Trang chính » Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 06, Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Phi Đàn Bà

 

Ngô Tự Lập

 

 

Đối với nhiều người, nhất là những người từng có quyền chức, về hưu là một bước ngoặt gây hụt hẫng khủng khiếp. Nhưng điều đó không đúng với cha tôi. Ngày nhận sổ hưu ông dẫn cả nhà ra hàng chả cá.

– Hôm nay vụ trưởng khao cả nhà, mừng thăng chức phó thường dân – Ông nói và hồ hởi mở sâm banh.

Thật ra, cha tôi chẳng thích thú gì quyền chức. Đam mê của ông là triết học, mặc dù khi thi vào đại học ông lại chọn khoa ngân hàng. Để dễ xin việc, đơn giản là thế. Ông bà nội tôi đều là quan chức lâu năm trong ngành ngân hàng.

Cha tôi học hành không xuất sắc, tài kinh doanh cũng hạn chế, nhưng rồi số phận đưa đẩy thế nào mà cũng thăng tiến đều đều. Như tôi vừa nói, ông không phải là người ham quyền chức. Có lẽ cho đến khi nhận chức vụ trưởng, cha tôi cũng chưa bao giờ dám mơ ước đến nó.

Với ông, chỉ có triết học là một tình yêu lớn suốt đời không hề phai nhạt. Thậm chí ngược lại. Như người ta vẫn thường nói, tình càng xa càng nồng. Mấy chục năm bận bịu công việc quản lý, ông không có thời gian đọc sách, nhưng hễ có cuốn sách triết học nào ra lò ông đều mua ngay và chất vào cái tủ sách gỗ lim lớn trên phòng xép. "Có lẽ phải về hưu mới có thời gian đọc!".

Câu nói mà ông lặp đi lặp lại bao nhiêu lần cùng với cái lắc đầu và một nụ cười đầy vẻ "uy mua" ấy hoá ra đúng thật.

Cả tuần cha tôi dọn dẹp. Tiếng là vụ trưởng, nhưng cha tôi không phải là người mưu lược. Thậm chí có thể nói ông là người ngây thơ. Vì thế, gia đình tôi không nghèo nhưng cũng chẳng có gì là dư dả hơn đời. Căn phòng xép chỉ rộng mười hai thước vuông, ngoài cái tủ sách còn là chỗ cất ti vi hỏng, ghế lẻ bộ, vợt cầu lông cũ và những đồ chăn màn mùa hè không dùng đến. Cha tôi cho gọi bà đồng nát. Hôm sau đến lượt ông thợ sơn. Thêm cái bàn chị Hoàng mua tặng nữa, căn phòng làm việc của ông đã hoàn tất, yên tĩnh, sạch sẽ và ngăn nắp.

– Thằng Ban có thẻ thư viện Quốc Gia, ngày mai mượn cho bố tất cả những sách gì liên quan đến vịnh Hạ Long và Bái Tử Long.

– Bố có một ý nghĩ từ lâu rồi, nhưng chưa có điều kiện kiểm chứng. Con học tiếng Pháp, có thấy gì đặc biệt trong cái tên vịnh Bái Tử Long không?

Tôi vắt óc suy nghĩ. Cha tôi nói:

– Vịnh Hạ Long trong tiếng Pháp gọi là gì?

– Baie d’Along

– Con có thấy gì đặc biệt không?

– Dạ…

– Con thử so sánh Baie d’Along với Bái Tử Long. Đọc thành tiếng xem nào. Thấy chưa? Theo bố, Bái Tử Long thực ra là Baie Toulon, nghĩa là vịnh Toulon. Toulon là một thành phố ở miền Nam nước Pháp. Chắc chắn Bái Tử Long là một cái tên Tây. Một tay thực dân nào đó gốc Toulon đã đặt ra cái tên ấy để tưởng nhớ quê hương hắn. Nhưng điều này cần phải kiểm chứng. Nhớ, con mượn cho bố tất cả những gì liên quan đến Hạ Long và Bái Tử Long.

Buổi chiều, tôi ôm về một chồng sách.

Trước đó, để mừng ngày làm việc đầu tiên của ông, chị Hoàng đã mua sẵn một bó hoa lớn. Cha tôi ôm hôn hai chị em rất lâu, hệt như khi chúng tôi còn nhỏ, hồi chiến tranh, ra cổng tiễn bố mỗi lần ông đi công tác xa.

Tôi đặt chồng sách lên bàn, bên cạnh cuốn  đã mở sẵn. Cha tôi rõ ràng đang rất phấn khích:

– Cám ơn con. Nhưng hôm nay thì bố phải đọc Kinh Thánh đã. Hàng tỷ người đã đọc và tin vào cuốn sách này. Cần phải nghiên cứu nó trước tiên.

