Trang chính » Biên Khảo, Dịch Thuật, Nhận Định, Phê Bình, Sang Việt ngữ Email bài này

Bài giảng của Vladimir Nabokov về “Hóa thân” của Franz Kafka


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 11.03.2010

 

 

 

franz-kafkas-metamorphosis2

 

 

Lẽ đương nhiên, dù một truyện, một bản nhạc, một bức tranh được bàn thảo và phân tích sắc sảo đến nhường nào, tuyệt vời đến nhường nào, sẽ có những đầu óc vẫn còn trống rỗng và những sống lưng vẫn còn chưa bị rợn. “Ta nắm được cơ huyền vi của tạo hóa” – điều Vua Lear nuối tiếc xiết bao khi tự nhủ lòng và cũng là nói với Cordelia – đây cũng là đề xuất của tôi dành cho tất cả những ai coi trọng nghệ thuật. Một người đàn ông khốn khổ bị cướp mất chiếc áo khoác (“Chiếc áo khoác” của Gogol, hay chính xác hơn “The Carrick”); một anh chàng khốn khổ khác bị hóa thành con bọ (“Hóa thân” của Kafka) – thì sao? Không bao giờ có câu trả lời hợp lý cho câu hỏi “thì sao.” Chúng ta có thể mổ xẻ truyện ra, chúng ta có thể thấy các mẩu truyện khớp với nhau như thế nào, một đoạn văn phong tương ứng với đoạn kia thế nào; nhưng anh chị phải mang trong mình một loại tế bào, một loại gene, một mầm mộng sẽ ngân lên đáp trả những cảm giác không nắm bắt được, càng khó lòng rũ bỏ. Cái đẹp cộng với lòng trắc ẩn – khi định nghĩa nghệ thuật là gì thì đây là thứ gần nhất mà chúng ta có thể tới được. Ở nơi nào có cái đẹp, nơi đó có lòng trắc ẩn vì một lý do đơn giản là cái đẹp phải chết: cái đẹp lúc nào cũng chết, hình thức chết cùng nội dung, thế giới chết cùng cá thể. Nếu “Hóa thân” của Kafka gây ấn tượng với ai đó là thứ còn hơn một fantasy kể về loài sâu bọ, thì tôi xin chúc mừng người đó đã gia nhập vào hạng độc giả giỏi và xuất sắc.

Tôi muốn thảo luận về fantasy và hiện thực, và mối quan hệ tương hỗ giữa chúng. Nếu chúng ta coi truyện “Dr. Jekyll and Mr. Hyde” là một phúng dụ – cuộc giằng co giữa Thiện và Ác trong mỗi con người – thì phúng dụ này thật nhạt nhẽo và trẻ con. Đối với loại đầu óc thấy ở đây sự phóng dụ thì vở rối bóng của nó cũng sẽ mặc nhiên đưa ra những biến cố tự nhiên mà lương thức biết là bất khả; nhưng thực ra trong bối cảnh truyện, khi được một đầu óc có lương thức xem xét, không có gì thoạt tiên nhìn lại có vẻ đi ngược lại với kinh nghiệm nhân loại nói chung. Tuy nhiên, tôi muốn gợi ý rằng, khi nhìn kỹ lần thứ hai sẽ thấy là bối cảnh truyện thực sự có đi ngược lại kinh nghiệm con người nói chung, và rằng Utterson và những người khác quanh Jekyll, ở một nét nghĩa nào đó, đều phi thực như ông Hyde. Nếu không nhìn họ dưới ánh sáng phi thực thì sẽ chẳng có gì lôi cuốn cả. Mà nếu pháp sư đã bỏ đi để người kể chuyện và giáo viên còn lại một mình, thì họ chẳng hợp cạ gì cho lắm.

Truyện của Jekyll và Hyde được dựng lên rất hoàn hảo, nhưng nó là kiểu cũ. Bài học đạo đức của nó rất ngớ ngẩn vì chả Thiện hay Ác được mô tả một cách thực sự: trên tổng thể, Thiện và Ác bị coi là đương nhiên, và cuộc giằng co giữa chúng là diễn ra giữa hai thân xác rỗng không. Sự lôi cuốn nằm ở nghệ thuật thêu dệt của Stevenson; nhưng tôi muốn gợi ý rằng bởi vì nghệ thuật và tư tưởng, hình thức và nội dung, là bất khả phân tách, thì cấu trúc của truyện cũng phải tương tự như vậy. Tuy nhiên, chúng ta phải thận trọng. Tôi vẫn nghĩ rằng truyện này có một lỗi về mặt nghệ thuật – nếu chúng ta xem xét một cách tách biệt hình thức và nội dung – một lỗi không tồn tại trong “Chiếc áo khoác” của Gogol và trong “Hóa thân” của Kafka. Phía cạnh phi thực của bối cảnh – Utterson, Enfield, Poole, Lanyon, và London của họ – không cùng một kiểu phi thực ở khía cạnh Jekyll “teo nhỏ lại”. Có một vết nứt trong bức tranh, một sự thiếu nhất quán.

“Chiếc áo khoác,” “Dr. Jekyll and Mr. Hyde,” và “Hóa thân”: cả ba đều được gọi chung là fantasy. Quan điểm của tôi là, bất cứ tác phẩm nghệ thuật xuất chúng nào cũng là một fantasy chỉ khi nó phản ánh thế giới độc nhất của một cá thể độc nhất. Nhưng khi mọi người gọi ba truyện này là fantasy, họ đơn giản chỉ có ý là nội dung những truyện này khác với cái được gọi là hiện thực. Vì vậy, chúng ta hãy thử xem xem hiện thực là gì, để khám phá ra ở hình thức nào và ở mức độ nào cái được gọi là fantasy đi trệch khỏi cái được gọi là hiện thực.

