Trang chính » Biên giới trong Văn Chương, Biên Khảo, Các Số Da Màu định kỳ, Chuyên Đề, Da Màu số 02, Phỏng vấn Email bài này

Nguyễn Lộc: về Ngôn ngữ và Thơ

0 bình luận ♦ 19.08.2006

 

 

Ngôn ngữ

1. Những suy nghĩ sau đây không nhằm trực tiếp vào phát biểu “của” nhà thơ Nguyễn Duy, phần quan trọng vì đó không là câu trích dẫn trực tiếp. Phần khác, các ý riêng, dù của ai, trong một tập thể dân tộc đa dạng và còn nhiều phức tạp vẫn chỉ là những … ý riêng, nó không nhất thiết có tính tiêu biểu. Trong điều đang bàn, một vấn đề tương đối mới, đặt ra trong đặc thù Việt nam, sự phân tán và không hiếm khi đối nghịch về ý kiến, có lẽ còn phải qua nhiều xem xét và tranh cãi. Rất lâu. Hi vọng được nghe nhà thơ Nguyễn Duy biện giải thêm về ý được nhắc đển trong câu hỏi.

Ý nghĩ của nhà văn Mirta Ynez, chỉ ở dạng tu từ không thôi đã là một ý nghĩ đẹp. Về các quan điểm gói ghém trong đó, có những điều xứng đáng được xác định ý nghĩa, giá trị và thái độ tương ứng như: “viết để bảo vệ bản sắc Cuba”, hay “ tưởng là bị xé thành nhiều mảnh, nhưng vẫn kiên quyết là một khối”. Tôi hi vọng người Cuba bàn bạc và chia sẻ được với ý nghĩ đẹp này của bà. Tôi mong nhiều người hiểu và chia sẻ được với ý nghĩ đẹp này của bà.

Tôi xin phép không dựa vào, hay bàn đến sự tương đồng — hay không — trong hoàn cảnh Việt Nam và Cuba. Vì, ngay ở khía cạnh ngôn ngữ, “tiếng Cuba” và tiếng Việt có khả năng có nhiều khác biệt quan trọng, ít ra là khi đặt chúng trong nội dung sử dụng bên ngoài quốc gia gốc.

Trở lại câu hỏi chính, với cương vị của một người không biết đủ về ngôn ngữ, tôi không chắc rằng “sự thuần chất” và “tiêu chuẩn” là hai ý niệm giống nhau, hay nhất thiết đi với nhau, hoặc ý này dẫn tới ý kia, như cách đặt ra trong câu hỏi. Cho nên, nếu nói tiếng Việt dùng trong nước Việt Nam và tiếng Việt dùng trong các cộng đồng di dân thuộc chủng tộc Việt (?) sẽ có cơ hội biến hóa và tiến hóa theo một vài nhánh/hướng khác nhau thì tôi không ngạc nhiên. Còn vịn vào sự khác biệt (có thể xảy ra) ấy để vạch lằn ranh, xếp thứ loại, hoặc để loại trừ thì tôi cho rằng đó không phải là vấn đề thật, và có liên quan đến ngôn ngữ. Có thể đó là vấn đề tâm thức của cá nhân hoặc bầy đàn xã hội. Định hướng chính trị cũng có thể là tiền đề cho sự khoanh vùng, vạch lằn ranh.

Đã nói thế, tôi lại khó hình dung, trong thế giới hôm nay, sự tách biệt hay cô lập thật sự của bất kì tập thể xã hội bình thường nào với môi trường sống chung của cộng đồng nhân loại. Các cộng đồng nói tiếng Việt, dù lớn đến vài mươi triệu hay nhỏ ở mức vài chục ngàn, cũng không thoát ra ngoài các qui luật chung. Nói chuyện cụ thể một chút, ta cứ lắng nghe người Việt trong và ngoài nước nói chuyện, cứ nghe các bản tin đọc trên radio và truyền hình, sẽ thấy rằng dòng chảy ngôn ngữ không tắc ứ, vón cục vì những vướng mắc (cứ) tưởng là rất thật. Một tiếng lóng xuất hiện ở nơi này có thể “bay” sang nơi kia trong vài giây, vài giờ, hoặc vài ngày.

Câu hỏi cũng đặt ra một vấn đề khá lớn — đối với hiểu biết và sinh hoạt xã hội của tôi — cho nên phần trả lời tiếp sau đây e sẽ phiến diện, nhưng cũng đành bạo gan thử bàn vào vài ý nhỏ mà tôi có thể nghĩ tới.

