến là các cô thoăn thoắt cuốn giấy từ cuộn mới vào các lõi cũ cho có vẻ nhiều, đủ dùng. Đừng nghĩ là tôi nói dỗi. Nhưng có phải là mỗi bước đi chúng ta thêm thương Tổ Quốc chính từ những nỗi này không?

Chỉ bốn năm trước thôi, chính ở chỗ này đây, tôi đã thấy đồng hương của tôi kẹp tiền vào hộ chiếu làm thủ tục hải quan. Và phải nói thực, vẻ lạnh lùng không chịu nổi của nhân viên công vụ không làm tôi e ngại bằng vẻ vừa kênh kênh vừa lo sợ của nhiều người trở về. Từ Đức, nhưng nhiều hơn là từ nước Nga. Rất nhiều người trong số đó về lại quê hương để giải quyết khâu oai bằng cách vung tiền, sau những ngày tháng nhọc nhằn quê người. Tuy nhiên, tiền nhiều vẫn không làm mất đi ở họ cái tâm lí lo sợ vô nguyên cớ nảy sinh ở một thời buổi mà không sống qua thì khó mà hiểu hết.

Chỉ bốn năm trước thôi, chính ở cái cửa cuối cùng để tôi ra với người thân, nhân viên hải quan khi không thấy tôi chìa hộ chiếu có kẹp thêm gì đó đã cấm cảu tôi chưa hi thì ch đng nói và tôi đã nổi khùng tôi hi thì anh ngi làm vic ch này phi tr li. Nổi khùng rồi đâm phát hoảng nhỡ gặp chuyện gì sau rất nhiều lần phải đối mặt với chuyện gì ấy ngay cả khi đã rời xa Tổ Quốc. Thì thế, cứ gì một Nguyễn Tuân sống được nhờ hèn. Cứ gì một Tô Hải tự xưng tôi là thằng hèn. Đồng bào của các ông chỉ khác các ông ở chỗ không biết được điều ấy nên bình tâm sống thôi. Hoặc cũng biết nhưng cư xử khác, giản dị hơn nên nhiều khi được việc hơn, và cái gì không biết chứ không thiếu phần can đảm. Cô bạn tôi, Ái Thanh, mười năm trước truyền cho tôi kinh nghiệm đối phó khi nhập cảnh. Cu ta bo ch phi thế này thế n. Thế cái lut này n đâu đưa ra đây cho tôi xem. Cu ta li bo ch v nhà mà tìm. Tôi chưa xong cái th tc này thì làm sao v được nhà. Cu ta lm bm thôi ch ra đi. Tôi không ra, anh đi din cho nhà nước yêu cu thì tôi là công dân phi thc hin. Chúng nó quay li thì thào con m này điên. Này này  anh bo ai điên. Sau lưng mình là mt hàng người ch đi nhé. Cui cùng thì my cô cu hi quan đúng là phi khuân đ ra, thiếu điu bế theo mình… Phải nghe cô bạn lên cái giọng dân ca ba miền vẽo vọt kèm bộ điệu kịch nói uốn cái lưng phì nhiêu cơ, cứ gọi là mỏi hết hàm vì cười.

Rồi buồn.

Rất buồn.

Nông nỗi (để)  buồn / cười này hầu như không xảy đên cho ai lần trở về này. Trừ với mấy cậu thanh niên người Quảng Bình Nghệ An. Họ bay cùng chuyến với tôi. Mặt rất quen. Trên máy bay, mấy cậu bé hỏi xin đổi mấy chục Euro tiền lẻ. Đ làm gì? Chúng cháu b trc xut cô . Đi tin đ v sân bay nhà mình đút cho các anh công an. Thế s không b gi lâu.

Hiểu rồi. Hiểu vì sao thấy các cậu cứ quen quen rồi. Những gương mặt này, ít tuổi mà không trẻ, những dáng dấp này, còi cọc vì thiếu ăn tuổi bé, tôi vẫn gặp hàng ngày ở trung tâm tiếp nhận tị nạn.

Tại sân bay Nga, suốt thời gian quá cảnh, họ bị giữ bên trong không được ra ngoài. Lúc làm thủ tục lên máy bay, tôi thấy họ, được dẫn giải lên máy bay trước nhất. Mấy chàng trai vẫy chào tôi, mỉm cười, vẻ vừa mừng vừa buồn lo. Tôi biết chúng tôi không bao giờ gặp lại nhau được nữa.

Đấy cũng là một nụ cười của người trở về. Rất Việt Nam quê hương tôi.

 

2.

Phản xạ đầu tiên của thằng con lớn khi lên xe ô tô rời sân bay là với tay quàng dây bảo hiểm. Và không thấy. Ông cậu đang cầm lái bảo dây đang ở dưới đít cháu ngồi ấy và thằng con mặt mũi bần thần vì bất an. Nhưng rồi cậu chàng yên tâm ngay để ngắm cảnh dọc đường. Đây, bờ mương một dãy chuối chưa trổ buồng đứng rũ dưới nắng. Đây, một gốc cổ thụ trùm bóng mát lên những mái quán xiêu vẹo, quán chữa xe, quán cắt tóc, dĩ nhiên, bên cạnh đó là quán nước. Mát mẻ và thân thương tựa hồ những mái quán dọc con đường sơ tán tuổi thơ, những Ba La Bông Đỏ, những Vác ngả rẽ về bốn làng Vân ngả xuôi tới Vân Đình. Gương mặt người lại qua cũng hệt gương mặt người ngày tháng cũ, tần tảo, cằn cỗi mà tươi bưởi. Hình như người khá giả không dừng chân nơi này. Cái khác duy nhất mà tôi nhìn ra là đôi ba cái xe máy tòng tọc dựng trước quán và chồng bia lon nước ngọt hình tháp bên cạnh lọ bánh rán tẩm đường. Và bụi. Bụi mờ mịt khắp con đường dẫn vào thành phố. Thì thế! Nhà cửa mọc lên từng ngày, vật liệu chuyên chở từng ngày thế này. Khắp nơi thấy nhà cửa mới xây cực kì hoành tráng. Rồi còn sự đông người. Người lạng lách xe máy vèo vèo trước mũi ô tô khiến tôi biến thành cái phanh mồm lúc nào không biết. Về tới nhà, thằng bé con cười khì khì đây đi ô tô không cn quàng dây tht m . Con nhìn đng h, tc đ xe có lúc ch 10 km mt gi, không s. Ơ hơ, thế mới đúng là con trai mẹ, biết đường ta ta cứ đi.