Chúng ta hãy cho ba người đàn ông khác nhau cùng đi qua một phong cảnh. Số Một là một anh thị dân đang đi nghỉ một kỳ nghỉ xứng đáng. Số Hai là một nhà thực vật học. Số Ba là một nông dân địa phương. Số Một, anh thị dân, là cái được coi là loại người thực tế, tuân theo lẽ thường, coi mọi chuyện hiển nhiên: anh ta nhìn cây là cây và từ bản đồ của mình, anh ta biết rằng đường mình đang đi là một con đường mới đẹp dẫn đến Newton, tại đó có một quán ăn ngon do một người bạn ở văn phòng giới thiệu. Nhà thực vật học liếc quanh và nhìn môi trường của anh ta theo những thuật ngữ chính xác của đời sống cây cối, những đơn vị sinh vật học được phân loại chính xác, chẳng hạn như một số loài cây và cỏ, hoa và dương xỉ cụ thể, và với anh ta, đây là hiện thực; với anh ta, thế giới của những khách du lịch dửng dưng lãnh đạm kia (những kẻ không thể phân biệt nổi một cây sồi với cây đu) có vẻ là một thế giới phi thực, mơ hồ, hão huyền, Never–Never Land. Cuối cùng, thế giới của anh nông dân địa phương khác với cả hai thế giới kia ở khía cạnh thế giới của anh ta tràn ngập cảm xúc và cực kỳ riêng tư vì anh ta sinh ra và lớn lên ở nơi đó, biết từng cái cây, từng con đường mòn, từng bóng cây ngả xuống con đường, tất cả đều nằm trong mối liên hệ ấm ấp với công việc thường nhật của anh, và thời thơ ấu, và một nghìn những điều, những chi tiết mụt mằn mà hai người kia – vị du khách buồn tẻ và nhà phân loại thực vật – đơn giản là không thể biết được ở một nơi nhất định vào một thời điểm nhất định. Anh nông dân của chúng ta sẽ không hiểu cây cối xung quanh liên quan gì với khái niệm thực vật học của thế giới, còn nhà thực vật học chả thấy kho thóc, hay cánh đồng kia hay ngôi nhà cổ dưới tán cây dương kia thì có gì quan trọng, trong khi với những người sinh ra ở đó thì những thứ này lại luôn hiện diện, cứ cho là như vậy, đâu đó trong ký ức cá nhân của họ.

Vậy ở đây chúng ta có ba thế giới khác nhau – ba người đàn ông, những người bình thường có những hiện thực khác nhau – và, dĩ nhiên, chúng ta có thể đưa ra một loạt những tồn tại khác: một người mù với một con chó, một thợ săn với một con chó, một con chó với chủ của nó, một họa sĩ đi đây đó kiếm tìm buổi hoàng hôn, một cô gái bị hết xăng – trong bất cứ trường hợp nào thì cũng sẽ là một thế giới khác biệt hoàn toàn với những thế giới còn lại vì những từ khách quan bậc nhất cây, đường, hoa, bầu trời, kho thóc, ngón tay cái, mưa, mỗi cái đều mang trong mình những hàm ý chủ quan khác biệt tuyệt đối. Thực vậy, cuộc sống chủ quan này mạnh đến nỗi nó biến cái gọi là hiện tồn khách quan thành một cái vỏ vỡ nát và trống rỗng. Con đường duy nhất quay lại với hiện thực khách quan là như sau: chúng ta có thể lấy một vài thế giới cá thể này, trộn chúng với nhau, thật đều và nhuyễn, múc lên một giọt hỗn hợp đó, và gọi nó là hiện thực khách quan. Chúng ta có thể nếm ra trong đó một phân tử điên rồ nếu một kẻ điên vừa đi qua chỗ vừa múc lên, hay một phân tử xinh xinh và dớ dẩn tuyệt đối nếu một người đang ngắm nhìn một cánh đồng đẹp đẽ và tưởng tượng nơi đây sẽ mọc lên một nhà máy xinh xắn sản xuất khuy cúc hoặc bom; nhưng trên tất, những phân tử điên rồ này sẽ bị loãng đi trong giọt hiện thực khách quan mà chúng ta giơ lên dưới ánh đèn trong ống nghiệm của chúng ta. Hơn thế nữa, hiện thực khách quan này sẽ chứa một thứ biến những ảo giác và thí nghiệm phòng lab sang một tầm cao mới. Nó sẽ có những nhân tố của thi ca, của sự đê mê, của năng lượng và sự nỗ lực (và thậm chí ở đây ông vua cúc áo có thể tìm thấy vị trí phù hợp cho mình), của lòng trắc ẩn, lòng kiêu hãnh, niềm đam mê – và sự thèm khát một miếng thịt nướng dày thịt ở một quán ăn ven đường do người khác giới thiệu.

Vì vậy khi nói hiện thực, chúng ta thực sự nghĩ đến tất cả những thứ này – trong một giọt – một mẫu trung bình của một hỗn hợp hàng triệu những hiện thực cá thể. Và ở khía cạnh nghĩa này (của hiện thực con người) mà tôi dùng thuật ngữ hiện thực khi đặt nó đối sánh với cái nền, chẳng hạn như thế giới trong “Chiếc áo khoác”, “Dr. Jekyll and Mr. Hyde”, và “Hóa thân”, chúng rõ ràng đều là những fantasy cụ thể.

Trong “Chiếc áo khoác” và trong “Hóa thân”, có một nhân vật trung tâm được ban cho chút xúc cảm con người giữa những nhân vật nhẫn tâm, thô kệch, những nhân vật khờ khạo mua vui hay nhân vật gây kinh hãi, mông phô như ngựa vằn, hay lai giữa thỏ và chuột. Trong “Chiếc áo khoác”, phẩm chất người của nhân vật trung tâm là một dạng khác với Gregor trong truyện của Kafka, nhưng phẩm chất thương xót người này hiện hữu trong cả hai tác phẩm. Trong “Dr. Jekyll and Mr. Hyde”, không có dạng xúc cảm người như vậy, không có tiếng đập rộn trong cổ họng của truyện, không có cái giọng đều đều “ ‘Tôi không ra được, tôi không ra được,’ mà con chim sáo đá nói” (vô cùng nhức nhối tâm can trong fantasy “A Sentimental Journey” của Sterne). Quả thực, Stevenson dành rất nhiều trang cho cảnh ngộ khốn khổ đầy kinh sợ của Jekyll, nhưng sau rốt, tác phẩm chỉ là một vở kịch rối Punch và Judy xuất sắc mà thôi. Cái đẹp trong cơn ác mộng cá nhân của Kafka và Gogol là ở chỗ nhân vật người trung tâm của họ thuộc về cùng một thế giới cá nhân phi thực như những nhân vật phi người quanh họ, nhưng nhân vật trung tâm lại cố thoát ra khỏi thế giới đó, muốn lột bỏ mặt nạ, muốn vượt thoát cái áo khoác hay bộ vỏ côn trùng. Còn ở truyện của Stevenson, không hề tồn tại sự thống nhất cũng như tương phản đó. Nhà Utterson, nhà Poole, and nhà Enfield vốn được tạo ra với dụng ý là một nơi chốn bình thường, những nhân vật thường nhật; thực ra họ là những nhân vật có nguồn gốc từ Dickens, và vì vậy, họ cấu thành nên những ảo tượng không thuộc về hiện thực nghệ thuật của riêng Stevenson cho lắm, giống như đám sương mù của Setevenson đến từ một studio kiểu Dickens để phủ lên một London thông lệ. Thực ra, tôi xin phép cho rằng thuốc thần của Jekyll thì thực hơn cuộc đời của Utterson. Ở một khía cạnh khác, chủ đề phi thực Jekyll–và–Hyde lẽ ra là để tương phản với London thông lệ này, nhưng một chủ đề Trung Cổ Gothic thì thực sự khác biệt với một chủ đề kiểu Dickens. Nó không giống sự khác biệt giữa thế giới phi lý và Bashmachkin phi lý một cách đáng thương, hay giữa thế giới phi lý và Gregor phi lý một cách bi kịch.