Thứ nhất, “các hoạt động văn học, nghệ thuật điện ảnh ngoài nước có nên được nhìn như một bộ phận tách rời khỏi lịch sử Việt nam” hay không ? hình như là một câu hỏi không cần thiết. Hoặc, nếu nó được đặt ra chỉ vì một ai đó cố tình đưa ra (áp đặt ?) một kiểu nghĩ như thế, thì việc “phán” ra quan niệm kia là một việc làm khá tào lao. Vì ngay cả chuyện các sinh hoạt kia có “được nhìn” là một bộ phận tách rời khỏi các sinh hoạt cùng loại, cùng ngành ở trong nước Việt Nam ở ngay thời điểm này hay không, cũng là một câu hỏi mang tính nhận định (hay, chính sách, nếu ta nhằm tới một chế độ, một nhà nước, hay một đất nước) chủ quan của một ai đó, hơn là một vấn đề của chính loại hình sinh hoạt đó. Đã không thiếu cơ hội để một điều gì đó, một sự kiện hay biến cố nào đó, “được nhìn” hay “bị nhìn” qua lăng kính rất thú vị của những (nhóm) người Việt (!), bàn vào chuyện ấy thì vô chừng.

Chỉ riêng tình hình “phát hành” các sản phẩm kia, qua các kênh truyền thông hiện đại, cũng đã xóa bỏ (dần dần, nhưng ở một nhịp độ không thấp) khá nhiều lằn mức. Nói khác hơn, cách nhìn ấy, nếu có, theo tôi không có giá trị phổ quát cho ai cả. (Làm và bị) ngứa tai không phải là một “vấn nạn” xã hội nghiêm trọng. Thử nhìn từ phía của người sáng tác, sự chọn lựa đất đứng và chỗ đứng biết đâu cũng chỉ là chọn lựa rất cá nhân (kể cả quan điểm, định kiến, xúc cảm,..). Mà cũng biết đâu, đó chỉ là một chọn lựa có tính tình thế (như phương tiện, môi trường chẳng hạn). Chọn lựa đơn phương vẫn có thể xảy ra ở nhiều phía. Trong lúc ấy, giá trị tự thân của tác phẩm sẽ giúp tác phẩm có cuộc sống riêng của chúng. Qua sông và vượt biển, vượt rào, vượt tường (lửa) không là chuyện không làm được. Phía những kẻ vạch lằn ranh, xây rào cản hình như cũng không thành công mấy. Khi kẻ đặt luật chơi trở thành kẻ bị bỏ rơi bi kịch nằm về phía của họ.

Thứ đến, lịch sử ? Nếu lịch sử ở đây chỉ có nghĩa một vụ lựa lọc chủ quan, thậm thụt đưa cái này vào, móc cái kia ra, thì nói làm sao cho ngay ? Nếu đã không chọn cuộc chơi do họ bày ra, ta đành nhìn các “sử quan” mà cười ruồi, rồi quay lưng.

Còn lịch sử theo nghĩa khách quan có thể có của nó, thì tôi cho rằng “nghĩ gì” là chuyện ruồi bu. Sự trường tồn của các thành quả lao động của con người sẽ trải qua các qui luật chọn lọc và đào thãi của nó. Kể cả khi phải kinh qua sự thô bạo, tàn độc của con người mà tình thế không hiếm khi đặt ra cho chúng. Cụ Nguyễn Du biết đâu sẽ không chói lọi một cách chơ vơ như lâu nay, nếu nền văn học Việt Nam (trước đây) sản sinh ra được nhiều kiệt tác hơn ? Trời có nhiều sao hơn ?

Sau hết, nếu lịch sử ở đây hàm ý, dòng sống đang trôi chảy vào biển thời gian, thì cho đến hôm nay, không ít các ý muốn, tâm trạng, mưu đồ và sách lược (vẫn còn) được phát sinh để làm cả hai việc trái ngược nhau: 1) Đẩy các sinh hoạt văn học, nghệ thuật đi xa nhau ra, tách biệt nhau theo một thứ lằn ranh nào đó; và 2) Lôi kéo chúng gần lại nhau. Trăm dòng cùng đổ ra một biển. Tôi có cảm tưởng, khuynh hướng 2) có chiều thắng thế. Vì nó hợp lòng người. Vì thời đại cho nó phương tiện để lấn lướt. Mong rằng, thực tế minh chứng điều này mỗi ngày.

Bà Yanez có nói đến cái “cốt lõi Cuba”. Tôi nghĩ, nếu đào xới thêm về một “cốt lõi Việt Nam” thì cũng khá “xôm trò” và thú vị. Nhất là trong cái thế giới ngày càng nhỏ lại chúng ta đang sống. Đôi khi ưu tư (hay bày trò ?) về việc “xử” với nhau như thế nào lại đến quá sớm, so với nhu cầu hiểu về chính mình, hiểu về nhau. Tôi đâm ra ái ngại, biết đâu người ta quen chọn cái dễ để làm trước ? Cái phần chung (“cốt lõi”) khó lí giải kia, khi vỡ lẽ, biết đâu, sẽ giúp làm bật ra cái chung, cái xuyên suốt, nhiều hơn là xoáy vào cái riêng, cái khác.

