- Tạp Chí Da Màu – Văn chương không biên giới - https://damau.org -

Tản mạn về giải Nobel / văn chương

Lật bật thế mà cũng đã đến “mùa” Nobel.
Năm nay là năm Hoa Kỳ được mùa: tính đến hôm nay (12/10/06), đã có 6 người Hoa Kỳ đoạt giải: Andrew Fire và Craig Mello giải y học, John Mather và George Smoot giải vật lý, Roger Kornberg giải hóa học và Edmund Phelps giải kinh tế. Biết đâu ngày công bố giải Nobel văn chương hôm nay lại chẳng thêm một người Hoa Kỳ nữa dính giải! Vì trong con số những tên tuổi văn chương thế giới có thể đoạt giải theo dự đoán của những tay “săn lùng” văn chương chuyên nghiệp, ngoài nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ Orhan Pamuk, nhà thơ Libăng gốc Syria Adonis (Ali Ahmad Said Asbar), nhà văn/nhà báo Ba Lan Ryszard Kapuscinski, nhà thơ Đan Mạch và nhà thơ Đại Hàn Ko Un, có đến 4 khuôn mặt Hoa Kỳ: Joyce Carol Oates, Philip Roth, Don DeLillo và Thomas Pynchon. 
Mà thôi, ai thắng giải thì cũng được. Tây, Tàu, Mỹ, Phi gì cũng OK. Có điều, nếu rơi vào tay nhà thơ Đại Hàn Ko Un thì người Việt mình chắc cũng có đôi chút tủi thân. Cùng hoàn cảnh, cùng thân phận (chiến tranh, chia cắt, độc tài…), cùng nghèo (mạt rệp) như nhau 50 mươi năm trước đây, thế mà bây giờ, kẻ thì bay lên trời, người còn lẹt đẹt dưới đất. Không những đá bóng, điền kinh, xe hơi, phim ảnh… bây giờ lại thêm Nobel nữa thì ai mà chịu cho thấu!
Không phải giải thích dài giòng, chỉ cần hai chữ “giải Nobel” tự nó cũng đã nói lên tất cả. Tự nó đã là một vinh dự. Đồng thời cũng là một quyền năng. Đó là chưa nói đến tiền bạc. Giải năm nay lên đến gần một triệu 400 ngàn đô la, một số tiền không dễ gì kiếm được đối một nhà văn, ngay cho dù nhà văn có sách bán chạy đi nữa. 
Đến tháng 12 này, giải vừa tròn 106 tuổi. Cách đây 111 năm, vào ngày 27/11/1895, tại Paris, nhà hóa học Thụy Điển Alfred Bernhard Nobel đã đặt bút ký vào tờ di chúc, để tại tài sản cho Hàn Lâm Viện Thụy Điển, mà tiền lời sinh ra “sẽ được chia làm 5 phần bằng nhau, phân phối như sau: một phần dành cho người nào có khám phá quan trọng hoặc phát minh trong lãnh vực vật lý học; một phần dành cho người nào có khám phá hoặc cải tiến ngành hóa học quan trọng; một phần dành cho người nào có những khám phá quan trọng trong lãnh vực sinh lý học hay y học; một phần dành cho những sáng tác văn chương ngoại hạng có khuynh hướng lý tưởng; và một phần dành cho người nào đã thực hiện được công việc nhiều nhất hoặc tốt nhất cho tình huynh đệ giữa các quốc gia, cho sự thủ tiêu hoặc giảm thiểu những đội quân thường trực và cho sự gìn giữ và quảng bá những hội nghị hòa bình”, di chúc viết.
Ngược lại với các giải y học, hóa học, vật lý và hòa bình, giải Nobel văn chương là giải phức tạp nhất, gây ra nhiều tranh cãi và nhiều ngộ nhận nhất kể từ ngày ra đời cho đến tận hôm nay. Lý do là những giải kia, các thành tích nêu ra để tặng giải tương đối rõ ràng, giản dị, cụ thể, tự bằng chứng đưa ra là có đủ sức thuyết phục và bịt miệng bất cứ ai ưa điều rắc rối. Văn chương, trái lại, không có biên giới rõ ràng giữa hay và dở, giữa giá trị và vô giá trị – hơn nữa, cái hơn, kém giữa các tác phẩm có giá trị hầu như không có tiêu chuẩn nào phân định rõ ràng (vì nếu có như thế thì còn gì gọi là văn chương nữa!). Cũng do đó, khác với các giải kia, ngày công bố giải Nobel văn chương bao giờ cũng được giữ bí mật cho đến giờ phút cuối cùng. Việc bình chọn và công bố giải diễn ra theo một lịch trình đặc biệt riêng. Đối với các thành viên của Hàn Lâm Viện Thụy Điển phụ trách phần bình chọn, im lặng được xem là quy luật vàng.