Chủ đề Jekyll–và–Hyde không tạo được một sự nhất quán với bối cảnh của truyện cho lắm vì fantasy của nó là một dạng khác với fantasy của bối cảnh. Jekyll thực ra chẳng có gì thực sự đáng thương hay bi kịch cả. Chúng ta sung sướng tận hưởng từng chi tiết trong trò tung hứng tuyệt diệu, trong trò lừa gạt đẹp đẽ, nhưng không có tiếng thổn thức nghệ thuật nào ở đây cả, và ai, Jekyll hay Hyde là người có cái tay trên thì đối với người đọc giỏi là chuyện tuyệt đối chẳng đáng quan tâm. Tôi đang nói đến sự khác biệt tinh vi, và thật khó khăn để diễn đạt một cách giản dị. Khi một triết gia Pháp đầu óc rạch ròi nhưng có phần thiển cận hỏi triết gia Đức Hegel sâu sắc nhưng khó hiểu phát biểu quan điểm của ông một cách súc tích, Hegel cay nghiệt trả lời ông kia rằng, “Những chuyện này thảo luận súc tích chả được mà thảo luận bằng tiếng Pháp cũng chả được.” Chúng ta sẽ bỏ qua vấn đề là liệu Hegel đúng hay sai, mà tiếp tục nói một cách ngắn gọn sự khác biệt giữa kiểu truyện của Gogol–Kafka và kiểu của Stevenson.

Trong truyện của Gogol và Kafka, nhân vật trung tâm phi lý thuộc về thế giới phi lý chung quanh anh ta nhưng, đáng thương và bi kịch, tìm mọi cách thoát ra khỏi nó để hòa vào thế giới con người – và chết trong tuyệt vọng. Ở truyện của Stevenson, nhân vật trung tâm phi thực thuộc về một loại phi thực khác với thế giới xunh quanh anh ta. Anh ta là một kiểu nhân vật Gothic trong một bối cảnh kiểu Dickens, và khi anh ta vật lộn rồi chết, số mệnh của anh ta chỉ có được những cảm xúc như lẽ thường phải có. Tôi hoàn toàn không có ý bảo rằng truyện của Stevenson là thất bại. Không, nó là một tuyệt tác nho nhỏ trong những khía cạnh thông lệ của riêng nó, nhưng nó chỉ có hai chiều kích trong khi truyện của Gogol–Kafka có đến năm, sáu.

Sinh năm 1883, Franz Kafka xuất thân từ một gia đình Do thái nói tiếng Đức ở Prague, Séc. Ông là nhà văn Đức vĩ đại bậc nhất của thời đại chúng ta. Những nhà thơ như Tilke hay tiểu thuyết gia như Thomas Mann chỉ là chú lùn hay thánh bằng thạch cao khi sánh với ông. Ông học luật tại trường German University của Prague và từ 1908 về sau, ông làm một chân viên chức tầm thường, một người làm công nhỏ bé, trong một văn phòng rất kiểu Gogol cho một công ty bảo hiểm. Hầu như không có tác phẩm bây giờ nổi tiếng nào của ông, như tiểu thuyết Vụ án (1925) và Lâu đài (1926) được xuất bản khi ông còn sống. Truyện ngắn xuất chúng nhất của ông “Hóa thân” tiếng Đức là “Die Verwandlung” được viết vào mùa thu năm 1912 và xuất bản tại Leipzig tháng Mười năm 1915. Năm 1917, ông ho ra máu, và suốt quãng đời còn lại, một đoạn bảy năm, bị ngắt quãng bởi những lần lưu trú tạm thời trong các viện điều dưỡng ở Trung Âu. Trong những năm cuối đời ngắn ngủi (ông chết ở tuổi bốn mươi), ông có một tình yêu hạnh phúc và sống với người tình ở Berlin, vào năm 1923, không cách xa tôi lắm. Mùa xuân năm 1924, ông đến một viện điều dưỡng gần Vienna, tại đây ông mất vào ngày 3 tháng Sáu, do bị lao thanh quản. Ông được mai táng tại nghĩa trang Do thái ở Prague. Ông yêu cầu bạn ông, Max Brod đốt hết mọi thứ ông từng viết, ngay cả những thứ đã xuất bản. May mắn là Brod không làm theo ước nguyện của bạn mình.

Trước khi bắt đầu nói về “Hóa thân”, tôi muốn bác bỏ hai quan điểm. Tôi muốn bác bỏ tuyệt đối ý kiến của Max Brod rằng phạm trù thánh thần, không phải phạm trù văn học, là cái duy nhất có thể áp dụng để hiểu văn chương của Kafka. Kafka trước tiên nhất là một nghệ sĩ, và dù có thể công nhận rằng mọi nghệ sĩ là một dạng thánh (chính bản thân tôi cảm thấy điều này khá rõ rệt), tôi không nghĩ rằng chúng ta có thể gán thêm bất cứ ngụ ý tôn giáo nào vào thiên tài của Kafka. Vấn đề thứ hai tôi muốn bác bỏ là quan điểm Freud. Những nhà viết tiểu sử Kafka theo quan điểm Freud, chẳng hạn như Neider trong “The Frozen Sea” (1948), khẳng định rằng, tỉ dụ như, “Hóa thân” lấy cơ sở từ mối quan hệ phức tạp của Kafka với cha mình và phức cảm tội lỗi suốt đời của ông; họ còn tiến xa hơn khi cho rằng trong chủ nghĩa tượng trưng huyền thoại, sâu bọ là biểu tượng cho trẻ em – chuyện này tôi nghi ngờ – và rồi tiếp tục nói rằng Kafka sử dụng biểu tượng con bọ để chỉ đứa con trai theo những định đề kiểu Freud này. Con bọ, họ nói, khắc họa một cách tài tình cảm giác vô dụng khi đứng trước người cha. Điều tôi quan tâm ở đây là sâu bọ, không phải bịp bợm, và tôi phản đối sự dớ dẩn này. Bản thân Kafka là một người cực kỳ phê phán những ý tưởng của Freud. Ông coi phân tâm học (tôi trích lại) là “một sai lầm vô phương cứu chữu” và ông coi những lý thuyết của Freud là những bức tranh còn rất sơ sài, còn rất đại khái, không tương xứng được với các chi tiết, hay còn hơn thế, cái cốt yếu của vấn đề. Đây là một lý do nữa tại sao tôi muốn bác bỏ phương pháp tiếp tận kiểu Freud mà thay vào đó, tập trung vào khoảnh khắc mang tính nghệ thuật.

