Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Nghiên Cứu, Tôn Giáo Email bài này

Diệu nghĩa chữ «Không»

 

 

 

Yêu chân lý có nghĩa là chịu đựng được hư không, và do đó, chấp nhận cả cái chết. Chân lý luôn nằm cận kề bên cái chết.
(Aimer la vérité signifie supporter le vide, et par la suite accepter la mort. La vérité est du côté de la mortSimone Weil)

 
Triết học Phật giáo cho rằng đời là bể khổ. Kinh điển chép rằng ngay sau khi giác ngộ, trong bài giảng đầu tiên, đức Phật đã thuyết về Tứ diệu đế, mà trong đó Khổ đế là chân lý được nêu lên trước tiên. Bài viết nhỏ này không bàn về ý nghĩa chữ khổ trong tư tưởng Phật giáo vì nội hàm rộng lớn của nó, mà chỉ muốn nói đến một khía cạnh nhỏ : Khổ không chỉ có nghĩa đơn thuần là khổ đau về vật chất mà nó có một ý nghĩa lớn hơn, đó là sự đấu tranh giữa cái tất yếu và khát vọng tự do. Cái chết là một điều tất yếu, nhưng ý chí con người lại khao khát đến sự vĩnh cửu trường tồn nên muốn kéo sinh mệnh dài đến vô tận, vô biên. Trường sinh bất tử- một khát vọng gây nên nỗi khổ căn nguyên cho cõi thế- vẫn mãi mãi là giấc mơ hư ảo của con người, giống như giấc mơ tìm ra một loại động cơ vĩnh cửu của các nhà vật lý trong những thế kỷ trước.

Con người không ai muốn chấp nhận, thậm chí không muốn nghe nói đến, cái chết; dù chính cái chết là một trong những điều kỳ diệu nhất trong thế giới tự nhiên cùng cõi nhân sinh, vì nó đem lại cho cuộc đời toàn bộ vẻ đẹp bi tráng và ‎ý nghĩa của sự hằng cửu thiên thu. Chỉ có cái chết là điều duy nhất khiến tất cả con người đều được hoàn toàn bình đẳng trong cái thế giới đa thù sai biệt này. Từ vô lượng a tăng kỳ kiếp, cuộc đời sở dĩ vẫn còn đẹp, vẫn còn mang một ‎ý nghĩa là nhờ cái chết. Hãy thử tưởng tượng cuộc sống trường sinh bất lão của các vị thần tiên trong truyện Trung Quốc, nếu sống cả mấy ngàn năm mà chỉ cứ quanh quẩn mãi chuyện cưỡi hạc đến thăm nhau, rồi đánh cờ, ngâm thơ, uống rượu thì đó quả là cuộc sống đầy cực hình. Một cuộc sống lờ đờ tẻ nhạt đôi khi còn đáng sợ hơn cả cuộc sống nhọc nhằn. Trong mấy ngàn năm qua, con người luôn cố công đi tìm cho ra ý nghĩa đích thực của cuộc đời, chính điều đó cho thấy dường như cuộc đời tự bản chất đã không có mang một ý nghĩa nào, ngoài ý nghĩa mà ta cố gán cho nó, để mong thấy được rằng cái tham vọng muốn kéo dài sinh mệnh của mình trên cõi đời cũng không phải là điều vô nghĩa.

Cái chết không phải là cái gì đó đến với chúng ta từ bên ngoài, mà là một thuộc tính nội tại trong ta, ngay khi ta vừa mở mắt chào đời. Cái chết vẫn luôn tồn tại song đôi với sự hiện hữu của mỗi chúng ta. Vừa mở mắt chào đời là ta đã lên đường đi đến với cái chết, với Hư không. Song con người chỉ muốn tồn tại trong cõi Hữu, luôn mang hoang tưởng rằng đó là sở trú an toàn duy nhất cho mình, mà không ai dám nghĩ đến sự tồn tại trong cõi Không. Đối diện với cõi Không xa lạ, con người đâm ra hoang mang hoảng sợ, nên phải tìm đủ cách để cố gắng kéo dài sự hiện hữu của mình trên cõi thế. Có người mong được bất tử bằng cách dùng quyền lực và tiền bạc để khắc thơ đề tên mình trên đá, hoặc tạc tượng chính mình khi còn sống. Nhưng có lẽ cách đơn giản nhất là sinh con trai để “nối dõi tông dường”, do đó mà có quan niệm “trọng nam khinh nữ” trầm trọng ở phương Đông, để cố níu kéo sự tồn tại của mình thông qua một cái tên, cái họ.