Không thấy ông nhắc gì thêm về vịnh Hạ Long nhưng tôi chắc ông có lý do để thay đổi kế hoạch nghiên cứu.

Những ngày sau đó cha tôi ngồi lỳ suốt ngày trong phòng làm việc. Mẹ tôi ngày ba lần lên gõ cửa. Rất lâu ông mới hé cửa ra:

– Bà cứ xuống trước đi. Tôi đang dở trang, xuống sau. Hay bà cứ ăn trước đi cũng được.

Có khi mấy tiếng đồng hồ sau cha tôi mới xuống. Mẹ tôi vẫn chờ. Cơm canh đã nguội ngắt.

Một hôm tôi ở trường về đã thấy cha tôi ngồi ở phòng khách tầng một.

– Lên trên này bố bảo.

Trong phòng, sách bừa bộn. Rất nhiều cuốn mở sẵn, đánh dấu bằng giấy vàng. Cha tôi hỏi ngay:

– Con nghĩ sao về cái tên Adam?

Tôi không hiểu ý ông.

– Con thử đọc đoạn này xem.

Trong cuốn Kinh Thánh có một đoạn được đánh dấu.

"Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán rằng: Loài người ở một mình thì không tốt; ta sẽ làm nên một kẻ giúp-đỡ giống như nó. Giê-hô-va Đức Chúa Trời lấy đất nắn nên các loài thú đồng, các loài chim trời, rồi dẫn đến trước mặt A-đam đặng thử xem người đặt tên chúng nó làm sao, hầu cho tên nào A-đam đặt cho mỗi vật sống, đều thành tên riêng của nó. A-đam đặt tên các loài súc-vật, các loài chim trời cùng các loài thú đồng; nhưng về phần A-đam, thì chẳng tìm được một ai giúp-đỡ giống như mình hết. Giê-hô-va Đức Chúa Trời làm cho A-đam ngủ mê, bèn lấy một xương sườn, rồi lấp thịt thế vào. Giê-hô-va Đức Chúa Trời dùng xương sườn đã lấy nơi A-đam làm nên một người nữ, đưa đến cùng A-đam. A-đam nói rằng: Người nầy là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi mà ra. Người này sẽ được gọi là nữ, vì nó do nơi người nam mà có".

-Stop! Con đọc lại cái tên người nam xem nào.

– A-đam – Tôi đọc.

– Đúng rồi. Nhưng con đọc âm "Đam" hơi ngắn. Đúng ra phải đọc là "A-đa-mơ". Đam-mơ.

– Dạ.

– “Dame” trong tiếng Pháp là đàn bà, hay người nữ, đúng không? Ta gọi là "đầm", "bà đầm", "nịnh đầm" ấy mà.

– Dạ.

– Thế còn “A”. “A” nghĩa là gì?

– ?

– Là “không”, là “phi”. “Anormal” là "Không bình thường". “Apolitique” là “Không chính trị", hay "Phi chính trị". Đúng không?

– Dạ.

– Vậy A-đam, hay “A-đam-mơ" nghĩa là “Phi đàn bà”, đúng không?

– Dạ – Tôi vẫn không hiểu ông định nói gì.

– Thế này nhé. Nếu A-đam nghĩa là "Phi đàn bà", thì ở đây phải có một sự nhầm lẫn. Một sự nhầm lẫn to tổ bố ấy chứ. Kinh Thánh viết rằng Đức Chúa Trời làm ra người đàn ông, tức là A-đam-mơ trước, rồi mới bẻ một cái xương sườn của anh ta để làm ra người đàn bà. Nhưng nếu người đàn ông đầu tiên được gọi là A-đam-mơ, nghĩa là "Phi-đàn-bà", thì người đàn bà phải được tạo ra trước chứ. Phải có "Đàn bà" trước rồi thì mới có "Phi đàn bà" chứ, đúng không? Bố tin chắc rằng ở đây có có sự nhầm lẫn. Mà nghĩ rất hợp lý. Kinh Thánh được viết cách đây hàng nghìn năm rồi, tránh sao khỏi tam sao thất bản.

Tôi mù tịt cả tôn giáo lẫn triết học, vì thế hoàn toàn không biết bình luận gì về phát hiện của cha tôi. Tuy vậy, tôi cũng bị lây niềm phấn khích của ông và lờ mờ cảm thấy trong chuyện này có một điều gì đó hệ trọng.

Suốt đêm đó đèn trong phòng làm việc của cha tôi không tắt. Hoá ra ông đã viết một bức thư dài.