Kafka về mặt văn học chịu ảnh hưởng lớn nhất là từ Flaubert. Flaubert, ghê tởm những thước văn mỹ miều, có lẽ sẽ ngợi ca thái độ của Kafka đối với công cụ của mình. Kafka thích lấy ngôn từ của mình từ ngôn ngữ của luật và khoa học, ban cho chúng một sự chính xác đến châm biếm, không có sự xâm phạm của cảm xúc riêng tư của tác giả; đây chính là phương pháp mà nhờ đó Flaubert đã đạt được một hiệu hứng thi pháp đặc biệt.

Nhân vật chính trong “Hóa thân” là Gregor Samsa (đọc là Zamza), con trai của một cặp vợ chồng trung lưu ở Prague, những người tầm thường kiểu Flaubert, những người mối quan tâm duy nhất là khía cạnh vật chất của cuộc sống còn về gu thẩm mỹ thì là thô lậu. Đâu khoảng năm năm trước, cụ ông Samsa phá sản, rồi thì con trai ông Gregor đi làm cho một trong những chủ nợ của cha và trở thành người bán vải. Khi đó cha anh đã thôi việc hẳn, em gái anh Grete thì nhỏ quá chưa thể đi làm, mẹ anh thì ốm đau vì hen suyễn; vậy là chàng Gregor trẻ không chỉ chu chấp cho toàn bộ gia đình mà còn tìm cho họ một căn hộ mà giờ họ đang sống ở đó. Căn hộ này, một căn nhà trong khu chung cư, chính xác là nằm trên Phố Charlotte, được chia thành các phần như chính người anh sẽ bị. Chúng ta đang ở Prague, trung tâm châu Âu, năm 1912; người giúp việc khá rẻ nên nhà Samsa có thể nuôi một hầu gái, Anna, mười sáu tuổi (nhỏ hơn Grete một tuổi) và một đầu bếp. Gregor phần lớn thời gian là đi lại, nhưng khi truyện bắt đầu, anh ở lại nhà qua đêm giữa hai chuyến công tác, và chính lúc đó chuyện kinh hãi nhất đã xảy ra. “Một sáng tỉnh giấc băn khoăn, Gregor Samsa nằm trên giường thấy mình biến thành một côn trùng khổng lồ. Lưng anh rắn như thể được bọc kín bằng giáp sắt, anh nằm ngửa dợm nhấc đầu lên và nhìn thấy bụng mình khum tròn, nâu bóng, phân chia làm nhiều đốt cong cứng đờ; tấm chăn bông đắp trên bụng đã bị xô lệch, gần tuột hẳn. Chân anh nhiễu ra, mảnh khảnh đến thảm hại so với phần còn lại của thân hình to đùng, vung vẩy bất lực trước mắt anh.

“Mình làm sao thế này? – anh nghĩ thầm. – Đây đâu phải chiêm bao…”

“Rồi Gregor đưa mắt nhìn qua vuông cửa sổ; những giọt mưa lộp độp rơi trên máng xối; và bầu trời âm u vần vũ ngoài kia khơi dậy trong anh một nỗi sầu khắc khoải. “Chắc mình nên ngủ nán thêm tí nữa cho quên luôn cái chuyện vô lý này đi”, anh ngẫm nghĩ, nhưng không sao ngủ được, vì anh vốn quen nằm nghiêng bên phải khi ngủ và trong tình cảnh hiện giờ anh không thể nào trở mình được. Tha hồ cho anh ráng hết sức xoay nghiêng sang phải, lần nào anh cũng bật ngửa trở lại. Nhắm nghiền mắt[1] để khỏi nhìn thấy những cặp chân đang vùng vẫy, anh thử đi thử lại cả trăm lần và chỉ bỏ cuộc khi anh bắt đầu cảm thấy ở mạng sườn cơn đâu âm ỉ, mơ hồ chưa từng nếm trải.”

“Lạy chúa, – anh nghĩ. – Mình chọn chi cái nghề quá đỗi nhọc nhằn này! Chạy rông hết ngày này sang ngày khác. Một công việc thật còn khó chịu hơn cả chuyện bán buôn ở cửa hàng và bực mình nhất đời là cứ phải liên tục di chuyển, cứ phải lo lắng chuyện đổi tàu, chuyển ga, ăn uống thất thường, gặp đâu ngủ đấy, lúc nào cũng phải làm quen với những kẻ tình cờ gặp gỡ để rồi không bao giờ thấy mặt lần thứ hai, không bao giờ trở thành bạn hữu thân tình. Quỷ bắt cái nghề này đi!” Anh cảm thấy hơi ngứa ở bụng. Vẫn nằm ngửa, anh từ từ nhích lại gần đầu giường để có thể nhấc cao đầu dễ dàng hơn, anh xác định được chỗ ngứa bao quanh bởi nhiều đốm trắng nho nhỏ mà anh không hiểu là gì. Anh vươn một chân thử chạm vào đó nhưng rụt phắt lại ngay vì sự tiếp xúc ấy khiến toàn thân anh rùng mình ớn lạnh.”

Nào, vậy chính xác thì Gregor tội nghiệp, anh chàng đi chào hàng tiều tụy này, bất thình lình biến thành “bọ” gì? Nó rõ ràng là thuộc về chi “chân có nhiều khớp” (Arthropoda), bao gồm cả côn trùng, nhện, rết, giáp xác. Nếu “vô số chân nhỏ xíu” được nói đến ở đoạn mở đầu nghĩa là nhiều hơn sáu cái chân, vậy thì Gregor sẽ không phải là một loại côn trùng nhìn từ khía cạnh động vật học. Nhưng tôi cho rằng một người đàn ông thức dậy nằm ngửa và thấy mình có đến sáu cái chân khua loạn xạ trong không trung có thể cảm thấy rằng sáu cũng đủ để gọi là vô số rồi. Vì vậy chúng ta sẽ giả định rằng Gregor có sáu chân, rằng anh là một con côn trùng.

Câu hỏi tiếp theo: côn trùng gì? Một số nhà chú giải bảo là gián, dĩ nhiên là chẳng hợp lý. Một con gián là một con côn trùng có chân to người dẹp, và người Gregor là bất cứ hình dạng gì, trừ dẹp: anh vồng ra ở cả hai phía, bụng và lưng, và chân anh nhỏ. Anh chỉ có thể là gián ở một điểm duy nhất: người anh màu nâu. Chỉ có thế. Ngoại trừ điểm này, anh có một cái bụng vồng lên rất lớn được chia làm nhiều ngấn và một cái lưng tròn cứng tạo cảm tưởng là bao cánh. Ở loài bọ, những bao này chứa những cái cánh nhỏ xíu mỏng mảnh có thể xòe rộng ra và rồi con bọ có thể bay hàng dặm hàng dặm trong một chuyến bay bất thần. Đáng tò mò là, Gregor con bọ chưa bao giờ phát hiện mình có cánh dưới lớp vỏ lưng cứng. (Đây là một phát hiện rất hay của tôi mà các anh chị nên trân trọng suốt đời.) Một vài Gregor, một vài Joe, và Jane, không biết rằng họ có cánh.) Thêm nữa, anh có đôi hàm khỏe. Anh dùng bộ phận này để xoay chìa khóa trong ổ khi đứng thẳng lên bằng chân sau, trên đôi chân thứ ba (một đôi chân nhỏ rất khỏe), và điều này cho chúng ta biết chiều dài cơ thể anh, khoảng 0.91 mét. Trong tiến trình truyện, anh dần dần quen với việc sử dụng bộ phận phụ mới này – chân, tứ chi. Con bọ màu nâu, thân vồng có kích cỡ bằng một con chó có bản người rất rộng. Tôi hình dung trông anh như thế này:

 

clip_image001

 

Trong nguyên bản tiếng Đức, mụ quét dọn gọi anh là Mistkäfer, một “con bọ phân”. Rõ ràng người phụ nữ tốt bụng này đặt biệt danh chỉ để tỏ ra thân thiện. Về mặt lý thuyết mà nói, anh không phải là một con bọ phân. Anh chỉ là một con bọ to. (Tôi phải nói thêm rằng cả Gregor cũng như Kafka đều không nhìn thấy con bọ kia được rõ ràng gì cho lắm.)

Chúng ta hãy nhìn kỹ hơn vào sự hóa thân. Sự thay đổi, dù kinh ngạc và đáng chú ý, thoạt đầu lại không kỳ quặc đến mức như ta tưởng. Một nhà chú giải bình thường (Paul L. Landsberg trong The Kafka Problem [1946], ed. Angel Flores) nhận xét rằng “Khi chúng ta đi ngủ mà chung quanh là những thứ không quen thuộc, thì khi tỉnh giấc chúng ta dễ có khuynh hướng bị hoang mang mất một lúc, một cảm giác bất ngờ cảm nhận cái phi thực, và trải nghiệm này phải xảy ra hết lần này đến lần khác trong cuộc đời của một anh chào hàng, một kiểu sống khiến cho bất kỳ một cảm giác về sự liền mạch nào đó cũng trở thành bất khả. Ý thức về hiện thực phụ thuộc vào tính liên tục, vào thời biến. Trên hết, tỉnh dậy là một con bọ không khác nhiều lắm với việc tỉnh dậy là Napoleon hay George Washington. (Tôi biết một người tỉnh dậy là Hoàng đế Brazil.) Hơn nữa, sự cô lập, và sự lạ lẫm của cái gọi là hiện thực – điều này, sau rốt, là đặc trưng của nghệ sĩ, thiên tài, và người khám phá. Gia đình Samsa ở quanh con côn trùng phi thực không là gì hơn người bình phàm ở quanh thiên tài.

Phần Một

Giờ tôi sẽ nói đến vấn đề cấu trúc. Phần một của truyện có thể chia làm bảy cảnh hay đoạn:

Cảnh 1: Gregor thức dậy. Anh một mình. Anh đã biến thành con bọ, nhưng ấn tượng con người vẫn còn lẫn với những bản năng côn trùng mới trong anh. Cảnh kết thúc với lời giới thiệu về nhân tố thời gian vẫn của con người.

“Anh nhìn chiếc đồng hồ báo thức đang tíc tắc trên đầu tủ. “Trời đất ơi! – anh hốt hoảng. – Đã sáu giờ rưỡi rồi, và những chiếc kim đồng hồ vẫn lầm lì chuyển động; thậm chí đã gần bảy giờ kém mười lăm rồi chứ có phải sáu rưỡi nữa đâu. Chẳng lẽ đồng hồ không réo chuông ư?… Chuyến tàu kế tiếp sẽ khởi hành lúc bảy giờ, muốn đón kịp chuyến tàu ắt hẳn anh phải vội như điên, thế mà các mẫu hàng chưa đựoc gói ghém, còn bản thân anh thì chẳng thấy mình sảng khoái, hoạt bát gì mấy. Và cho dù có đón kịp chuyến tàu, anh cũng không thể nào tránh khỏi lôi thôi với lão chủ, bởi vì tên loong toong ở cửa hàng ắt đã tính đợi anh đến bằng chuyển tàu năm giờ và từ lâu hẳn là đã báo cho lão chủ biết sự vắng mặt của anh rồi. Và giá hắn có nói thế trong trường hợp này thì phỏng có sai gì lắm? Thực tế, Gregor cảm thấy rất khỏe khoắn, chỉ hơi buồn ngủ, một điều quả thực là hơi lạ sau một giấc ngủ dài đến thế, và thậm chí anh lại còn đói bụng khác thường nữa chứ.”

Cảnh 2: Ba thành viên gia đình gõ cửa phòng anh và nói chuyện với anh từ, lần lượt, hành lang, phòng khách, và phòng em gái anh. Gia đình Gregor là những vật ký sinh trên người anh, bóc lột anh, ăn dần ăn mòn anh từ bên trong. Đây là ham muốn con bọ của anh theo khía cạnh con người. Ham muốn thảm hại tìm sự che chở chống lại sự bội phản, tàn nhẫn, và ô trọc là nhân tố giúp hình thành cái mai của anh, lớp vỏ bọc con bọ của anh, thoạt tiên thì có vẻ cứng và an toàn nhưng sau rốt lại dường như dễ tổn thương mà như da thịt và tinh thần con người ốm yếu của anh đã bị. Ai trong ba con ký sinh kia – bố, mẹ, em gái – là con tàn nhẫn nhất? Thoạt đầu, có vẻ đó là ông bố. Nhưng ông không phải là kẻ xấu nhất: chính đứa em gái, Gregor yêu nó nhất nhưng nó phản bội anh khi bắt đầu với cảnh khuân đồ đạc ở giữa truyện. Ở cảnh hai, chủ đề cánh cửa bắt đầu: “Có người thận trọng gõ vào cánh cửa phía đầu giường anh nằm. “Gregor ơi,” – tiếng mẹ anh gọi, – “bảy giờ kém mười lăm rồi con. Hôm nay không đón tàu đi làm sao, con?” Giọng nói ấy sao mà dịu dàng quá! Gregor bàng hoàng khi nghe thấy giọng nói của chính anh đang trả lời mẹ, đúng là giọng anh, không lầm vào đâu được, nhưng kèm theo một chuỗi âm the thé léo nhéo ghê rợn, rền rền như một tiếng thầm thì, khiến cho các từ thốt ra chỉ rõ ràng lúc đầu, rồi tiếng đó dâng lên dội lại quanh các từ, phá hủy ý nghĩa của chúng đến mức Gregor đã định trả lời cặn kẽ và giải thích mọi điều nhưng trong hoàn cnảh này anh đành chỉ nói vắn tắt, ‘Vâng, vâng thưa mẹ, con dậy ngay đây.’” Cánh cửa gỗ giữa họ chắc hẳn đã khiến cho thay đổi trong giọng nói của anh không bị bên ngoài chú ý. Tuy nhiên một vài lời trao đổi ngắn gọn đã khiến cho các thành viên khác trong gia đình biết được rằng Gregor vẫn còn ở nhà, mà họ không hề nghĩ là sẽ thế, và ở mặt cửa bên kia cha anh đã gõ nhẹ nhàng, tuy nhiên, bằng nắm đấm. “Gregor! Gregor!” – ông gọi. – “Con làm sao vậy?” Và sau một chặp, ông lại gọi anh lần nữa, giọng trầm đi: “Gregor ơi! Gregor!” Tiếng nói nhỏ nhẹ, ảo não của em gái anh cũng đã vang lên sau cánh cửa đối diện: “Anh Gregor? Anh không ốm đấy chứ? Có cần gì không, anh?” Anh trả lời chung cho cả hai: “Tôi xong rồi đây,” và cố hết sức phát âm thật rõ ràng, tách biệt từng từ một để giọng nói của mình càng có vẻ bình thường càng tốt. Yên lòng, bố anh trở lại tiếp tục bữa điểm tâm, nhưng cô em gái vẫn thì thào gọi: “Anh Gregor, mở cửa ra đi anh.” Tuy vậy, anh không nghĩ đến chuyện nghe lời cô em, và thầm cảm ơn thói quen thận trọng hình thành qua những chuyến đi chào hàng: ban đêm bao giờ anh cũng khóa kính tất cả cửa, kể cả ở nhà.”