Tôi muốn ghi lại đây một lần nữa câu nói cực kỳ minh tuệ của Homer:

Thần thánh ghen tỵ với chúng ta. Họ ghen tỵ với chúng ta vì chúng ta sẽ phải chết, bởi vì đối với chúng ta bất kỳ giây phút nào cũng có thể là những giây phút cuối cùng trong đời. Mọi thứ đều trở nên tươi đẹp hơn bởi vì chúng ta đều phải chết.(1)

Trong suốt dòng lịch sử nhân loại, mọi tham vọng kéo dài đế chế đến ngàn năm, mọi hoài bão xây dựng sự bất tử trường tồn trên bạo quyền để thực hiện ý chí hùng bá đều sụp đổ nhãn tiền, và trở thành hư không mộng ảo. Tần Thủy Hoàng, sau khi dùng máu lửa để thống nhất Trung Quốc, liền có tham vọng muốn xây dựng một đế chế ngàn năm, bắt đầu từ Thủy Hoàng cho đến Nhị thế rồi Vạn thế. Ông vua tàn bạo này cho bọn phương sĩ ra khơi để tìm thuốc trường sinh. Rốt cuộc tấm thân vạn thặng phải nằm lẫn cùng đám cá thối ở Sa Khâu(2), còn nhà Tần chỉ truyền được hai đời thì mất. Hán Vũ đế lại muốn luyện thuốc trường sinh bằng cách dựng một tượng tiên nhân bằng đồng, hai tay bưng một mâm vàng hứng sương khuya từ mặt trăng rơi xuống. Sương rơi chưa đầy mâm vàng thì vị vua hùng tài đại lược kia đã qua đời, mang theo cả khối hùng tâm vạn trượng về bên kia thế giới. Sử chép rằng hằng đêm vẫn nghe nghe tiếng ngựa hí nơi nấm mộ của ông ở Mậu Lăng, sáng ra không còn dấu vết. Cảnh tượng bi thương biết bao cho những tham vọng hư huyền của một kẻ từng một thời đứng trên đỉnh cao chói lọi của quyền lực. Ở phương Tây, đế chế La Mã hùng cường cũng sụp đổ, rồi đến chế độ quốc xã của Hitler. Đó là quy luật vô thường của Tự nhiên, tất cả đều sẽ qua đi theo những sóng lớp phế hưng. Tham vọng, hoài bão càng lớn thì sự sụp đổ càng bi thương và chóng vánh.

Đời hưng vong bao thành quách lâu đài
Tự thiên cổ đứng buồn soi đáy nước.

(Đinh Hùng)

Gần như là một điều nghịch lý, trong khi mọi tham vọng cuồng điên của con người muốn xây dựng một nền bá quyền trường cửu đều bị cơn lốc vô thường của cuộc sống quét sạch đi tất cả, thì một tôn giáo dạy con người luôn quán chiếu sự vô thường của cõi thế cùng sự vô ngã của chư pháp, như Phật giáo, lại thường tồn một cách lặng lẽ tịch nhiên đến hơn mấy ngàn năm, mà không cần đến bất kỳ một thế lực nào. Không cần đến lửa và thanh gươm, không cần đến bất kỳ một lực lượng thần quyền hay thế quyền nào, chỉ với một câu “Nhất thiết giai Không” đã khiến Phật giáo trường tồn qua bao cảnh dâu bể tang thương một cách an nhiên tự tại. Chân lý đó cho thấy chính vì buông bỏ tất cả nên nắm bắt được tất cả. Vạn pháp do tham luyến mà bị hư hoại, nhờ buông xả mà được thường tồn.