2. Thế nào là sự thuần chất của một ngôn ngữ thì quả tôi không có khả năng bàn vào. Có thể cụm từ, nếu không được giải thích khác hơn (?), đã hàm chứa một nghịch lí. Biến thái thì lại là điều khó tránh. Và còn có cơ hội tăng dần. Không ít người ở ngay trong nước Việt Nam đang rền rĩ về sự “biến chất” của tiếng Việt. Thiết tưởng, theo dõi, cảnh báo, và thích nghi một ngôn ngữ sống đang từng phút bắt nhịp với cuộc đời lớn là chuyện “nghề nghiệp” cho một số người. Theo dõi các biến đổi của tiếng Việt trong cộng đồng gốc Việt ở các nơi có thể là điều thú vị. Nhưng hô hoán, kêu “cháy” thì đôi khi không cần thiết. Người Pháp đã bỏ nhiều công sức để bảo vệ một sự “thuần chất” nào đó. Hỏi họ các bài học được tích lũy, nếu ai đó quan tâm.

Câu hỏi: “Như vậy có phải ngôn ngữ chúng ta đang xử dụng, để nói và viết, là một ngôn ngữ đang chết đi mỗi ngày?” [tôi nhấn mạnh] hình như có điều không ổn. Nếu ta vẫn “đang” sử dụng thì khó lòng mà nó chết được. Nó chỉ chết nếu không còn ai sử dụng.

Trong điều kiện truyền thông còn khó khăn, đôi khi sự tách biệt hẵn của một cộng đồng với thế giới chung quanh còn xảy ra được, tiếng nói của một cộng đồng di dân (xa nguồn) cô lập như vậy, trong khi biến đổi để thích nghi với hoàn cảnh sống mới, sẽ có khả năng lưu giữ (đóng băng hay hóa thạch) một số vốn cũ, mà ngay cộng đồng ngôn ngữ gốc dần dà đánh mất. Điều này cho thấy, ngay cả việc hóa thạch một ngôn ngữ cũng không nhất thiết đồng nghĩa với sự chết. Nó lưu giữ những mầm sống cũ. Nỗi hối tiếc (của một số người) và tự hào (của một số người) về cái tiếng “gốc” Hà Nội được mang theo hành trang di dân từ nửa thế kỉ trước là một thí dụ. Và, cái bản sắc “di dân” của ngôn ngữ Việt phải đâu chỉ bắt đầu khi có những tập thể người Việt rời bỏ địa giới quốc gia ? Con đường Nam tiến, Tây tiến và Đông tiến nội địa của ngôn ngữ Việt Nam vẫn còn là một cuộc viễn trình và biến hóa chưa được hiểu thấu. Sự biến hóa và hòa trộn chừng như là một thuộc tính tất yếu, nếu tôi không có thẩm quyền chuyên môn để kết luận là chỗ mạnh, của tiếng Việt.

Nếu như không ai còn dùng tiếng Việt ở ngoài địa giới Việt Nam, thì tiếng Việt bên ngoài Việt Nam sẽ chết. Cho đến giờ, tôi chưa thấy viễn tượng ấy. Tất nhiên, nếu phải ước đoán nó sẽ “sống” ra sao thì thú thật, tôi rất mù mờ. Vì cuộc sống quá phong phú so với vài ba tín điều hay định kiến.

 

Thơ

1. Xin phép không trả lời trọn câu hỏi này, vì tôi “ngọai đạo”, lại không đọc và suy nghĩ mấy về thơ.

Riêng về phần: “Thơ ngoài nước có thể tự viết lên một lịch sử riêng cho chính nó hay không ?”, tôi có cảm tưởng câu trả lời dễ dàng là: Có. Mọi sinh hoạt đều có khả năng và có “quyền” viết riêng cho nó một lịch sử. Nhưng, là người đọc, tôi không quan tâm mấy đến cái phần lịch sử kia. Sinh mệnh của tác phẩm, chỉ xin lập lại, có lẽ không nằm trong chọn lựa chủ quan của chính nó (dù có thể, người sáng tác có chủ tâm chọn lựa; và ngay cả tuyên ngôn rất hào sảng về chọn lựa của mình).