Cảnh 3: Việc ra khỏi giường một cách khốn khổ, khi mà con người lên kế hoạch còn con bọ thực hiện. Gregor vẫn nghĩ về cơ thể mình ở khía cạnh con người, nhưng giờ phần người dưới là phần sau của con bọ, phần người trên là phần đầu của con bọ. Một người trên cả tứ chi với anh dường như tương ứng với một con bọ đứng trên sáu chân. Anh vẫn chưa hiểu chuyện này lắm và sẽ bền bỉ cố đứng dậy trên đôi chân thứ ba của mình. “Anh đã ngỡ mình có thể tụt khỏi giường bằng cách trườn phần dưới của thân hình ra trước, nhưng phần dưới của thân hình – nằm khuất tầm mắt và anh chẳng hề có ý niệm gì về nó – hóa ra lại chuyển động khó khăn quá chừng, nó xê dịch hết sức chậm chạp nên rốt cuộc, bực quá hóa rồ, anh gom hết sức lực, liều mạng lao mình ra. Anh đã nhắm chệch hướng và va đánh sầm vào thành cuối giường đau nhói, do đó anh biết phần dưới này của thân hình anh hiện có lẽ là vùng nhạy cảm nhất… Nhưng rồi anh tự nhủ: “Trước khi đồng hồ điểm bảy giờ mười lăm, mình phải bước hẳn ra khỏi cái giường này, nhất định thế. Dù sao, đến lúc đó thế nào cũng có người ở cửa hàng đến tận đây tìm mình vì cửa hàng bắt đầu mở từ trước bảy giờ kia mà”. Và anh bắt đầu dịch người lắc lư toàn thân theo một nhịp điệu đều đặn, với ý định văng mình ra khỏi giường. Nếu anh làm theo cách đó thì có rơi xuống đất anh vẫn có thể giữ cho đầu khỏi bị thương bằng cách vươn đầu thẳng lên kịp thời tránh không rơi. Lưng anh có vẻ rắn chắc lắm, không lí nào lại đau đớn vì một cái ngã từ trên giường xuống thảm. Băn khoăn lớn nhất của anh là không có cách nào ngăn được tiếng ầm khi rơi phịc xuống, tiếng động ấy có khả năng gây hoang mang, nếu không nói là kinh hoảng, cho những người đang ở phía sau các cánh cửa. Tuy nhiên anh vẫn phải liều thôi… Ôi chao, ngay cả khi những cánh cửa kia không khóa chặt, liệu anh có thật sự dám cầu cứu chăng? Dù đã lâm vòa tình cảnh khốn khổ, anh vẫn không nén được một nụ cười trước ý nghĩ đó.”

Cảnh 4: Anh vẫn nỗ lực đứng dậy khi chủ đề gia đình, hay chủ đề nhiều cánh cửa, lại tiếp tục, và trong tiến trình cảnh này, anh cuối cùng ngã ra khỏi giường. Cuộc chuyện trò có phần giống một dàn đồng ca Hy Lạp. Từ văn phòng làm việc của Gregor, lão quản lý đã được cử đến đây xem tại sao anh vẫn chưa có mặt ở ga. Tốc độ kiểm tra một nhân viên bê trễ công việc nhanh đến tàn nhẫn này có mọi tính chất của một cơn ác mộng. Tiếng nói chuyện qua cánh cửa, như ở cảnh hai, giờ được lặp lại. Hãy chú ý chuỗi sự kiện: lão quản lý nói chuyện với Gregor từ phòng khách phía bên trái, em gái Gregor, Grete, nói chuyện với anh trai từ phòng phía bên phải; bà mẹ và ông bố nhập bọn cùng lão quản lý trong phòng khách. Gregor vẫn có thể nói, nhưng giọng anh trở nên càng lúc càng khó nghe, và chẳng mấy chốc, lời anh không thể hiểu được nữa. “Trong Finnegans Wake, James Joyce viết hai mươi năm sau, hai nữ thợ giặt nói chuyện với qua sông dần dần biến thành một cây đu to và một hòn đá.) Gregor không hiểu tại sao em gái anh ở phòng bên phải lại không nhập bọn cùng số còn lại. “Có lẽ cô ấy vừa mới rời khỏi giường và thậm chí còn chưa khoác áo xống vào người cũng nên. Hừ, nhưng sao nó lại khóc? Khóc vì anh không chịu đứng lên đón lão quản lí vào, vì anh có nguy cơ mất chỗ làm, và bởi vì lão chủ hãng sẽ lại đòi bố mẹ anh trả những món nợ cũ chăng?” Gregor tội nghiệp đã quá quen với việc chỉ là một công cụ bị gia đình lợi dụng đến nỗi vấn đề thương xót không hề dâng lên: anh thậm chí không hy vọng Grete sẽ cảm thấy thương tiếc cho anh. Mẹ và em gái gọi nhau từ những cánh cửa đối diện phòng Gregor. Em gái và người hầu được phái đi gọi bác sĩ và thợ khóa. “Nhưng Gregor lúc này đã bình tĩnh hơn nhiều. Ra là thế, người ta không còn hiểu được những lời anh thốt ra nữa, tuy rằng anh vẫn hiểu mình khá rõ ràng, thậm chí còn rõ ràng hơn trước kia, có lẽ đôi tai anh đã dần quen với âm thanh của lời mình nói. Dù sao đi nữa, mọi người cũng cho rằng anh đang bị làm sao đó và đang cần giúp đỡ. Cái cách họ tiến hành dứt khoát những biện pháp đầu tiên: cho gọi bác sĩ và thợ khóa khiến anh thấy mình được an ủi, anh thấy mình lại được lôi kéo trở về với thế giới con người và anh mong mỏi những kết quả tốt đẹp, hữu hiệu sẽ đến – nhờ cả ông thầy thuốc lẫn bác thợ khóa chẳng cần phân biệt cụ thể giữa hai người.”