Kinh Dịch nói “Sinh sinh chi vị dịch” (sinh rồi sinh không dứt, đó là đạo dịch). Chúng ta thường chỉ nghĩ đến chữ “sinh” mà quên mất giữa hai chữ “sinh” đó phải có chữ “diệt.” Nhờ có diệt sinh mới nối tiếp được sinh. Heidegger có lẽ là triết gia phương Tây đầu tiên suy tư về Không (Néant) như là căn cơ cho Hữu (Être), khi
bàn về Siêu hình học phương Tây(3). Diệu dụng của chữ cũng được Lão Tử nói rất nhiều trong Đạo đức kinh. Tột điểm tư tưởng võ học trong tác phẩm Kim Dung là “vô chiêu thắng hữu chiêu”, thông qua nhân vật Lệnh Hồ Xung với Độc cô cửu kiếm. Theo tinh thần Trung luận của tổ Long Thọ thì “Dĩ hữu Không nghĩa cố, Nhất thiết pháp đắc thành” (Do có nghĩa của Không mà các pháp mới được thành tựu).

Người phương Tây một câu ngạn ngữ rất hay, đại khái như vầy: “Những gì ta đang có sẽ phải thuộc về kẻ khác, những gì ta tiêu xài sẽ mất đi, nhưng những gì ta cho đi sẽ còn lại mãi mãi”. Cõi thế vốn vô thường, không ai có thể nắm giữ mãi những gì mình đang có trong tay. Tôi muốn hiểu chữ “cho” ở đây có nghĩa là “buông xả” theo tinh thần Phật giáo. Phải buông xả tất cả thì mới có thể an nhiên tồn tại trong cõi Không. “Buông xả” vẫn là điệp khúc, tự mấy ngàn năm qua, vang rền trong tòa lâu minh triết phương Đông. Cố giáo sư Kim Định, trong tác phẩm “Những dị biệt giữa hai nền văn hóa Đông Tây” có nhắc đến một câu nói của thánh Gandhi “Je me réduis à zéro” (Tôi tự giảm trừ bản thân đến mức thành con số không). Nhà văn Xô-viết Azhaev, trong tác phẩm “Xa Mạc Tư Khoa”, có viết rằng giá trị của con người giống như một phân số, trong đó tử số mới là giá trị thực của mình, còn mẫu số chỉ là giá trị do mình tưởng tượng ra. Kiến thức sơ đẳng về phân số cho ta biết khi mẫu số càng lớn thì giá trị phân số càng bé lại, và nếu mẫu số tiến đến vô cực thì giá trị phân số tiến đến không; ngược lại khi giá trị mẫu số càng bé thì giá trị phân số càng lớn, nếu mẫu số tiến về không thì giá trị phân số tiến về vô cực. Thánh Gandhi trở thành một biểu tượng vĩ đại của nền minh triết Á châu do đã buông bỏ tất cả tư dục để “Je me réduis à zéro”, nghĩa là đưa mẫu số về giá trị bằng không!

Chỉ khi cảm nhận được cái Không, có thể “Je me réduis à zéro” thì chúng ta mới hiểu thêm về cái Hữu, nói theo Simone Weil thì phải cảm nhận được hư không, và do đó phải cận kề với cái chết thì mới thể hội được chân lý. Chỉ khi chúng ta thấy mình không là gì cả, thì mình mới được là mình theo tinh thần “Ngã thuyết .. tức phi … thị danh” của kinh Kim Cương. Tồn tại trong cõi Không mới là sự tồn tại vô ngại, giữ được cái Tâm không thì mặt trời trí huệ sẽ tự nhiên chiếu sáng(4), và mới có thể “viễn ly điên đảo, mộng tưởng.

Trong Bát nhã tâm kinh, toàn bộ thế giới vật lý và tâm lý với lục căn, lục trần, lục thức, cho đến thuyết tứ diệu đế và thập nhị nhân duyên – nền tảng của tư tưởng Phật giáo – đều bị quét sạch trong cơn lốc phủ định toàn triệt của hai chữ BẤT và VÔ:

Sắc bất dị Không, Không bất dị sắc; sắc tức thị Không, Không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị. Xá-Lợi-Tử! Thị chư pháp Không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố Không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới, vô vô-minh diệc, vô vô-minh-tận, nãi chí vô lão-tử, diệc vô lão-tử-tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.