Và nó cũng không tỏ vẻ kinh ngạc gì khi xe dừng trước một nhà cao tầng trong một khu nhà lắp ghép cũ, khu Thành Công. Nhà nhà cơi nới, đeo ba lô đằng trước đằng sau. Lởm chởm, lô nhô. Ôi, phố Phái sẽ muôn đời là Hà Nội của một thời dường như xa lắm trong nhịp sống cuồng nhiệt này. Hà Nội của thời tôi, là nhà lắp ghép, là chuồng cọp, còn bây giờ, ba lô đằng trước đằng sau. Bà chị gái tôi, giáo viên, nguyên vợ liệt sĩ, đương kim vợ cựu chiến binh, không được phân nhà cửa gì, liều lĩnh xây hẳn một tầng trên mái, chất lượng căn hộ mới nhìn hơn đứt chất lượng căn hộ cũ mua hỏa hồng. Nhưng có nguy hiểm không? Chị Kim Trâm em gái chị Đặng Thùy Trâm đến chơi, cười: yên tâm, nhà này cht lượng… Liên xô. Xây thêm tng nén xung thì không sao, lao rm st ra đua thành phòng mi còn được na là. Ch là kĩ sư ch… biết. Mấy chị em cười rầm rĩ, rồi cười dịu dàng nho nhỏ dần khi nhắc cùng nhau một Hà Nội của ba mươi bốn mươi năm trước ngày còn tuổi bé, khi Hà Nội còn vườn trong phố, còn hương cây – Những ngày chúng tôi rồng rắn lên mây cùng nhau đi qua chiến tranh.

Khu tập thể Thành Công gần ba mươi năm trước là một bãi rác khổng lồ. Hồi tôi học Sư phạm, đi qua đê La Thành, hay tạt vào đây thăm cô bạn gái. Khi đó khu này là khu tập thể mới nhất của Hà Nội. Vượt qua triền đê (kéo từ Ô Chợ Dừa qua Nhạc viện, qua trường Mỹ thuật Công nghiệp, và đại học Văn hóa) bốc mùi giẻ rách dân đồng nát phơi là tới cái khu này. Có vẻ như hiện đại và hoành tráng và vân vân nhất vào thời đó, chí ít vì ở đó có cả căn hộ ba phòng. Đã nhiều đêm tôi nằm trong một căn phòng cheo leo trên tầng năm, ôm thằng bé cháu mồ côi cho mẹ nó mang chiếu đi giặt nhân ngày có nước, và lắng nghe… Tiếng chim lợn kêu ghê rợn ngoài kia, trên con sông đen lặng lẽ chở trăng mờ. Hai mươi mấy năm sau, đứa cháu đã là một chàng trai trưởng thành, dòng sông còn lại đó, chảy nặng nhọc hơn vì bùn đọng nhiều hơn, và bốc mùi khủng khiếp trước mỗi lần đổi giời. Thằng bé lớn thì cứ đeo theo mẹ hỏi mùi gì. Thằng bé bé buổi sáng theo bố ra hồ, đi men theo con sông bốc mùi, về nôn chớ cả ngày và một ông bạn bác sĩ bảo có thể nó bị ngộ hơi. Nhưng với bố mẹ chúng nó thì bình thường, chẳng có gì lạ cả. Với chúng tôi, đó chính là Tổ Quốc, là thành phố quê hương, là tuổi trẻ cọc cằn vì thiếu đói thời bao cấp, mà lòng vẫn im lìm xôn xao bao nhiêu khát khao.

Khu Thành Công giờ biến đổi, cũng với nhịp điệu y như mọi góc phố, ngõ hẹp ở thành phố này. Thành Công cũ thì xuống cấp, cơi nới loạn xạ. Thành Công mới, phải gọi như thế chăng cái phần phình ra sau này, là khu Láng Hạ, thì khác hẳn. Trên mảnh đất hôm nay sừng sững những ngôi nhà chọc giời, một ngày đã xa mà không muốn quên, tôi thả tóc bay trong gió trưa chang chang nắng cho đỡ nóng, đạp xe trên con đường nối từ Giảng Võ sang Láng qua một cánh đồng rác mênh mông. Đi mượn giáo trình ngôn ngữ của trường Tổng hợp để về lòe mấy đứa bạn Sư phạm. Kinh thật. Nghĩ mà phục tuổi mình. Làm sao ngày ấy đói xanh xao mà vẫn có thể nhồi vào đầu đứa thì cổ điển đứa thì sức bền vật liệu, và vẫn rưng rưng được cùng nhau trước một… chẳng hạn như câu thơ này hơi lnh nào ngón tay cm se giá sut cuc đi chưa hiu hết vì sao (Lưu Quang Vũ). Chỉ đơn giản vì Đẹp. Chẳng lẽ chỉ đơn giản vì Đẹp? Cho đến bây giờ, tôi biết, vẫn có những người chưa thôi tự hỏi mình câu hỏi này.

 

3.

Hà Nội nóng khủng khiếp. Hơi nóng tỏa từ trời, dâng từ dất, phả ra từ trăm ngàn ống xả xe máy chạy điên cuồng trên phố, từ những máy điều hòa nhiệt độ lổm chổm chồm ra từ mọi bờ tường. Lại nhớ lần về trước, cũng ngày nắng hạ thế này, chủ nhân blog Quê choa, nhà văn Nguyễn Quang Lập đã i em ơi em v mùa này nóng không chu ni đâu”. Mà ông anh chính cống dân xứ bọ, đất gió lào cát trắng Quảng Bình đấy.

Trong buổi chiều nóng nung người ngay sau hôm về, tôi nhận được lời mời tham dự một cuộc triển lãm của mấy họa sĩ sắp đặt, từ nhà văn Lê Anh Hoài, tác giả cuốn “Chuyện tình thời tạp kĩ”, cũng là người hóa thân vào tác phẩm hội họa “Cột điện” (dĩ nhiên, của Hà Nội, nơi chó và người đều có thể bắc cầu vồng dù có biển đề cấm đái, nơi người ta có thể treo lên đó đủ thứ quảng cáo, từ tư vấn du học đến thuốc chữa bệnh tổ đỉa hay liệt âm liệt dương). Người đàn ông trẻ này tôi đã gặp lần đầu cách đây bốn năm, trong một bữa ăn trưa chung cùng với nhà văn Phạm Xuân Nguyên và Đỗ Hoàng Diệu. Và khi đó, tôi đã không dám thú nhận rằng mình cảm động. Chẳng lẽ lại có thể nói điều ấy dễ dàng trước một đĩa thịt ngan kếch xù. Nhưng đúng là như vậy, khi anh nói về cảm giác của anh khi đọc những dòng chữ tôi viết về  Hà Nội, và những ngày xanh xưa chúng tôi… Hai nhà văn Phạm Xuân Nguyên Đỗ Hoàng Diệu bây giờ còn công dân Hà Nội Phố hơn cả tôi, nhưng kí ức về một bờ tường hồng dịu màu hoa tigon chạy suốt đường Thụy Khê, về mùi lá sen tàn từ một góc hồ Tây thoảng về với phố, về tiếng chuông xe đin trong màn sương rng sm, và nng nh trên hàng cây rét mun có th nào không xui tôi nh (Bằng Việt), thì tôi chung với Hoài. Cả hai tác phẩm văn và họa của Hoài đều có tiếng vang xa cả. Tác phẩm văn tôi đã đọc trên dạng bản thảo, mỗi tuần Hoài viết gửi một chương, cho ngày cuối tuần hai vợ chồng tranh nhau đọc rồi cười sặc sụa vì buồn cười quá. Hiếm có nhà văn Việt nào hài hước được như Người Hà Nội này. Chỉ tức nỗi Internet tuyệt vời, nhưng lại không được tin cậy trong khả năng sàng lọc. Thế nên khi tôi gửi bản thảo của Hoài đi tứ tung, chẳng thấy ai cười cùng, có lẽ vì chẳng ai để tâm đọc. Nhưng khi in ra, tác phẩm đã nhận được rất nhiều lời bình chắc nịch: Hay! Ừ, văn chương còn cần gì hơn thế. Và điều này làm tôi lại tin lắm vào sức mạnh của chữ, vào sức sống của mỗi cuốn sách chúng ta cầm lên tay. Cái còn lại để băn khoăn chỉ là ta có đủ sức dành thời gian cho chính mình, tìm về với chính mình qua chữ không thôi.