 

Cảnh 5: Gregor mở cửa. “Gregor từ từ đẩy chiếc ghế về phía cửa, rồi buông ghế ra, bấu chặt lấy cánh cửa cho khỏi ngã – những gót chân tận cùng những chiếc cẳng khẳng khiu của anh hơi dinh dính – và anh tựa người vào cửa phòng để nghỉ. Sau đó, anh dùng mồm hì hụi cố xoay chìa khóa trong ổ. Khốn thay, anh nhận ra miệng mình dường như không còn chiếc răng nào – lấy gì mà kẹp chắc chiếc chìa khóa bây giờ? Nhưng mặt khác, đôi hàm của anh lại rất khỏe, nhờ đó anh có thể xoay được chiếc chìa trong ổ khóa, bất chấp việc đôi hàm của anh đang bị tổn thương ở đâu đó, vì từ trong mồm anh đã ứa ra một chất lỏng màu nâu, trào giàn giụa trên chiếc chìa khóa rồi nhỏ xuống sàn… Vì anh phải kéo cánh cửa về phía trong nền những người đứng ngoài vẫn chưa nhìn thấy anh khi cửa đã thật sự rộng mở. Anh phải nhích từ từ vòng qua cánh cửa gỗ, rất thận trọng để khỏi té bật ngửa ngay trên ngưỡng cửa. Công việc gian nan này không cho phép anh có thời gian quan sát mọi điều khác và anh còn đang làm thế thì bỗng thấy lão quản lí rú lên “Asa!” – nghe như tiếng gió gào – bây giờ anh đã nhìn thấy lão ta, đứng gần cửa nhất, một bàn tay đưa lên bụm chặt lấy cái miệng há hốc và lão đang lùi lại, chậm chạp, như bị đẩy liên tục bởi một áp lực vô hình nào đó. Mẹ anh – mặc dầu có lão quản lí, vẫn để tóc xõa tung, rối bời – mới đầu xiết chặt bàn tay vào nhau, bối rối nhìn bố anh, rồi dợm bước về phía Gregor và ngã quỵ xuống sàn trên lớp váy xống xòe rộng, đầu cúi gục xuống ngực. Bố anh, mặt mày đầy vẻ hung tợn, nắm tay lại như muốn tống Gregor lộn nhào trở lại vào trong phòng, rồi ông lưỡng lự nhìn quanh và đưa hai tay lên bưng mặt khóc, lồng ngực rộng phập phồng theo từng tiếng nấc.”

Cảnh 6: Gregor cố trấn an lão quản lý để anh không bị đuổi. “Biết chắc mình là kẻ duy nhất còn giữ được chút bình tĩnh, Gregor nói: “Này nhé, để tôi thay áo quần lập tức, gói ghém mẫu hàng rồi lên đường ngay. Liệu có để cho tôi đi không? Ông thấy đấy, tôi đâu có ngoan cố, tôi muốn làm việc mà, đi lưu động là một lối sống cực nhọc nhất, nhưng tôi không thể sống thiếu nó. Ông đi đấu thế, ông? Đến văn phòng ư? Sao ạ? Liệu ông có tường trình trung thực chuyện này không? Con người ta có thể tạm thời bị tàn phế, nhưng đó chính là lúc cần nhớ lại trước kia người ấy đã làm việc đắc lực ra sao, cần tin rằng sau đó, khi hết bệnh, người ấy nhất định sẽ càng cần cù và chuyên tâm hơn trước nữa.” Nhưng lão quản lý khiếp đảm và như thể bị ma nhập nháo nhào lao xuống cầu thang chạy biến đi. Gregor bắt đầu bước đi về phía ông ta – một cảnh tuyệt vời ở đây – trên ba đôi chân sau, “Nhưng ngay khi còn đang sờ soạng tìm điểm tựa thì anh đã đổ ềnh trên cả mớ chân cẳng chi chít, miệng thốt lên một tiếng kêu khẽ; vừa ngã sấp xuống là Gregor thấy thoải mái liền – cảm giác dễ chịu đầu tiên anh thụ hương từ sáng đến giờ: anh vui mừng nhận thấy những cặp chân trụ vững vàng, hoàn toàn tuân theo anh; thậm chí chúng cùng ráng sức chở anh tiến theo bất kì hướng nào anh muốn; và Gregor sẵn sàng tin rằng mọi nỗi khổ của anh, cuối cùng sắp vơi nhẹ đi.” Mẹ anh xuất hiện, và bước lùi tránh xa khỏi anh bà làm đổ bình cà phê trên bàn ăn sáng vì thấy nó đổ đầy ra thảm. “Mẹ ơi, mẹ ơi”, Gregor vừa khe khẽ gọi vừa ngước nhìn bà. Trong giấy lát lão quản lí hoàn toàn mất hết cảm giác, nhưng khi trông thấy dòng cà phê chảy, lão không sao ngăn nổi mình tợp tợp mấy ngụm không khí, khiến mẹ anh lại rú lên lẫn nữa… …nhảy vọt tới để bảo đảm đuổi kịp lão ta nhưng lão quản lí hẳn đã đoán được ý định của anh: lão nhảy ào xuống mấy bậc thang liền và biến mất để lại một tiếng thét vang dội khắp thang lầu.”

Cảnh 7: Ông bố hung bạo xua Gregor vào lại phòng anh, giậm chân sầm sầm và huơ huơ cây gậy ở một tay còn tờ báo ở tay kia. Gregor gặp khó khăn khi đi qua cái cửa mở hé mở phần, nhưng bị ông bố đẩy, anh cố, cho đến khi bị kẹt. “Một bên mình anh dựng lên, thân hình anh nằm thành một góc nghiêng trong khung cửa, mạng sườn bầm dập, những vết ươn ướt kinh rợn làm hoen ố cánh cửa trắng, anh bị kẹt cứng ngay sau đó, bất lực, không thể nào nhúc nhích một li, những cẳng chân phía bên sườn nhô cao ngọ nguậy, run rẩy trong không khí, những cẳng chân ở phía sườn kia bị đè cứng xuống sàn nhà đau điếng – trong khi bố anh từ đằng sau thúc mạnh vào lưng anh, đó đúng là cú đẩy giải thoát! Và anh bay vọt vào trong phòng, tuôn máu đầm đìa, cây gậy của bố anh đóng sầm cửa phòng lại rồi cuối cùng là im lặng.”