Nhưng phủ định toàn triệt theo tinh thần Bát nhã là thể cách vi diệu để đưa đến sự khẳng định toàn triệt trong cảnh giới tự do tuyệt đối. Trong cảnh giới thù thắng đó thì khẳng định là phủ định, và phủ định là khẳng định. Mọi mâu thuẫn đều dung thông vô ngại. Theo kinh điển ghi lại thì khi vừa mới sinh ra đời, đức Phật đã bước đi bảy bước trên tòa sen và cất tiếng như sư tử hống : “Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn”. (Trên trời dưới đất, chỉ có Ta là tôn quý). Đó có lẽ là ngày đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại, cái Tôi được khẳng định một cách minh triết và hùng hồn nhất. Một tôn giáo khởi đầu bằng cách khẳng định một cách tuyệt đối cái Tôi, thì chính tôn giáo đó lại xiển dương quan điểm “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc” và dùng một loạt mười tám loại “Không”, từ “Nội không” cho đến “Vô pháp hữu pháp không” trong kinh Bát Nhã, để đẩy toàn bộ cái thế giới hữu sắc này đến chỗ tận cùng của chân không, của phủ định.

Và hơn ai hết, chính đức Phật là người đã “Je me réduis à zéro” đến chỗ toàn triệt, nên khi từ cõi Không bước vào cõi Hữu để thuyết pháp, thì tư tưởng Ngài mãi mãi chói lọi trong ánh sáng giác ngộ của đấng Không Vương!

 

 

_____________________________________

Ghi chú:

(1) Lời thoại của nhân vật Achille trong cuốn phim TROY: “The Gods envy us. They envy us because we’re mortal, because any moment might be our last. Everything is more beautiful because we’re doomed.”

(2) Theo Sử kí Tư Mã Thiên thì Tần Thuỷ Hoàng, khi đi tuần thú, đột ngột mất ở Sa khâu. Thừa tướng Lý Tư sợ thiên hạ sinh biến bèn không cho phát tang, mà đưa xe về cung. Dọc đường, Lý Tư sai lính gánh cá thối đi kèm theo xe để lẫn lộn với mùi người chết. Các quan vẫn hằng ngày tham kiến trước xe như khi vua còn sống!

(3) Xin xem « Qu’est-ce que la métaphysique? » (Siêu hình học là gì?)

(4) Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu – Tổ Bách Trượng

 

 

 

.

bài đã đăng của Huỳnh Ngọc Chiến


18 Bình luận »

  • Trinh - Trung Lap says:

    Thật thú vị khi so sánh các nhận định (dưới góc độ ý nghĩa của cái chết)
    – Anh Chiến cho rằng :  ……..Nhờ có diệt sinh mới nối tiếp được sinh……
    – Anh Dũng có quan điểm khác hơn : ….không hẳn “cái chết” mà “không tính” mới là “chân lý” của đời sống theo Phật triết….
    – Anh Thế Hùng cũng có hiểu rằng : …..Vì cái ngã của con người quá lớn nên luôn đi trong luân hồi khổ đau sinh tử……
    – Chị Kim Lan dẫn giải thêm : ….Các kinh nói về Phật sinh ra trên cõi đời và mục đích tối hậu của Phật đến với thế gian là chấm dứt luân hồi…….
    – Anh Bắc Phong thì : …mong quý vị lãnh đạo trần thế đọc và nhận thông điệp minh tuệ về tính không trong cõi vô thường….
    – Liên hệ thêm, ta thấy, Chúa Jesus thì nói : …….Ta là đường là sự thật và là sự sống, ai theo ta thì sẽ không phải chết, sẽ sống đời đời…… (Nôm na là Tội lỗi đã làm cho con người phải chết, và đoạn tuyệt với Tội lỗi thì sẽ được hưởng hạnh phúc ở Nước trời)
    – Cố Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thì ngậm ngùi nuối tiếc hơn : …..Cái chết chẳng qua cũng chỉ là sự đùa cợt sau cùng của cuộc sống ………
    Cuộc sống là gì vậy ? Mà sao ai cũng cố gắng “buông xả” để “trường tồn trong cõi không”, hoặc tìm cách để đoạn tuyệt – một đi không trở lại ! Hoặc tìm chốn Thiên đàng cao sang !
    Chính vì vậy tôi rất thích cái tư duy ứng dụng thực tiễn của ai đó mong ước cho cuộc đời trở nên một mùa xuân vĩnh cửu !
     
     

  • Huỳnh Ngọc Chiến says:

    Xin chân thành cáo lỗi cùng anh Nguyễn Quốc Trụ.
    Về Simone Weil, tôi có đọc bà chút đỉnh theo kiểu ngẫu nhĩ lai rai và cảm nhận theo cách riêng của mình. Và tôi viết bài này qua cảm nhận đó, cũng theo cách ngẫu nhĩ lai rai. Chỉ có vậy thôi.
    Một lần nữa xin cám ơn anh đã góp ý.
    Trân trọng.