Cuộc triển lãm của Hoài và các bạn được tổ chức tại một xưởng vẽ của một trong số họ. Nói cho oai, nó giống một nhà kho bỏ không, mái tôn, nằm ngay trên bờ sông Tô Lịch và muốn vào thì phải vượt qua bụi bặm của cả một con đường đang mở, một ngõ nhỏ khấp khểnh chỗ ổ gà chỗ sống trâu, nhưng đâu đó vẫn còn lại dấu tích của một con đường làng lát gạch nghiêng từ một thời ca dao nào xa xôi lắm. Người đến rất đông, và phần lớn còn rất trẻ, trẻ nhất có lẽ là thằng bé con hai mươi tháng tuổi của tôi. Những bó hoa, một bom bia hay là trà đá gì đó tôi không rõ, dăm ba đĩa ổi găng và nhãn…  và những nụ cười, thân tình hồ hởi của khách, phấn khích bồi hồi của chủ. Nói thật là tôi rất ngạc nhiên. Lâu lắm rồi tôi không tham dự vào một hoạt động nghệ thuật như thế này, không biết có thể có một hoạt động thuần túy nghệ thuật như thế này. Bốn năm trước, khi tôi về, mọi người đã rủ rê hò hẹn đến với chương trình đọc thơ của nhóm Mở Miệng tại viện Goeter, để rồi ngày trước lúc khai mạc cả lũ chưng hửng vì tin nhóm Mở Miệng không được mở miệng, chương trình bị dừng vì những lí do hành chính gì đó. Nhà thơ Dư Thị Hoàn tổng kết tại gia: Buổi đọc thơ đã thành công rực rỡ (vì bị cấm) và rủ tất cả về phố biển. Tiếc tôi là đàn bà, về được có mấy ngày, mải chơi đến mấy vẫn không dám bỏ việc nhà theo nhau đi rong.

Cuộc triển lãm của các bạn họa sĩ diễn ra suôn sẽ, có phần còn được trời chiều. Sấm. Chớp. Gió. Sáng lên. Thốc lên. Tưng bừng mưa ca trên mái tôn. Nhưng mùi sông không chảy ngoài kia vẫn đặc quánh. Còn trong, thuốc lá toả khói mù mịt. Thằng con lớn tủm tỉm “mẹ lại bảo thế này mới thật Việt Nam đây” khi tìm cách lẩn ra cửa hứng mưa tránh khói thuốc.

Dĩ nhiên là sau khi đã chắp tay sau đít ngắm nghía. Lê Anh Hoài với tác phẩm mang ngay trên người: Một mũi tên hào hùng lao xuống dưới và dòng chữ Tiến lên, trắng trên đen, rất nổi. Trần Đủ với những bức họa không hình khối, giống những tấm bảng ngày sơ tán xa xôi chúng tôi vẫn sơn quét bằng cách mắm môi mắm lợi chà xát bằng lá khoai nước. Còn nữa, của các nghệ sĩ khác: Một cái vò đặt hơi nghiêng, miệng tỏa sáng. Ba cái ghế đóng vào nhau trong một thế chênh vênh. Kim găm kín trên đầu trên cổ các gương mặt Phật… Và tuyên ngôn nghệ thuật của từng người. Không mang tầm triết học, không sâu xa như tuyên ngôn của nhóm Dạ đài ngày nào, nhưng đủ để thấy sự quẫy cựa đòi bùng nổ của khao khát sáng tạo.

Mưa vẫn rơi. Ngoài cửa, chớp loé làm sáng lên trong khoảnh khắc màu nước sông đen và đặc. Rất ấn tượng. Chợt tôi hiểu vì sao ngay trong cửa xưởng vẽ này lại có một bức tường và mấy bậc cầu thang. Để ngăn nước sông Tô lịch dềnh lên. Một cô bé chắc phải là chỗ thân tình lắm với chủ nhân giải thích. Hà Nội mùa này nhiều mưa lắm, và từ ngày đất nước đổi mới, người và nhà lớp lớp sinh ra, mọc lên, Hà Nội thường xuyên ngập sau mưa.

Chợt nghĩ, nếu mình cũng là họa sĩ, mình sẽ làm một dãy mũi tên đồng, phải sáng phải ngời, men theo bờ sông khấp khểnh, tới trước xưởng vẽ trống trơn có bức tường này, đặt ở đó một tấm biển thật hiện thực chủ nghĩa: Nơi sáng to ca ngh sĩ. Rồi cho người người ngày ngày đi qua.

Thế không phải là một tác phẩm nghệ thuật (có khi xứng đáng là hậu hiện đại) sao?

 

4.

Lần trở về trước, dù rất lo ngại cho hai cái đầu gối giữa dòng xe máy lạng lách điên cuồng, tôi vẫn suốt ngày long rong trên phố với mấy đồng chí xe ôm. Và tôi đã phát hiện ra rất nhiều anh xe ôm là người thành Nam. Lần trở về này, muốn làm chó cái trốn con cũng không xong, vì con bám mẹ quá và còn bé quá, nên đi đâu tôi cũng tha lôi theo cả nhà. Và vì thế lúc nào cũng phải gọi tắc xi. Và lại thú vị với phát hiện mới tinh, rất nhiều tài xế tắc xi là người Nam Định. Cũng có anh bạn loè người Hà Nội là tôi, chở lòng vòng khắp các phố mới mở mù mịt bụi để tới một phố sát nhà, lấy cớ đường tắc, đường một chiều, dễ bị các anh hùng Núp – một cách gọi cảnh sát giao thông rất gợi nhưng cũng không còn thông dụng lắm – xử lí. Nhưng nhìn chung, những phút ngồi tắc xi với tôi cực kì dễ chịu. Chẳng phải vì máy lạnh. Ơ hơ, sá gì cái nóng do hiệu ứng ống xả bê tông lung tung này. Mà là câu chuyện cùng họ. Chính là trước họ mà tôi nhận ra thành phố này biến đổi, thành phố này đang tạo cho nó một lớp người riêng. Trẻ. Học nhiều và học ít. Nói ngọng. Liều lĩnh và cam chịu, cần cù. Trong cách sống của họ có không ít điều với người Hà Nội cũ dường như chưa ngấu, chưa nhuyễn. Nhưng quả thật, chính là họ đang làm nên một phần rất cơ bản gương mặt của phố hôm nay.