Hôm sau, cha tôi photocopy bức thư, giữ lại một bản, rồi gửi cho Nhà Thờ Lớn. Xong xuôi đâu đó, ông quyết định đi Sài Gòn một tuần thăm bạn cũ. Đó đồng thời cũng là cách cha tôi nghỉ giải lao và tự thưởng cho mình sau khi hoàn thành một công việc quan trọng. Ông đã ở lại Sài Gòn đến gần ba tuần. Bạn cũ của ông trong đó rất đông. Đa số đã về hưu, lại đều là quan chức cũ. Ai cũng quý hóa, khó lòng dứt ra được.

Khi trở về, cha tôi hết sức ngạc nhiên vì vẫn chưa có hồi âm. Nhà Thờ Lớn ở ngay trong thành phố, thư từ có chậm lắm thì cũng chỉ mất ba ngày. Tuy vậy, ông vẫn cố chờ thêm. Vấn đề hệ trọng, có thể người ta phải bàn bạc kỹ. Nhưng khi đã ba tháng trôi qua, cha tôi không thể nán thêm được nữa. Ông bảo tôi đèo đến Nhà Thờ Lớn. Thực ra ông có thể gọi điện cho cơ quan đánh xe đến đón, nhưng đây là việc riêng. Ngay cả thời đương chức cha tôi cũng luôn tránh nhờ vả cơ quan nhiều.

Đó là một buổi sáng mùa thu tuyệt đẹp. Nắng vàng, gió nhẹ. Lá vàng rơi đầy sân. Nhà Thờ Lớn mới sửa sang, tháp chuông nõn nà vươn lên trời như một cái cổ thiên nga trắng. Trong lúc đứng chờ cha tôi ngoài ngõ, tôi thoả sức ngắm các cô gái mặc đồng phục đến nhà thờ. Cô nào cũng đẹp. Có lẽ họ là thành viên của một dàn đồng ca. Mắt cô nào cũng đen láy, sâu thẳm. Những cái cổ cao trắng ngần. Má hồng, môi thắm, họ đi như lướt trên thảm cỏ. Đúng là chỉ có Chúa Trời mới tạo ra được cái đẹp như thế. Đột nhiên tôi cảm thấy rằng cha tôi có lý. Đàn ông chỉ là Phi-đàn-bà. Đàn ông chỉ đáng là cái xương sườn của họ mà thôi.

Đúng lúc đó thì cha tôi ra. Có lẽ ông ở trong đó chỉ vài chục phút. Mặt ông đỏ bừng. Chưa bao giờ tôi thấy ông tức giận đến thế.

– Đi, con.

Tôi đề máy, còn ông nói với giọng phẫn nộ:

– Không ngờ cái bệnh quan liêu nó lan đến cả nhà thờ. Tôi mà là người phụ trách thì… thì…

Cả ngày hôm đó cha tôi cáu kỉnh dễ sợ. Mẹ

tôi bảo:

– Cứ để kệ ông ấy.

Mẹ tôi rất hiểu tính ông. Cha tôi hiền nhưng

rất cục.

Một tháng liền sau đó, cha tôi thẫn thờ như người mất hồn. Ông tự giam mình trong căn phòng xép, đến nỗi tôi hầu như không trông thấy mặt ông. Mẹ tôi ngày ba bữa bê mâm cơm lên phòng làm việc cho ông.

Cho đến một hôm, đi học về, tôi lại thấy ông ngồi đợi tôi ở phòng khách tầng một.

– Con ra bưu điện Bờ Hồ gửi ngay cái thư này cho bố.

Tôi đỡ lấy một cái phong bì lớn. "Kính Gửi Toà Thánh Vaticăng" – Tôi đọc.

– Con cứ để nguyên thế mà gửi.

Tôi không biết cụ thể những gì trong đó, nhưng đoán đó là đó là công trình của cha tôi. Có lẽ phải đến mấy chục trang.

Nhưng cả lần này nữa, cha tôi đã không gặp may. Công trình của cha tôi gửi đi chưa được một tuần thì T.V. đưa tin Giáo Hoàng ốm nặng. Ông bị cúm, rồi viêm phổi, rồi còn những bệnh gì nữa tôi không nhớ.

Từ dạo đó đến giờ đã gần hai năm. Hôm qua, Giáo Hoàng bất ngờ xuất hiện sau cửa kính bệnh viện, khe khẽ vẫy chào mọi người. Nhưng hôm nay bệnh tình của ông lại có vẻ xấu đi. Trong bối cảnh như thế, hỏi còn ai để ý đến công trình của cha tôi.

Được cái, cha tôi không thiếu đề tài. Hiện ông đã trở lại với vịnh Hạ Long và Bái Tử Long.

 

 

N.T.L.

bài đã đăng của Ngô Tự Lập


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)