Hàn Lâm Viện Thụy Điển được thành lập vào năm 1758, dựa theo kiểu mẫu của Hàn Lâm Viện Pháp, gồm có 18 thành viên, được chọn vào và giữ chỗ cho đến cuối đời. Họ là những tiểu thuyết gia, nhà tu, sử gia, nhà ngôn ngữ học, đứng đầu là nhà bác học Horace Engdhal. Hàng năm, họ tiếp nhận vô số gợi ý từ khắp nơi trên thế giới. Đó là những góp ý, giới thiệu của các người đoạt giải những năm trước, các nhà văn, các chính khách và vô số những người khác ít nhiều có dính líu đến sinh hoạt văn học. Từ 18 người, họ thành lập một Ủy ban gọi là “Ủy ban Nobel” gồm 5 thành viên, có trách nhiệm xem xét tất cả các đề nghị, gợi ý, để rồi lần lượt chọn lọc. Danh sách chọn rút từ 200 xuống đến 20, rồi xuống còn 5 tác giả trước mùa hè hàng năm. Suốt hai tháng tiếp sau đó, toàn thể thành viên Hàn Lâm Viện làm việc cật lực để đi đến việc chọn một người trao giải. 
Từ khi bắt đầu cho đến năm 1912, Hàn Lâm Viện lấy tiêu chuẩn chọn trao giải là dựa hoàn toàn vào một số từ then chốt trong bản di chúc, đó là các tác phẩm có xu hướng lý tưởng, được hiểu theo nghĩa bảo thủ. Chính vì thế mà giải Nobel văn chương đầu tiên được trao cho Sully Prud’homme năm 1901 trong lúc Ibsen, Zola hoặc Tolstoy bị xem là quá bạo loạn, Thomas Hardy bị xem là “tác phẩm không mang lại một sự hòa giải”, Henry James thì các tác phẩm, nhất là “Les Ailes de la colonne” được xây dựng trên những đề tài “không giống ai và kinh tởm”
Đến năm 1912, trước sự phê phán của nhiều người, Hàn Lâm Viện Thụy Điển nhận ra rằng họ đã lý giải di chúc một cách thiển cận, đầy thành kiến. Chính vì thế, mà năm sau, 1913, giải được trao cho nhà thơ Ấn Độ Rabindranath Tagore, người đầu tiên ngoài châu Âu. Tưởng đây là điềm tốt báo hiệu cho tương lai của giải, không ngờ, rủi thay, năm kế, thế chiến thứ I bùng nổ. Mọi dự tính bị đảo lộn hoàn toàn. Hàn Lâm Viện trở lại cung cách làm việc cũ và xu hướng bảo thủ tiếp tục ngự trị cho đến…30 năm sau. Mà như ta biết, giai đoạn mấy chục năm giữa hai kỳ thế chiến là giai đoạn cực kỳ ngoạn mục của thế giới văn chương toàn cầu với sự nổ bùng của năng lực sáng tạo trên mọi loại hình nghệ thuật. Chính vì thế mà chẳng có một nhà văn thuộc khuynh hướng siêu thực nào, không có một nhà thơ hay kịch tác gia xuất thân từ trường phái “đa-đa” (dadaisme) hay “phi lý” (absurdisme) như André Breton, Hugo Ball hay Gertrude Stein được trao giải. Kjell Espmark, ông Hàn và là tác giả của “Le prix Nobel” nhận xét rằng Hàn Lâm Viện “gồm một nhóm người có tài năng và học vấn nhưng thiếu hẳn đầu óc thụ cảm với cái mà chúng ta hôm nay gọi là tài sản phong phú của văn chương thời đại chúng ta”.