Đúng là thế. Miếng xôi xéo sáng nay tôi vừa ăn không thoảng vị lá sen già, vì đựng trong hộp xốp. Vẫn cứ tưởng do một ban tay đàn bà phố nhỏ làm ra. Mà không phải, do một cặp vợ chồng trẻ người tận Đông Anh ngày ngày nấu, chở sang Hà Nội. Cứ lầm lũi hăm hở thế, mỗi ngày họ nhồi veo veo vào bụng người Hà Nội mấy thúng xôi xéo xôi vò, là cái miếng ngon một thuở tưởng chỉ đất này mới có. Ngọn rau thơm nhỏ nhỏ, vị không thật đậm, nhưng đúng là rau thơm Láng, cầm lên tay tần ngần biết chẳng còn được trồng đất cũ. Ở đâu? Chc Giang Biên Đông Dư gì đy. Bà chị gái, dạy học trường Láng Hạ thản nhiên giảng giải. Tc đt tâc đô rô (đo la, euro), ai điên đ đt trng rau ri ngi khóc vi tri mưa tri nng. Chợt nhớ một ngày xa xôi lắm một lũ con gái con trai học trò Hà Nội phải đi lao động, thực tế là sang quấy nhiễu bà con nông dân hợp tác xã Giang Biên. Cả lớp quây quần bên một luống đất đã được cào xới tinh tươm, trêu chòng nhau cho quên đói, chờ đến lúc được thót lên xe qua cầu Long Biên ngược về với phố. Đằng xa kia, trên cánh đồng mênh mông gió, những dáng người hì hụi úp mặt vào đất. Sau này nghĩ lại cái sự đi lao động của mình và của các phụ mẫu, cả lũ đều cười. Rồi, kinh ngạc. Có một thời như vậy thật sao? Chỉ vục tay vào đất, chỉ quai búa, đục, khoan… mới được quyền tự hào công khai. Nhưng, vinh quang mà thiếu đói. Nhưng, từ đó, không ai được yên thân với công việc của chính mình. Nên mới có niềm vui quái gở cơ quan bộ này lôi nhau đi trồng sắn cơ quan bộ khác lôi nhau đi trồng rau, để cuối mùa chia nhau củ sắn dài ngoằng nhỉnh hơn củ sâm Triều Tiên, và dăm ba mớ rau cằn.

Chợt tưởng như mình còn đang đứng giữa cánh đồng mưa phùn gió lạnh đằng sau khu vực trường Đảng, thời sinh viên, dịp học quân sự, cười sằng sặc với nhau vì câu ca dao về vườn cây của các học viên trường này không biết đứa nào mới sưu tầm hoan hô các c trng cây mười cây chết chín mt cây gt gù thế là các cháu ta mù mười cây chết c gt gù ch nào. Ôi những nụ cười tím. Vì rét. Mấy đứa bạn sinh viên người vùng xa lúc nào cũng chỉ thấy mặc có hai cái áo cánh, tay săn nổi da gà. Cái lạnh một thời, lạnh từ trong ruột lạnh ra, lạnh run chân, vì đói. Giờ ai nhớ?

Vườn cây xưa dĩ nhiên không còn nữa. Con đường qua đó dẫn về dốc Bưởi ngày xưa không tên cô đơn trong trưa trong chiều bây giờ xe cộ gầm gào và mang tên một lãnh tụ Đảng hi sinh từ hồi bóng tối. Nhà cửa mọc lên kín mít. Đất ở đó chắc vào hàng đắt nhất Hà Nội. Không thể không trầm trồ vì vẻ đẹp, và trước hết là giá trị tiền bạc của từng ngôi nhà, và sau đó, lực tiền lực bạc của chủ nhân. Nhưng cũng không thể phân biệt được kiến trúc của cả quần thể. Thời nào? Có mái vòm mái chóp. Có cột tròn cột thẳng. Cái giống nhau duy nhất là cửa sổ nhà nào cũng lắp chấn song sắt rất chắc. Kiến trúc thời nào đây? Vài mươi năm sau liệu điều này có là câu hỏi cho các sinh viên trường Kiến trúc? Chc là không! Anh bạn kiến trúc sư cười khì khì. Phá ri xây là đip khúc bài ca xây dng ca dân mình mà, khi quy hoch lon cào cào thế này và giy phép xây dng được cp không theo quy hoch mà …

Có thể! Tôi vừa được một người bạn cũ mời tới thăm nhà. Ngôi nhà cũ, rất đẹp được xây cách đây chưa đầy hai mươi năm vừa bị đập bỏ xây mới. Mnh nh – Tôi trầm trồ. Mnh gì – Bà mẹ già của anh bạn mau mắn trả lời – Thế thi phi thế thôi cháu . Ngày trước, nhà cô cao hơn mt đường gn mt mét, ri đt lún, tôn đường, nn nhà thp hơn mt đường cũng gn mt mét, nhng ngày mưa…

 

5.

Ơi chao những ngày mưa Hà Nội. Khi viết cuốn Gió t thi khut mt, dường như tôi đọc thẳng từ gan ruột mình ra mấy câu này: Bui chiu ngi ngóng nhng chuyến mưa qua – Trên bước chân em âm thm lá đ. “Nhng chuyến mưa qua…” Phi. Hà Ni mùa này nhiu mưa lm… Nhng cơn mưa buc người ta ngi li, lng l nơi này, đ, đôi khi, ch đôi khi thôi mà lòng đau đn mãi. “Nhìn li li mình đi đã xanh rêu”. Như không phải là mình viết nữa, mà là thời gian đục thẳng vào tâm hồn chúng tôi. Đau. Và rất chậm.

Mưa hôm nay trên phố phường Hà Nội khác quá những cơn mưa ngày tháng cũ. Trước cơn mưa không có cái lặng phắc của cây lá, không có cái nhịp điệu nhanh dần của những vòng bánh xe đạp quay quay, không có cái cảm giác gió lùa tóc bên vai, mơn man má nhỏ. Sau cơn mưa thiếu tiếng ve hớt hải gọi mặt trời về, thiếu những giọt mồ côi rơi từ lá rũ, trên hết, thiếu cảm giác thanh sạch, trong veo, nhẹ bỗng, tưởng chừng có thể bay lên.