  • NQT says:

    V/v Weil & Marxisme

    Sau đây là một số bài viết của Weil liên quan tới chủ ngĩa Marx:
    Le Marxisme, 1934
    Sur les contradictions du Marxisme, 1938
    In trong Simone Weil, Oeuvres, Quarto Gallimard
    Theo tôi, chẳng có một mắc mớ nào giữa tư tưởng của Weil, với Phật giáo, chẳng có cái diệu nghĩa chữ không ở Weil.
    Nguyển Quốc Trụ

  • NQT says:

    @ HNC
    Tuy để tên tắt, nhưng tôi đã kèm theo đó, cả một website của tôi, kèm thêm bài viết Tưởng niệm Simone Weil, để, nếu bạn có chút thì giờ, đọc, hiểu thêm về bà, và, từ đó, về câu hỏi, liệu có thể coi tư tưởng của bà, hợp với hư không, hư vô của Phật Giáo?
    Nên nhớ, Weil đã từng được coi là một nhà “Mác Xít” có hạng!
    Trân trọng
    Nguyễn Quốc Trụ

  • Huỳnh Ngọc Chiến says:

    Chân thành cám ơn chị Thái Kim Lan đã làm sáng tỏ thêm nội dung bài viết.
    Chân thành cám ơn anh (hay chị?) NQT đã cho một câu dịch sát nghĩa hơn.
    Trân trọng.

  • NQT says:

    @ HNC:
    http://www.tanvien.net/tribute/simone_weil.html
    Như một đóng góp , về Simone Weil.
    NQT

  • NQT says:


    @ HNV
    La vérité est du côté de la mort

    Chân lý ở phiá cái chết, đúng hơn?
    NQT

  • Tư Cận says:

    Theo thiển ý, chính anh Bắc Phong mới là người thực sự cảm nhận được thông điệp của bài tiểu luận này, còn các vấn đề̀ triết học hay tôn giáo mà tác giả trình bày chỉ là chuyện tùy duyên mà thôi.
    Mong được chỉ giáo.

  • nguyễn thế hùng says:

    Cảm ơn anh Huỳnh Ngọc Chiến và chị Thái Kim Lan đã giải đáp.
    Trân trọng.

  • Thái Kim Lan says:

    Nếu đọc “thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn” trong toàn bộ câu kinh mà ông Nguyễn Thế Hùng trích dẫn: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn, Nhất thiết thế gian, Sinh Lão Bệnh Tử (tạm dịch: “Trên trời dưới trời, duy chỉ mới có mình ta là biết được nguyên do Sinh, Lão, Bệnh, tử, nay ta muốn cứu độ chúng sanh khỏi vòng sinh già bệnh chết”.) hay “Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn ư tư sanh tử dĩ tận” (Trên trời dưới đất duy ta (Phật Cô Đàm) là kẻ tối hậu chấm dứt  sanh tử luân hồi)  thì ta thấy câu chuyện không phải về cái Tôi hay cái “duy ngã” tuyệt đối.

    Chữ “ngã” trong “duy ngã độc tôn” theo bản kinh tiếng Phạn chỉ là một đại danh từ nhân vật theo qui ước văn phạm, khác với khái niệm “NGÔ =  atta = atman như một khái niệm về “tự ngã” trong triết lý đạo Phật và triết học Ấn độ. Ngộ nhận đến từ tiếng Trung hoa khi phiên dịch từ kinh tạng Pali, và từ tiếng Trung hoa sang tiếng Việt: đều dùng một chữ “ngã”. Toàn câu kinh được trích dẫn từ Kinh Đại Bổn trong Trường Bộ Kinh Digha Nikaya hay Kinh Đại Bản Duyên trong Kinh Trường A hàm:  “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn. Duy ngã vi tôn, yếu độ chúng sanh, sanh lão bệnh tử” (Trên trời dưới trời, chỉ mình Ta là tôn quý. Việc cần yếu của Ta là độ chúng sanh thoát ly sanh già bệnh chết  (Kinh Đại Bổn Duyên).