Sự chuyển đổi căn bản chỉ bắt đầu từ sau khi thế chiến thứ II chấm dứt. Năm 1945, Paul Valéry đã được chọn, nhưng bất hạnh thay, nhà thơ của chúng ta đã chết trước ngày được công bố. Sau đó, dần dần, Hàn Lâm Viện bù đắp lại cái thiếu sót của mình trong quá khứ bằng cách liên tiếp trao giải cho nhiều nhà văn, nhà thơ “cách tân” như Herman Hesse, Gide, Eliot, Faulkner và hơi muộn về sau này là Saint John Perse và Samuel Beckett. Không những thế, Hàn Lâm Viện còn trao giải cho những tác phẩm viết bằng những ngôn ngữ không phổ thông trên thế giới như Do Thái cổ, tiếng Hy Lạp hay Ba Lan. Như nhiều nhà phê bình đã nhận xét, không có một, nhưng có nhiều giải Nobel, khởi đi từ hậu quả của một chuỗi những xu hướng mà tinh thần không ngừng thay đổi tùy theo cá tính của vị chủ tịch Viện cũng như khả năng cảm thụ của các ông Hàn – của những người tự cho là mình thừa kế đúng tinh thần của Nobel. Do lầm lẫn và do những giới hạn tự nhiên của con người, qua 100 năm trao giải, ngoài vô số điều đáng trân trọng, không thiếu những chuyện đáng tiếc xảy ra khiến cho nhiều nhà văn tầm cỡ trên thế giới bị gạt tên như Marcel Proust, James Joyce, Musil, Borges, André Malraux. Bị phê bình, chỉ trích từ nhiều phía, rốt cuộc, mười mấy ông Hàn quyết định biến Hàn Lâm Viện thành một cái gì tương tự như một “Câu lạc bộ gia đình” (Cercle de famille). Mỗi lần chấm dứt họp, cả nhóm thường rút về một cái quán rất cũ thuộc một khu hẻo lánh, cổ kính của Stockhom để tránh mọi thăm chừng, dòm ngó của đủ hạng người tạo nên sự nghi kỵ lẫn nhau. Nhưng thế mà nào đâu có yên. Các ông Hàn, do lý do này hay lý do khác, vẫn không tránh được những bất hòa, có khi đưa đến thảm kịch. Số là có lần, ông Hàn Harry Martinson được giải (1974), chia cùng với một nhà văn Thụy Điển khác là Eyvind Johnson. Bị báo chí và dư luận phê bình dữ dội, vài năm sau đó, ông Hàn này dùng một cây kéo mổ bụng tự sát. Lần khác, sau vụ nhà văn Salman Rushdie bị giáo chủ Hồi giáo lên án tử hình vì đã xúc phạm đến Hồi giáo qua tác phẩm “Satanic Verses”, nhiều ông Hàn quyết định rời Viện vì cho rằng Viện đã không đứng lên bảo vệ nhà văn này trong việc sáng tác tự do. Một số ông Hàn khác có lúc không chịu đi họp vì bất hòa với bạn đồng viện hoặc vì nhà văn mà mình giới thiệu và ủng hộ không được các bạn đồng viện khác xem xét đến. Vân vân và vân vân.
Xem ra thì những chuyện như thế cũng là chuyện thường tình. Phương chi ở đây, giải Nobel nó lớn quá, cả mọi mặt. Cho nên, duy trì được hơn 100 năm như thế cũng đã là chuyện vô tiền khoáng hậu rồi. Nào ai mong mỏi gì hơn! Mặc ai nói ngả nói nghiêng, chủ tịch Hàn Lâm Viện Horace Engdhal bảo: “Tôi không thể nói là 18 thành viên của Hàn Lâm Viện Thụy Điển có phải là những người giỏi nhất trên thế giới trong việc quyết định giá trị của văn chương không, nhưng rõ ràng là trong di chúc của mình, ông Nobel đã giao cho chúng tôi làm cái công việc này và thế là chúng tôi làm, trong khả năng cao nhất của mình”. Thế thôi!
Để chấm dứt, xin nghe một câu chuyện nhỏ: năm 1995, ông Jérome Lindon, giám đốc nhà xuất bản Minuit Pháp), người đứng ra xuất bản tác phẩm của nhà văn đoạt giải Claude Simon, thú nhận, cuốn “L’Acacia”, tác phẩm đưa Simon lên đài vinh quang, khó khăn lắm mới bán được … 600 cuốn một năm, trên toàn thế giới. 
Than ôi!!! 

HN
12/10/2006