Mưa hôm nay trên phố phường Hà Nội khác quá những cơn mưa ngày tháng cũ. Giống cơn mưa Sài Gòn. Sầm sập. Rào rạt. Một ngày nào xa xôi lắm tôi đã giang tay giữa một cơn mưa như thế. Hai mươi mấy năm rồi. Ngày đó cái áo đi mưa của người Sài Gòn còn là ao ước của dân Hà Nội, vốn quen chỉ có hai tấm nilon choàng trước choàng sau làm phép, nói thật, với bọn con gái chúng tôi chỉ có độc tác dụng che đôi vú hùng dũng nhô lên sau lớp áo mỏng ướt sũng. Trên một con đường Sài Gòn năm đó có một dáng con gái váy áo trắng tinh lướt thướt phóng xe máy trong mưa, hệt một cô dâu chạy trốn khỏi phòng cưới trong một bộ phim Triều Tiên Hồng Kong gì đó ngày nào cũng được phát trên sóng ở Việt Nam. Dim My! Dim My! Có bác xích lô Sài Gòn nào hân hoan. Cơn mưa phương Nam gắn với tôi hai mươi mấy năm qua cùng gương mặt người đàn bà cực kì khả ái quyến vờn cả nước khi đó.

Cơn mưa Hà Nội của chúng tôi cũng hân hoan, theo một cách khác. Lặng lẽ và dịu dàng. Tôi, vốn không phì nhiêu trong thời con gái, vốn khổ vì bệnh nắng mưa, mà vẫn cứ liều lĩnh tự thỏa mãn mình bằng cái thú đi chơi trong đêm mưa, ngang nhiên bước giữa lòng phố. Cùng hai người bạn cũng hâm dở như tôi. Một đứa con gái, hai thằng con trai, chúi trong một tấm nilon được sáu bàn tay cùng giữ mà vẫn phồng lên, chỉ chực bay như một cánh buồm giữa phố. Hình như chúng tôi không nói gì. Hình như mưa to lắm. Hình như bắp chân tôi ngứa ran vì mưa. Mưa dập dồn ca hát trên tấm nilon. Lòng chúng tôi ca hát. Hình như bàn tay tôi chạm vào tay ai, nóng bỏng mà ướt át … Ơi chúng mình ơi!

Nam thanh nữ tú bây giờ có muốn điên như chúng tôi ngày xưa cũng không thể nào điên nổi. Con mưa giông mưa trận ập về. Trên mọi ngả đường, dòng xe cộ lầm lụi trôi đi. Không dừng. Không chậm. Mưa không át nổi tiếng động kinh hoàng vọng lên từ dưới phố, có chăng, chỉ làm ngắt quãng được cái giai điệu ẽo ợt chẳng biết dân ca quan họ nước nào vọng ra từ nhà hàng xóm. Mấy hôm đầu nửa mê nửa tỉnh, tôi ngỡ nhạc phim Triều Tiên Trung Hoa Banglades gì đó. Nghe mãi mới ra bốn chữ nước mt tuôn rơi. Chắc là cái người ta gọi nhạc não tình nhạc thị trường gì đây. Cười thầm hồi chiến tranh giả dụ cái thứ nhạc này được phép phổ biến, chứ không phải ta vượt trên đnh núi cao Trường Sơn đá mòn mà đôi gót không mòn  ta đi nhm phương nam ta v quê hương quân v trong gió đang dâng triu lên… (Bước chân trên di Trường Sơn – Vũ Trng Hi) thì cầm chắc miền Nam thắng. Nhưng, giả dụ là như thế, với cái não trạng không đi cùng tao thì là kẻ thù của tao của rất nhiều người Việt chúng ta, Việt Nam hôm nay sẽ như thế nào?

Thắt ruột vì một câu thơ Lưu Quang Vũ viết từ 1972, trên đất nước thời giông bão. Người ta còn mun gì người na  – Vit Nam ơi? Bởi vì tỉnh với quê hôm nay, những cảnh đời hôm nay, dù khác, vẫn còn nguyên đó cái vất vả và thương khó. Trong mưa, nỗi đó thêm nhọc nhằn.

Đây, một góc chợ chiều. Hàng quán rũ liệt không có người vào ra chao chát. Mưa gõ trên mái nilon, mưa hắt thẳng vào sạp hàng xanh xanh đỏ đỏ toàn đồ Trung quốc rẻ tiền bày ra trong cái chái vẩy thêm từ một căn hộ chung cư cũ. Cô hàng thịt quay luống cuống kéo tấm nilon che nơi đứng bán. Chị hàng rau người teo nhách khép nép đứng ghé dưới mái quán ăn. Có con bé hôm trước vừa bán cho tôi mấy quả dứa vừa kể chuyện tranh thủ đi buôn vặt thế này mấy tháng hè, hi vọng sang năm bố mẹ không bảo thôi con ngh hc tùm hum trong cái áo mưa đứng như trời trồng bên cạnh chiếc xe đạp kềnh càng hai sọt hàng. Nó dân ở Phùng, nó học ở chính cái trường huyện tôi bắt đầu kiếp nhà giáo nhà nghèo của mình. Qua Diễn qua Nhổn qua Trôi Đăm là tới, chỉ cách Bờ Hồ chừng 30 cây số, có thời nhập tách và bây giờ lại nhập về Hà Nội. Quê ông Quang Dũng Tây Tiến đấy, người có câu thơ không hiểu vì sao tôi cứ muốn nhớ thành “chiều xanh không thấy đáy Ba Vì”.

Trong mưa, tôi nghe thấy một lời mời. Ngoảnh lại: người lái xe ôm tùm hụp trong cái áo mưa xám nhờ, chỉ thấy mắt chẳng biết già hay trẻ, ngồi trên cái xe ôm chân co chân duỗi. Y như con cò gầy. Cái cò đi đón cơn mưa … Con cò mày đi ăn đêm… Cái cò ln li b sông…

Chúng tôi cũng đang đứng trên một bờ sông. Sông Tô Lịch nuốt chửng bụng nước phì xuống từ trời, phềnh lên chiếm lĩnh hai bờ. Mùi nước sông nồng nặc trộn với mùi rác từ ngõ chợ, quẩn rõ mùi vỏ mít nẫu dưới nắng nay rã dần trong mưa. Một anh chàng đứng dé chân chèo trong cửa tiệm Internet cách mặt con sông đen chưa đầy hai mét đang đùng đùng đoàng đoàng trò chơi game gì đó, khoái chí điều gì cười hầng hậc rồi văng tục. Cực kì sảng khoái. Có phải vì nóng nung người nay được trận mưa chăng?

Sự sống là thế ư? Cứ than ngán ngẩm hoài với nhau, mà chẳng bao giờ chán sống.

