- Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới - https://damau.org -

Istanbul: Trí nhớ của một Thành phố

Nouritza Matossian đọc Istanbul: Trí nhớ của một Thành phố

The Observer, 17/4/2005

 

Vi Lãng chuyển ngữ:, 10/2006

 

 

 


Ý niệm đem kết hợp đời sống của một nhà viết văn với thành phố tuổi nhỏ của họ dường như là chuyện tất nhiên mà cũng có phần lý thú. Điều này còn đúng hơn nữa nếu nhà văn này đã trở thành gương mặt tượng trưng cho tự do của Thổ Nhĩ Kỳ, một quốc gia đang cố gắng hết sức để được chấp nhận vào Cộng Đồng Âu Châu (European Union).

Orhan Pamuk đã được giải thưởng Văn Chương Quốc Tế IMPAC (The International IMPAC Dublin Literary Award) năm 2003. Trong nước, ông được nhiều người yêu trọng mà cũng có lắm kẻ thù ghét. Mới gần đây, thủ trưởng khu vực Sütçüler (thuộc tỉnh Isparta, Thổ Nhĩ Kỳ [nd]) đã ra lệnh thu thập về hết tất cả sách của ông, từ những thư viện và nhà sách trong địa hạt, để phá hủy. Báo chí trong nước lập tức lên án “hành động dã man” này. Đấy cũng cho ta thấy rằng một đa-số-sáng-suốt cũng đã khẳng định được tiếng nói của họ. Ông thủ trưởng chắc là điên tiết khi biết rằng nhân viên ông đã không tìm được một quyển sách nào của Pamuk để bán hay đốt. Sau chuyện này, số lượng sách bán của ông đã nhảy vọt.

Do đó, việc tìm tòi chi tiết thời niên thiếu và những gì ám ảnh nhà văn trầm lặng, tự quan, 52-tuổi này là một điều thích thú. Hồi ký “Istanbul” xoay quanh chuyện một đứa trẻ, chín chắn trước tuổi, bị hãm mình giữa những thúc bách gây ra bởi cãi vã trong gia đình nó. Mỗi thị tộc dòng họ, không sùng giáo, sống một tầng trong căn phố cao, nhìn xuống dòng Bosphorus đẹp lộng lẫy, đầy ánh sáng. Bà nội của bé, mập mạp, thống trị cả đại gia đình từ trên chiếc giường ngủ. Bà hết xót xa chuyện những con trai phung phí hết tài sản gia đình; lại than phiền về chuyện cãi vã của các cô cậu đứa bé; lo lắng đến chuyện vợ chồng (cha mẹ bé) bấp bênh không hòa thuận; rồi qua sang lòng sùng Hồi giáo của những đầy tớ trong gia đình.

Như nhiều nhà văn khác, khi bị phân tâm giữa hai hiện thực – trong và ngoài, Pamuk sáng tạo lên “cái tôi hoán thể” (alter ego) để đưa đứa bé vào cái “thế giới thứ hai” của nó. Truyện được dựng lên rất sáng, đào sâu vào thế giới hiện tượng của bé. Người đọc bị cuốn lôi vào một căn nhà mơ hồ u tối – “nhà bảo tàng gia đình” – chật-chội-nhồi-nhét những bàn ghế kiểu cách không thoải mái, những đàn dương cầm không ai chơi, những tủ kính trưng bày đồ đạc không dùng tới, hay những ảnh hình đầy nghi thức. Một căn nhà u ám đến nỗi khi bé vừa bước ra bên ngoài, mắt nó như bị chói lòa mù vì ánh sáng.

Xen vào giữa, có những chương riêng giới thiệu các nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ; các nhà thơ Divan (một trường phái thơ cổ TNK, thời Ottoman [nd]) với những ảnh tượng về tình dục đồng giới; chuyện viết từ những du hành Tây phương thời trước. Melling, nghệ sĩ người Đức thế kỷ 18, người được mời làm kiến trúc sư cho cô quận chúa, em gái ông vua Hồi xứ Thổ (sultan), có để lại một quyển sách với những bức chạm trổ về thành phố kỳ diệu này. Pamuk cũng chuộng tác phẩm của Gérald de Nerval, Gautier, và nhất là Flaubert, người mà ông cho rằng đã cho ông cảm hứng để viết truyện “Thành quách trắng” (The White Castle).

Pamuk đưa người đọc vào một thành phố Istanbul mục nát, không được ưu ái, giữa những năm Sáu-mươi Tám-mươi. Những lâu đài gỗ thế kỷ 19 bị đốt cháy ngã, thay vào đó là những căn nhà khối bằng bê tông; những tàu chở dầu đụng nhau trong đêm, cháy sáng trên sông Bosphorus; những kẻ giết người khủng dọa thành phố; những nổi loạn giả tạo, được sắp xếp trước, bỗng trở thành cuộc giết chóc thảm thê; các tiệm phố Hi Lạp và Armenian bị cướp phá; bầy chó lang thang không kiểm soát; công nhân khuân vác mệt lảo đảo dưới những kiện hàng cao lớn hơn thân họ.

Là một bực thầy lão luyện về những mẫu vật tao nhã, Pamuk viết gãy gọn, xếp chồng cảnh tượng khéo léo. Có chỗ, ông lên một câu văn sáng chói, dài hai trang rưỡi, như thôi miên người đọc. Ông cũng hùng hồn lắm, khi viết về những thấu cảm (empathy) trước những khó xử của nước ông: chọn lựa giữa đi theo Tây phương hóa và Âu châu hay là giữ truyền thống và văn minh Hồi giáo.

“Tôi diễn tả Istanbul khi tôi miêu tả chính tôi, và tôi diễn tả chính tôi khi tôi miêu tả Istanbul”, ông đùa chọc. Hồi ký này còn thêm những bức hình do Ara Guler chụp, và một bản dịch lưu loát của Maureen Freely.

Orhan Pamuk vẫn trung thành với thần thơ văn phong phú của ông. Hồi ký Istanbul, như một hoài niệm, có bùa mê, có tính cách tư liệu nhưng không ba hoa lớn tiếng, như để chuộc lỗi cho một tuổi thơ, cho thành phố, sẽ đem cả thế giới tới chân ông. Sách nên được đọc, rồi đọc lại lần nữa. Lý do đơn giản: nó là một nỗi hân hoan.

 


 Istanbul: Trí nhớ của một Thành phố

Hồi ký/du luận của Orhan Pamuk

Bản Anh ngữ, xuất bản 2005 (Faber), Maureen Freely dịch, 288 trang

bài đã đăng của Nouritza Matossian