2. Tôi không hiểu đủ về thơ, về thơ Việt Nam, nhất là về thơ đương đại. Cho nên không dám động đến “thơ Việt Nam đương đại”. Hơn nữa, trừ phi – như một số tạp chí nhiều năm trước đã (phải) làm –tác phẩm được chỉ rõ là do tác giả trong hay ngoài nước viết, tôi ít khi để ý điểm này (nhất là khi chỉ đọc qua rồi … quên). Bây giờ, thơ văn có nhắc tới Kentucky Fried Chicken hay Channel đều có thể viết từ bất kì ở đâu.

Nói quá đi một chút, thì ở đâu người ta làm tình và rên rỉ khi làm tình (trong thơ) cũng có thể giống nhau. Các phản ứng sinh lí của thân xác con người, với khá nhiều lỗ hỗng và chất nhờn, một thứ “vật liệu” hình như ngày càng được tận dụng, thì lại càng không nhác nhau theo địa lí. Đã vậy, nếu có một sự lập đi lập lại (xuyên lục địa) các hình mẫu trong diễn đạt thì chúng lại càng không khác nhau. Rất khó phân biệt.

3. Xin được dài dòng một chút. Tôi có thú vui lên Web để đọc các nhóm thảo luận của các bạn trẻ (tôi đoán thế) ở Việt Nam. Ngoài cách viết chữ Việt theo kiểu dùng cho “chat” hay “text messaging” (đủ khiến các bậc cha mẹ và thầy giáo phát rồ), ngày càng có nhiều từ tiếng Anh (đúng và sai) trộn vào đó. Hiện tượng song và đa ngữ trong giao tiếp bằng tiếng nói và chữ viết hình như ngày càng tràn lan. Và có thể không chỉ đối với người dùng tiếng Việt. Do nhu cầu cũng có, do tìm tòi hay đơn thuần“làm dáng” cũng có.

Không những thế, cấu trúc câu tiếng Việt hình như cũng dần dà thay đổi. Ta thử đếm số câu tiếng Việt viết theo mẫu: “ được bởi ” mà xem. Xét cả trong lẫn ngoài nước.

Vì thế, tôi không ngạc nhiên khi thấy xuất hiện những bài thơ viết bằng hai (hay nhiều) thứ tiếng. Tôi đoán, tác giả những bài viết ấy thạo nhiều thứ tiếng (hoặc, cần cả vài thứ tiếng mới “đủ vốn” cho một thực tại sống phong phú và phức tạp). Và, có lẽ, dùng cả hai ngôn ngữ như thế sẽ giúp họ diễn đạt điều họ muốn nói được tốt hơn. Tính công cụ và chất liệu của ngôn ngữ có lẽ cũng không lạ.

Là người đọc, đôi lúc tôi cũng bắt chợp được, qua cách nói riêng của một ngôn ngữ, người viết chuyển tải được điều mà ngôn ngữ “kia” khó có thể chuyển tải được. Nếu quan niệm, đó là sự “làm chủ” (ngôn ngữ) thì có lẽ cũng có lí. Tối thiểu, đó là một quyền sở hữu rất riêng tư và thiết thân. (Một hệ luận của điều này: cái gọi là “Việt” có lẽ cũng cần được hiểu một cách khác hơn, mềm mại hơn).

Sau nhu cầu diễn đạt, bài thơ sẽ phải đáp ứng nhu cầu truyền đạt (hay truyền cảm nhận). Ở đây, thơ có thể thuộc loại “sản phẩm” kén và bị/được kén trong khả năng truyền đạt (và cảm nhận). Có lẽ thơ đa ngữ phải chấp nhận mẫu số chung ấy (và còn hơn thế nữa).

Nhà thơ Nguyễn Duy, với phong cách ngôn ngữ của thơ ông, có thể cũng khó lòng hình dung được loại thơ pha trộn ngôn ngữ này. Cho nên, nhận xét của nhà thơ xem ra là “hợp lí” đối với ông (và thời điểm ông nói lên nhận xét ấy); cũng như, tôi sẽ không ngạc nhiên khi một ngày nào đó, ông và nhiều người khác (phải) nhận rằng có những người thấy thoải mái và thích hợp hơn khi pha trộn các ngôn ngữ vói nhau. Vì, đó là cái ngôn ngữ nói, viết và nghĩ thật của một lớp người. Nhận thực tế ấy và nghĩ gì về thực tế ấy vẫn có thể là hai công việc khác nhau. Và, dù gì thì cũng chẳng “chết ai”. Quyền phán xét và tôn xưng cũng là quyền.

Nếu ngày nay người làm sáng tác vận dụng đa môi giới (multi-media) thì đa ngôn ngữ cũng không ra ngoài cái khung lớn ấy. Gọi đó là thơ cũng chỉ là một cách gọi theo thói quen (cũ).

Nguyễn Lộc
(8-2006)

bài đã đăng của Nguyễn Lộc


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)