 

6.

Nhưng thật ra, khi phải vật vã với cơm áo hàng ngày, người ta chẳng than van. Có mệt vì áo cơm đến mức khùng lên, nói bằng ngôn ngữ của tuổi trẻ thời nay là chán (đến mức) ct chng bun ăn thì người ta cũng chỉ chửi rủa dăm ba câu một mình nếu chưa tìm ra đối tác để gây hấn, chứ thật ra chẳng thấy ai ngồi ngẫm ngợi với nhau về ý nghĩa tồn sinh như mấy anh ra tiền.

Chẳng hạn như cậu bạn thân của tôi.

Cứ ngồi cười khành khạch với nhau mỗi lần gặp mặt rằng may mà không lấy nhau chứ nếu không chẳng đứa nào biết thế nào là yêu, vậy mà quay trước quay sau đã ba mươi năm có lẻ là bạn, là cái tai nghe cho nhau những lúc gieo neo trong đời. Tôi lẩn thẩn đến giờ vẫn chỉ biết có một… – thôi, nhớ cái câu cực hay của bà lão nhà quê trong Bài học nông thôn của Nguyễn Huy Thiệp mà không dám dẫn, kẻo lại bị cho là (hì hì) – , còn bạn, hai đời vợ, mấy dòng con, vậy mà cái tình dành cho nhau vẫn vẹn nguyên cái tình tuổi học trò vô tư lự.

Đến thăm bạn ở khu Nam Thăng Long, hay còn gọi là Ciputra, thú thật là tôi choáng vì sự giàu có của ông bạn cũ. Nằm trên đất Phú Thượng gần hồ Tây, khu nhà rất hay được lên báo này giống hệt một góc phố ở một nước châu Âu nào đó, có điều hoành tráng hơn nhiều. Và có vẻ mi ni hơn nhiều. Thật, làm gì có một khu phố nào ở châu Âu dành cho dân, kể cả trên tiền, lại có cả đàn ngựa đúc đồng lồng lên với trời cao ở đầu phố cuối phố. Làm gì có khu dân cư nào ở châu Âu có người gác và người đi tuần ngày đêm như ở đây. Hệt những quãng phố ở khu Ba Đình thuộc diện bảo mật, như Nguyễn Cảnh Chân, Phan Đình Phùng, Hoàng Diệu… Những biệt thự nằm bên nhau, tĩnh lặng. Những chiếc xe ô tô Mercedes bóng lộn, thù lù trong ga ra. Rồi dây leo, tán cọ thập thò vượt tường. Có cái gì đó chuẩn mực đến thành không thực. Càng không thực khi phố xá trong khu đó gần như không có bóng người ngoài đôi ba bóng đồng phục đi tuần. Ngoài kia, con đường Lạc Long Quân đang mở, xe cộ gầm gào, các gia đình mới chòi được ra mặt đường thi nhau xây nhà cao cao mãi, lởm chởm, quê mùa, hoạnh tiền, đầy vẻ thị xã tỉnh lẻ, bụi mờ mịt chỉ chực một cơn mưa đổ xuống để đáp trở lại mặt đất và biến thành bùn. Nắng lóa mắt và trời thì xanh. Vô ưu.

Gặp, chòng nhau tiếc không lấy nhau để được làm đại gia bà trước ống kính camera của đương kim chồng, mà lòng xót cho bạn quá. Già, béo, xệ ra. Ông chồng tôi đùa sao giống cựu thủ tướng Nam Triều Tiên. Còn tôi thầm nghĩ sao bạn mình giống hệt một tay viên chức cao cấp ở một cái hãng nổi tiếng nào của Nhật sắp tự tử vì căng thẳng. Có thể là tôi còn bị ám ảnh bởi câu chuyện dài về đường trường làm ăn của bạn mình bốn năm về trước. Chuyên môn giỏi? Chưa đủ! Đào tạo tại nước ngoài? Chưa đủ! Còn phải biết. Biết gì? Bạn cười khì khì. “Ngày xưa Nga viết thư cho Hà, toàn nhng chuyn đi do trên b sông Neva, xem lá mùa thu trong vườn Leningrad, nghe hòa nhc Riga. Bây gi thì là gói thu, d án, đi tác, nhng cuc nhu nht và nhng chuyến bay… Bây gi mình biết ung rượu ri. Gan nát hết vì rượu. Nhưng không thế thì không làm ăn gì được.”

Một ngày sau buổi gặp gỡ đó bốn năm trước, tôi đi Hải Phòng. Trở lại Hà Nội, chui vào ngự trong cái xe chẳng biết mấy trăm ngàn euro của bạn, tôi đã cười khi bạn bảo „my hôm ri không kp nh ra Hà đang Vit Nam. Nếu không thì Hà đã chng ngi yên Hi Phòng đâu“. Ngỡ tình xưa nghĩa cũ chứ. „Chán quá. Chán đến không bun cáu. Mình đã thu xếp tt c đ đc phòng làm vic. Tính tung hê. V nhà nm, t dưng nghe tiếng tr con léo nhéo ngoài ph, li nh  mình còn con, mình không có quyn.. Nhưng … Như thế này mà là sng ư?“

Những đàn ông đang nháo nhào chạy xe, đang khuân vác, đang đào đất ngoài phố xa kia, những đàn bà đang nhớn nhác với gánh hàng đầu ngõ chợ, mặt mũi khắc khổ nhưng dễ cười hơn chúng tôi. Họ không biết có nỗi băn khoăn của bạn tôi, một đại gia: Như thế này mà là sng ư? Chỉ đơn giản là họ sống. Họ không có điều kiện để chọn lựa. Và sống với họ là làm sao đủ áo cơm, đủ tiền xây lại cái nhà, cho con ăn học.

Sống, với nhiều người, là còn hay được thở ra hít vào, đôi khi chỉ giản dị là như thế.

 

7.

Tôi lại lí sự mọn mất rồi. Sống không thở ra hít vào thì chẳng lẽ lại thở vào hít ra.