    Các kinh nói về Phật sinh ra trên cõi đời và mục đích tối hậu của Phật đến với thế gian là chấm dứt luân hồi.
    Bài kệ trong Kinh Trường A Hàm [11] đã ghi:

    “Này các Tỳ-kheo, pháp thường của chư Phật, Bồ-tát Tỳ-bà-thi, khi sanh, do hông phải của mẹ mà ra, chuyên niệm không tán loạn. Ngài từ hông phải ra, vừa đến đất, không cần người đỡ, liền đi bảy bước, ngó khắp bốn phương, rồi đưa tay lên nói rằng: ‘Trên trời dưới đất, duy Ta là tôn quý’, Ta sẽ cứu độ chúng sanh khỏi sinh, già, bệnh, chết. Ấy là thường pháp của chư Phật.”

    Giống như sư tử bước,
    Ngó khắp cả bốn phương;
    Nhân sư tử khi sanh,
    Đi bảy bước cũng thế
    Lại như rồng lớn đi,
    Khắp ngó cả bốn phương,
    Đấng nhân long khi sanh,
    Đi bảy bước cũng thế
    Khi đấng Lưỡng túc sanh,
    Đi thong thả bảy bước,
    Ngó bốn phương rồi nói.
    Sẽ dứt khổ sinh tử.
    Ngay lúc mới sanh ra,
    Đã không ai sánh bằng,
    Tự xét gốc sinh tử,
    Thân này thân tối hậu.

    (Trường A hàm, I, Kinh Đại Bổn Duyên, Thích Tuệ Sĩ dịch)
    Tối hậu vì Phật là vị cuối cùng trong 7 vị Phật xuất hiện trên thế gian có hạnh nguyện  chấm dứt khổ não sinh tử và là vị Phật duy nhất thực hiện tự do và bất tử.
    Xin trích dẫn một số kinh liên quan đến 8 chữ nói trên
     
    Theo kinh Trường A Hàm I, “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn. Duy ngã vi tôn, yếu độ chúng sanh, sanh lão bệnh tử” (Trên trời dưới trời, chỉ mình Ta là tôn quý. Việc cần yếu của Ta là độ chúng sanh thoát ly sanh già bệnh chết – kinh Đại Bổn Duyên).

    Kinh Tu Hành Bản Khởi ghi “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn. Tam giới vi khổ, ngô đương an chi” (Trên trời dưới trời , chỉ có Ta là tôn quý nhất. Ba cõi đều khổ Ta sẽ làm cho chúng sanh an lạc – Đại Chính tân tu [ĐCTT], T3, tr.463C).

    Kinh Thái Tử Thụy Ứng Bản Khởi, quyển thượng chép “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn. Tam giới giai khổ, hà khả lạc giả?” (Trên trời dưới trời, chỉ có Ta là tôn quý nhất. Ba cõi đều khổ, ai là người có thể đem lại sự an lạc? – ĐCTT, t3, tr.473).

    Kinh Phổ Diệu nói “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” (Trên trời dưới trời, Ta là bậc tôn quý của trời và người – ĐCTT, T3, tr.494A). Kinh Dị Xuất Bồ Tát Bản Khởi thuật “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” (Trên trời dưới trời, bậc tôn quý nhất không ai bằng Ta –ĐCT, T3, tr.618A). Kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả “Ngã ưu nhất thiết thiên nhan chi trung tối tôn tối thắng. Vô lượng sanh tử ư kim tận hỷ” (Ta, đối với tất cả hàng trời người là bậc tối tôn tối thắng. Vô lượng sanh tử từ này chấm dứt – ĐCTT, T3, tr.625A). Kinh Phật Bản Hạnh Tập “Thế giản chi trung, ngã vi tối thượng. Ngã tùng kim nhật, sanh phần dĩ tận” (Ở trong thế gian, Ta là bậc cao nhất.Từ nay, việc sanh tử của Ta đã đoạn tận – ĐCTT, T3, tr.687B).
     
    Chữ TA ở đây đứng ngôi chủ thể trong câu phát ngôn. Vấn đề TỰ NGÃ và VÔ NGÃ theo thiển ý được đặt ra xuyên suốt giáo lý của Đức Phật nhưng ở những đoạn kinh khác. Không thể chối cãi toàn bộ lời dạy của Đức Phật nhằm giải phóng sự vong thân của chủ thể hầu tái lập tự do và tự chủ mà con người bị vòng xích luân hồi xiếc chặt. CON NGƯỜI là sinh vật cao qúi nhất theo Đức Phật chính vì khả năng và cơ hội giải phóng nằm trong nó. Nhưng lý giải những điều ấy bằng 8 chữ trích dẫn ở trên thì hình như tác giả đã khổ công tu từ (Rhetorik) khi nghiên cứu TỰ NGÃ.”