Cái sự thở hít sao cho cờ lờ xờ – CLC – chất lượng cao nay với nhiều người Hà Nội là rất quan trọng. Thành phố phình tướng ra, bao nhiêu con đường mới mở, các loại máy móc động cơ thi nhau gầm gào. Ô nhiễm âm thanh tạo cho mọi người khả năng nói to nghe nhỏ hay sao ấy. Khả năng mà tôi chưa có. Cứ phải nhấc điện thoại gọi hay trả lời là tôi luống cuống tìm chỗ để nghe. Lúc vào cầu thang máy đóng cửa một mình vi vu lên cao xuống thấp. Lúc chạy vào chỗ chẳng ai lại vào đó ăn hay nói. Lúc lao ra bãi đỗ ô tô. Nói chung, ở Việt Nam, chỗ này khá yên tĩnh vì lượng người có xe chưa được bao nhiêu… Chạy trốn âm thanh đã khó, chạy trốn không khí là bất khả. Ai có thể chấm dứt được cái sự thở ra hít vào. Sáng trưa chiều đêm mù mịt bụi, và khói, toả ra từ trăm ngàn ống xả xe máy gào rú trên đường. Trước khi tôi về thành phố còn bị phong tỏa bởi có nạn khói mù. Nguyên do đọc trên báo mạng thấy có nhiều, chẳng nhớ. Bà hàng xóm cao giọng giải thích tựu trung lại hoặc do nông dân ngoại thành đốt rạ sau khi hết vụ, hoặc do hiệu ứng thời tiết lung tung gì đó làm nghẹn mạch lưu thông không khí. Những ngày đó Hà Nội lúc nào cũng như lúc thành phố lên đèn giăng mù sương mùa thu ngày xưa, chỉ khác là nóng hực và khó thở. Ông anh rể hể hả may, ch v đúng my hôm đó thì bn mt m chân chm như v chng con cái cô chú khéo không dt díu ni nhau qua đường. Bà chị gái thử giọng trước giờ đi dạy với chị hàng xóm, rằng nếu con bé (là tôi đấy, sáu mươi hai cân hơi và tuổi thì sắp đầu năm đít chơi vơi rồi) v vào đúng hôm có khói mù thì chc my thng bác sĩ phi bế thng t sân bay vào bnh vin cp cu. Bà chị thuộc loại du kích nhà ta ra thành phố, chẳng phân biệt được phương hướng, tưởng Nội Bài gần Trâu Qùy bệnh viện tâm thần, ra sức giảng giải tôi có nhiều bạn qúy là bác sĩ, kể cả bác sĩ ở Trâu Qùy, vào là được cứu chữa lập tức. Ơi giời, giá kể với ai có công cứu tử cũng phải lấy thân ra đền bồi thì tấm thân quả mít này biết xẻ bao nhiêu cho đủ.

Nhưng mà tôi đang đứng trên ban công một ngôi nhà cao tầng giữa Hà Nội bụi và khói bình thường. Không biết cái nơi một thuở vườn trong phố dù có đi bốn phương trời lòng vẫn nhớ này thở bằng lá phổi xanh sạch nào. Bây giờ. Những hàng cây thâm nghiêm trên phố cũ ngày xưa, những cơm nguội, những sao, những bằng lăng, phượng vĩ qua mùa hoa trông cằn cọc tội nghiệp bên vô thiên lủng nhà cao tầng mặt tiền hẹp nhảy hai bước là hết. Phố mới, cây vừa tròn bóng chưa lâu. Lại thêm giờ trên rất nhiều con đường mới mở chỉ thấy trồng cọ hay cau vua, không có bóng lá, nhang nhác những đại lộ Sài Gòn hay Los Angeles. Những làng quả làng hoa phía bắc thành phố, những Nghi Tàm Nhật Tân Quảng An Quảng Bá Xuân Đỉnh Xuân La giờ rối rít người xe, kín mít nhà cửa. Hồ ao thì ở cái nơi đất trên trời này đã được đắp được lấp. Những hồ ao tự nhiên mạn Đền Lừ, Ô Cầu Rền, Tương Mai, Quỳnh Lôi, Chùa Sét xưa nhiều khi chỉ phân cách nhau bằng con đường làng mảnh dẻ, đi qua sau mỗi trận mưa mà sơ ý hay cố ý làm trệch vòng bánh xe nhau một chút là đã có thể lăn ùm xuống với rau muống bè, nay không còn dấu tích. Hồ Tây, một chiều xưa hào hển chở tôi vượt dốc Yên Phụ, cô bạn ít khả năng tưởng tượng đã chỉ bảo “c đng mt góc h, tt nht phía đường C Ngư, thaó kính ri nhìn qua h sang bên kia, đng nào mày cũng ch thy nhà ca đèn đóm gì, thế là coi như đã ra ti bin” nay bé tí hin, vì nhà cửa nêm san sát quanh hồ và cả vì mấy nhà hàng nổi. Thạch Lam giá còn sống ở cái nhà ven hồ Tây ngày xưa, dăm ba tuần gọi xe ben chở cho vài chuyến đất đóng kè đổ xuống thì khéo có thể gọi cả con từ Mỹ về cho hưởng thừa kế triệu đô không chừng. Ấy nhưng tưởng tượng này xúc phạm Thạch Lam rồi . Ông – Người Hà Nội của một Hà Nội nhã đến không thể nào nhã hơn thế, ông bỏ quá cho con.

Hà Nội hôm nay hừng hực sống. Hà Nội hôm nay không còn là đất của người đi nhẹ nói khẽ ăn ít no lâu. Hà Nội bụi và khói. Hà Nội bốc đủ thứ mùi đời. Trên mỗi bậc cầu thang ngôi nhà chung cư xập xệ này, phả vào tôi mùi hành tỏi phi, mùi cá rán, mùi canh măng nấu cá. Bước qua đường, mùi nước con sông hấp hối sát bên nhà, mùi chợ cóc xộc thẳng vào khứu giác. Cái chợ này ngày tôi ở nhà chưa có, thành hình chắc trên cơ sở cung cầu tự phát, họp ngay trên nền một trường mẫu giáo cũ, phình ra thu lại giữa các khối nhà. Một đồng nghiệp cũ của tôi hiện vẫn sống trong một trong các khối nhà đó. Cô bạn chung bàn với tôi thời cấp ba hiện đang thu mình sau sạp hàng tạp hóa ở đầu ngõ chợ đó. Với tác giả tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh và tác giả trường ca Trầm tích, nơi này cũng từng là một cõi đi về.

Tôi nhớ Nam Cao. Nhớ Điền của ông. Đã ngồi viết, giữa tiếng con khóc, tiếng vợ léo nhéo và cả tiếng chửi của người hàng xóm ban đêm mất gà. Sông Tô Lịch ngày ông còn vật vờ kiếp sống mòn trong ngôi trường tư ngoại ô chắc chắn chưa bốc mùi như bây giờ.

 

8.

Thế nên sự người Hà Nội chăm lo cho việc thở ra hít vào là rất bình thường. Có tiền thì xây nhà to để phòng rộng chơi bóng bàn tại gia, cuối tuần lên trang trại chơi trò nông dân nghiệp dư hay du ngoạn các vùng sinh thái, hay chơi gôn, hay chơi tennis, hay đi bơi trong bể bơi thuộc khách sạn năm sao, hay nhảy tàu bay bay tuốt qua châu Âu tránh nóng. Ít tiền hơn thì tập luyện quanh nhà. Đứng trên ban công nhà bà chị nhìn qua hồ Thành Công, giờ nào cũng như giờ nào tôi đều thấy người rồng rắn vì lí do sức khoẻ. Giữa một khu chung cư lớn, cũ, xập xệ như cái khu Thành Công này, hồ Thành Công xứng đáng là mắt ngọc. Nếu nó lóng lánh giữa một khu vườn lớn thì tuyệt lắm. Nhưng đất Hà Nội có giá thế này, cái hồ chỉ còn được bao quanh bởi một con đường nhỏ  nằm kề bên một vòng hoa cỏ nhỏ. Sát đó, là những biệt thự của abc, nhà  múa hát (đám nghệ sĩ vừa ngồi cà phê với tôi gọi nhà hát ca múa nhạc Việt Nam thế), nhà của tổng công ti dầu khí và của các cơ quan xyj. Hôm trước, tôi thấy ở bảng tin phường dán một bài thơ của ông lão nào chẳng rõ, buồn bã vì nỗi hồ chưa bị lấp nhưng đất quanh hồ đều đã bị buôn đi bán lại, với câu kết kinh hoàng: hu thế ơi hng mt ri. Giờ thì không ai phải đối mặt với nỗi kinh hoàng này, vì bài thơ đã dĩ nhiên bị xé.

Ông anh rể cựu chiến binh của tôi, từng tây tiến thời chống Mỹ, đi qua mười năm tuổi trẻ ở chiến trường Pakhet, ôm một đống bệnh kể từ ngày đi từ trong rừng ra (chữ dùng của nhà văn Nguyễn Minh Châu) nên rất chú trọng giữ gìn sức khoẻ … cho vợ. Ngày nào cũng như ngày nào, cứ sáu giờ sáng và hai giờ chiều là ông anh đánh cái áo ba lỗ và quần cộc, dận giày đi ra hồ. Nóng chảy tất cả thế này, sáu giờ sáng… đã đành, nhưng sao lại hai giờ chiều? Ông anh ngửa mặt cười kha kha kha: Qua tui tm b ri cô ơi. Đường đêm phi dành cho người tính yêu thêm ch? Thằng cháu hồi còn chưa đi học – tị – nạn ở xứ người (chữ này cũng không phải của tôi mà của nhà văn Dạ Ngân) chiều chiều cữ hai giờ là ra hồ chạy, giải thích cho bà cô ngố rằng giờ đó mới tạm thời vắng vẻ, đỡ phải thở hít mồ hôi người.

Buổi sáng, tôi theo ông anh xông ra hồ. Xe máy vè vè lướt qua cửa vườn lủng củng một dãy xe đẩy chuyên chở rác cái lành cái thủng, bốc mùi nồng nặc. Những chiếc khẩu trang được gỡ xuống. Đồ đạc tập luyện được tháo khỏi xe. Từ cửa nhà vệ sinh công cộng, một phụ nữ đứng nhìn ra, và đó là người duy nhất tôi thấy vẫn kín mít trong khẩu trang, hoàn toàn dửng dưng với đám đông hiên ngang hăng hái. Cũng phải! Quần quật mấy tiếng đồng hồ để làm sạch cái trạm luân chuyển lương thực thực phẩm này, cần quái gì chạy bộ cho gầy người hay dưỡng sinh. Vẽ.

Người nhất loạt đi theo một hướng dòng dòng quanh hồ. Tôi nhận ra tức thì tinh thần thể dục ngày nay của dân mình có biểu hiện đậm đà qua tinh thần đi bộ, và đi kiểu này cũng dễ, ve vẩy nhẹ nhàng như đi chợ. Trẻ vừa đi vừa nghe nhạc. Già vừa đi vừa trầm ngâm. Một chị dáng mỡ màng trong bộ áo quần hoa phấp phới gió ban mai, tay khư khư ví, ý chừng tập xong quay về nhảo ngay ra cái chợ cóc họp sát bên hồ. Một ông chắc đã đi đủ chỉ tiêu ngày, dừng chân ở cái ghế đá trống, rút chiếc radio nhỏ nhỏ dò sóng, thảnh thơi chiếm ngự một đầu ghế. Một bà (chắc chắn không quen với ông) bám lấy đầu ghế bên kia, gắng gập người chổng mông làm một động tác cực khó với người đã trót để mình phì. Một bà khác đứng nhắm mắt dưỡng thần bên cạnh một đôi chíp hôi đang ngủ gật bên nhau như thể đã đi dạo suốt đêm. Rất hồn nhiên. Khác hẳn thời tôi ngày trước, chẳng ai cấm đoán nhưng đứa nào cũng ngượng nghịu mỗi lúc phải giơ chân giơ tay, kể cả lúc giơ tay hô quyết tâm quyết tâm. Tội ở mì gia công và hạt bo bo. No thì vẫn no, nhưng người ngợm cứ oải ra. Tập luyện nhằm mục đích giải trừ năng lượng là môn học xa xỉ với chúng tôi. Ngại. Đứa nào mà hăng hái thật thì nhất định là giống quái.

Người cứ đổ thêm vào dòng. Trước, sau, bên trái, bên phải, tay, chân, lưng, bụng. Ai cũng chăm chú và thành tâm. Tôi chưa từng thấy ở dân mình ý thức cá nhân, dám hết mình vì bản thân đẹp như thế này. Một thời hối thúc nhau “kho vì nước kiến thiết quc gia” cũng hớn hở đến thế này thôi chứ gì?

Bên lề cỏ, một mái tóc xác, một ánh mắt khô, một hàm răng hơi hô ngước lên. Hóa ra tôi suýt dẫm phải đống quần đùi áo cộc rẻ tiền vừa bày ra ngay lề cỏ, phục vụ tại chỗ bà con đi tập thể dục sớm của người đàn bà chắc ở quê ra. Tránh, tôi đụng phải một cánh tay rắn chắc vừa vung lên. Tiếng văng tục. May quá, anh chàng không để ý đến lời tôi xin lỗi mà còn mải bình luận với bạn về một đồng chí cầu thủ phường “hu v gì mà đéo biết rê”, ngôn ngữ cực sống động.

Bước sát bên hai cậu chàng, hai ông bà có tuổi vừa vung tay vừa trò chuyện. Ông, trông rõ ra người quen nói lời gang thép khi xưa khoe thằng con trai đã tưởng phải nuôi báo cô một đời nay vừa chơi thêm một căn hộ cao cấp trên đường Hoàng Đạo Thúy và đổi xe năm chỗ lấy xe bảy chỗ. Bà, dáng cả đời cống hiến cho chồng con vô điều kiện, than mắc bệnh cao huyết áp vì thằng cháu biếng ăn, ngày nào cũng phải diễn trò bất đắc dĩ ôsin bế cháu bà bê bát, ông hát bài qun không có ly áo ra mà pht có múa minh hoạ kèm theo, (lưu ý bạn đọc hát câu này theo giai điệu Tiến quân ca).

 

 

[còn tiếp]

bài đã đăng của Lê Minh Hà

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)