  • Huỳnh Ngọc Chiến says:

    Thân gởi anh Nguyễn Thế Hùng,

    Xin anh đừng dùng hai “chỉ dạy” mà tôi phải . . . tổn thọ và không dám viết bài cho Da màu nữa!

    Đúng như anh nói, lời tuyên bố này của đức Phật thấy được ghi chép lại trong một số kinh điển thuộc Hán tạng, với nội dung có sai khác chút đỉnh. Câu trả lời có rất nhiều trên mạng. Anh có thể tham khảo câu trả lời tại địa chỉ
    http://thanhnienphattu.net/forum/viewtopic.php?f=45&t=490

    Tôi có lần nhận xét về câu này trong bài “Nhậm Ngã Hành: cái Tôi và bản lĩnh” trong cuốn “Lai rai chén rượu giang hồ” của mình (hiện có sẵn trên mạng). Nếu anh có thời gian rỗi, xin mời anh đọc bài đó cho vui.

    Trân trọng

  • nguyễn thế hùng says:

    Thưa anh Chiến,
    Hình như  sau 2 câu: ” Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” còn 2 câu nữa ” Nhất thiết thế gian, sinh lão bệnh tử”.
    Hàm ý:  Vì cái ngã của con người quá lớn nên luôn đi trong luân hồi khổ đau sinh tử.
    Có phải vậy không, xin chỉ dạy thêm.

  • Bắc Phong says:

    mong quý vị lãnh đạo cộng sản
    đang nắm quyền bạo trị quê hương
    đọc và nhận thông điệp minh tuệ
    về tính không trong cõi vô thường

    Cám ơn anh Huỳnh Ngọc Chiến. BP

  • hải đăng says:

    Tính không (sunyata), theo Long Thọ, là một tên gọi khác của lý Duyên Khởi. Tính không như vậy không có nghĩa là “hư không” hay “cái chết”. Nó chỉ cho sự thiếu tự tính và vô ngã của các sự vật (pháp), chứ không chỉ cho sự không hiện diện của sự vật.
    Tôi ham vui mà nói vậy thôi. Tôi nghĩ chắc anh Chiến biết rõ điều này. Cũng cám ơn anh về bài viết thú vị này.

  • Ngô Nguyên Dũng says:

    Gửi Anh Huỳnh Ngọc Chiến và Anh/Chị Trần Kh.,

    chân thành xin lỗi Anh Huỳnh Ngọc Chiến và độc giả Da màu về sai sót trầm trọng của tôi giữa hai Bà Simone Weil và Simone Veil. Tiện thể tôi cũng xin được sửa lại tên triết gia Heidegger, thay vì Heiddeger cũng như Heiddeiger.

    Cám ơn Anh/chị Trần Kh. đã chỉ ra lỗi lầm này. Nhờ Anh/Chị mà tôi được học hỏi và mở rộng thêm mớ kiến thức vốn dĩ hạn hẹp của mình.

    Dù sao thì nội dung bài góp ý của tôi về chữ “không” của Anh Huỳnh Ngọc Chiến vẫn không thay đổi.

    Trân trọng.

  • Huỳnh Ngọc Chiên says:

    Thân gởi anh Ngô Nguyên Dũng,
    Cám ơn những nhận xét của anh về bài tiểu luận này. Tôi chỉ viết theo những mình cảm nhận được. Khi đọc «Qu’est-ce que la métaphysique? » của Heidegger, tôi luôn cảm nhận cái “le Néant” của ông gần gũi với tinh thần Không Tính trong kinh Bát nhã của  Phật giáo, hoặc khái niệm Thái Hư trong tinh thần phương Đông hơn là cái Hư Vô mà ta thường hiểu.Đối với cái “le Vide ” của Simone Weil hay cái Zéro của thánh Gandhi cũng vậy.

    Còn Cái Chết (la Mort) trong câu nói của Simone Weil, tôi hiểu “chết” theo tinh thần “tuyệt hậu tái tô” của Thiền tông để tao nên sự chuyển y trong tâm thức. Có vậy ta mới có thể nhận ra ý nghĩa của câu “La vérité est du côté de la mort.”
    Trân trọng
    Huỳnh Ngọc Chiến

  • Trần Kh. says:

    Ngô Nguyên Dũng viết:
    ” … để dẫn nhập cho bài viết, Anh trích một câu của bà Simone Weil,  một chính trị gia của Pháp, từng là chủ tịch Quốc hội Âu châu vào đầu thập niên 80 thế kỷ trước và cũng là một tư tưởng gia có tiếng, được nhận vài Hàn lâm viện Pháp… ”
    Câu Huỳnh Ngọc Chiến trích ở đầu bài
    (http://www.dicocitations.com/auteur/4598/Simone_Weil.php)
    là của Simone Weil (1909-1943), một nữ triết gia
    (http://en.wikipedia.org/wiki/Simone_Weil).
    Anh Ngô Nguyên Dũng nhầm với bà Simone Veil (sinh năm 1927)
    (http://en.wikipedia.org/wiki/Simone_Veil).
    Tôi cũng đã từng lẫn lộn giữa hai bà Đầm này   😉
    Trần Kh.
     
     

  • Ngô Nguyên Dũng says:

    Thưa Anh Huỳnh Ngọc Chiến,
     
    để dẫn nhập cho bài viết, Anh trích một câu của bà Simone Weil, một chính trị gia của Pháp, từng là chủ tịch Quốc hội Âu châu vào đầu thập niên 80 thế kỷ trước và cũng là một tư tưởng gia có tiếng, được nhận vài Hàn lâm viện Pháp: “Yêu chân lý có nghĩa là chịu đựng được hư không, và do đó, chấp nhận cả cái chết. Chân lý luôn nằm cận kề bên cái chết.”  Và rải rác nhiều nơi trong bài, Anh nhắc tới một vài thi hào, triết gia Âu tây như Homer, Heiddeger để luận bàn về “diệu nghĩa chữ ‘không’ ” trong Phật triết.
     
    Theo mớ kiến thức khiêm tốn của tôi, thì triết học Phật giáo phân biệt hai thứ “chân lý”: tương đối và tuyệt đối. Ở đây tôi mạn phép chỉ đề cập tới “chân lý tuyệt đối” và cũng là “không tính” trong Phật triết. Tôi thật sự không dám nghĩ rằng tôi đã hiểu thấu ý nghĩa đề tài cốt lõi uyên thâm mênh mông này, chỉ nhân đây xin bày tỏ cùng Anh một vài suy tư.
     
    Tôi không dám chắc rằng, ý nghĩa “chân lý”, “hư không” và “cái chết” trong câu nói của bà Weil hay trong tư tưởng của Heiddeiger, nói riêng, hay trong triết học phương Tây, nói chung, là một với ý nghĩa trong triết lý Phật giáo. Tại sao? Vì: Đức Phật ý thức được “chân lý tuyệt đối” (không tính) của cuộc sống khi ngài còn tại thế. Chỉ sau khi chết, ngài mới nhập niết bàn, được giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Như vậy, có phải “chân lý” về “cái chết” của người giác ngộ và của chúng sinh chưa giác ngộ khác nhau không, thưa Anh?
     
    Nói khác đi, theo tôi, không hẳn “cái chết” mà “không tính” mới là “chân lý” của đời sống theo Phật triết. (?) 
     
    Ngài Dalai Lama có tiết lộ trong một quyển sách (tôi quên mất tựa), mỗi ngày, ngoài việc thiền tập để đạt “tính không” (đặc biệt là để diệt ngã), ngài còn thiền tập nhập tử nhiều lần. Mục đích cho cách thiền tập nhập tử của ngài làm tôi thắc mắc. Hay đó là cách thiền tập để nhận thức “chân diện mục” về cái chết của người đã ý thức được “tính không”?
     
    Ngoài ra, tôi cũng e rằng, cách hiểu về chữ “Không”, và vì vậy, dẫn tới ý nghĩa rốt ráo của vấn đề “sinh tử”, trong triết Tây và Phật triết không giống nhau, thưa Anh.
     
    Tôi xin được dừng ở đây, không thôi lan man lạc đề mất. Cám ơn Anh đã cho tôi đọc được một bài viết uyên bác về một đề tài vô cùng thú vị.
     
    Trân trọng.
     

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)