Phần hai

Cảnh 1: Nỗ lực đầu tiên là cho Gregor con bọ cánh cứng ăn. Với ấn tượng rằng hoàn cảnh của anh là một dạng thối tha nhưng không phải là bệnh vô phương cứu chữa có thể cùng với thời gian mà lành lại, trước tiên anh được cho là sẽ ăn theo chế độ của người ốm và anh thấy một suất sữa cho con người được đưa cho anh. Chúng ta luôn luôn ý thức rằng những cánh cửa kia, mở ra và đóng lại một cách lén lút khi trời chạng vạng. Từ bếp, qua hành lang, đến khoảng giữa dẫn đến cánh cửa phòng nằm trên hành lang của Gregor, tiếng bước chân khẽ khàng đang đến, tiếng bước chân em gái anh, làm anh đang ngủ thức dậy, và anh phát hiện ra một chậu sữa đã được đặt trong phòng anh. Một cái chân nhỏ của anh đã bị thương khi đụng độ với cha mình, lúc này đã đỡ hơn, nhưng trong cảnh này, anh đi tập tễnh và kéo lê nó một cách vô dụng đằng sau mình. Anh là một con bọ to như loài bọ bình thường, nhưng anh nhỏ hơn và dễ bị thương hơn con người. Gregor tiến lại chỗ sữa. Chao ôi, trong khi đầu óc vẫn còn là con người của anh háo hức chấp nhận cái ý niệm về món xúp bánh mì kia, có cả mẩu bánh mì trắng mềm trong sữa, dạ dày con bọ và phần vị giác con bọ lại từ chối một món ăn của loài động vật có vú. Mặc dù rất đói, anh lại cảm thấy ghê tởm sữa và anh bò lại vào giữa phòng.

Cảnh 2: Chủ đề cửa tiếp diễn và chủ đề thời biến xuất hiện. Chúng ta sẽ bắt đầu chứng kiến ngày và hoàng hôn bình thường của Gregor trong cái mùa đông phi thực năm 1912 này, và việc anh khám phá ra vai trò che chở an toàn của cái xô pha. Nhưng chúng ta hãy nhìn và nghe cùng Gregor qua tiếng kẹt của cửa phòng khách bên trái. Cha anh thường đọc báo to lên cho vợ và con gái. Quả thực, giờ đây việc này đã bị gián đoạn và căn hộ im lìm mặc dù không phải không có người ở, nhưng trên toàn thể, gia đình đang quen dần với tình huống. Đây là con trai và anh trai bị sa vào một sự biến đổi gớm guốc đáng lẽ đã khiến họ phải lao ra đường tìm sự giúp đỡ, vừa la hét, vừa khóc lóc, trong cơn xúc cảm hoang dại – nhưng họ ở đây, ba kẻ phàm phu tục tử, thoải mái dần dà chấp nhận sự việc.

Tôi không hiểu một vài năm trước đây anh chị có đọc trên báo về đứa con gái và con trai tuổi vị thành niên đã giết mẹ của đứa con gái không. Nó bắt đầu bằng một cảnh kiểu rất Kafka: mẹ đứa con gái về nhà thấy con gái mình và thằng kia trong phòng ngủ, và thằng kia đã dùng búa đập bà mẹ – vài lần – và kéo lê bà đi. Nhưng người đàn bà kia vẫn còn quẫy chân quẫy tay và rên rỉ trong nhà bếp và thằng bé bảo với người tình của nó, “Đưa anh cái búa. Anh nghĩ lại phải đập bà ấy.” Nhưng đứa con gái đưa cho người tình nó con dao và thằng kia đâm mẹ con bé nhiều, nhiều phát, cho đến chết – với một ấn tượng, chắc hẳn, rằng tất cả những chuyện này là một cột tranh vui trên báo: anh chị đánh một người, người đó thấy cả trời sao và các dấu chấm than nhưng rồi lại hồi sinh, trong số báo tiếp theo. Tuy nhiên, cuộc sống tự nhiên lại không có số tiếp theo và chẳng chóng thì chầy thằng bé và con bé kia phải làm gì đó với bà mẹ đã chết. “Ôi, bột thạch cao, nó sẽ làm cho bà ý tan rữa hoàn toàn!” Dĩ nhiên, đó là một ý tưởng tuyệt vời – cho thi thể vào bồn tắm, phủ đầy thạch cao lên, và xong. Trong khi đó, với bà mẹ nằm dưới lớp thạch cao (mà thực ra không thành công – có lẽ nhầm loại thạch cao) thằng bé và con kia tổ chức vài bữa tiệc tùng bia bọt. Vui gớm! Nhạc thu đĩa hay ho và bia đóng hộp ngon lành.
“Nhưng bọn mày không vào được phòng tắm đâu đấy. Bừa lắm.”

Tôi đang cố gắng cho các anh chị thấy rằng trong cái gọi là đời thực đôi khi chúng ta cũng gặp ối những sự tương đồng lớn với tình huống trong truyện phi thực của Kafka. Hãy để ý trạng thái tinh thần kỳ dị của những kẻ thoái hóa trong tác phẩm của Kafka, chúng vui vẻ đọc báo buổi tối mặc cho nỗi kinh hoàng phi thực đang xảy ra ngay giữa căn hộ của mình. “Gregor nghĩ thầm: “Nhà ta sao lại sống trầm lặng quá vậy”, và khi anh đứng bất động đăm đăm nhìn vào bóng tối, anh cảm thấy tự hào hết sức bởi vì nhờ anh mà bố mẹ cùng em gái mới có thể sống bình yên trong một căn hộ xinh xắn như thế này.” Căn phòng cao ngất và trống không và con bọ bắt đầu át trị con người. Căn phòng cao “mà anh đang nằm bẹp trên sàn lại khiến lòng anh tràn đầy một nỗi sợ hãi không sao giải thích nổi vì đây chính là phòng riêng của anh suốt năm năm qua; và trong một hành động gần như vô ý thức, đồng thời không khỏi hơi xấu hổ, anh bò vội xuống gầm ghế xôpha ở đó. Anh lập tức cảm thấy tiện nghi mặc dầu lưng hơi bị ép và đầu không cất ra được; chỉ tiếc là thân hình anh quá kềnh càng không lọt hết vào gầm chiếc tràng kỷ này.”

Cảnh 3: Em gái Gregor mang một loạt thức ăn vào phòng. Cô lấy chậu sữa đi, không dùng tay không mà có lót một tấm vải, vì nó đã bị con quái vật kinh tởm kia động vào. Tuy nhiên, cô là một sinh vật nhỏ thông minh, cô em gái đó, và mang theo một loạt thức ăn – rau đã thối, pho mát cũ, xương đã gặm không còn gì với nước xốt kem – và Gregor lao rít đến bữa đại tiệc này. “Mắt rưng rưng những giọt lệ thỏa mãn, anh cuống quýt nuốt lấy nuốt để hết miếng này đến miếng khác, nào pho mát, nào rau, nào nước xốt, trái lại, những thức ăn tươi lại chẳng có sức hấp dẫn nào đối với anh, thậm chí anh còn không chịu nổi mùi của nó và phải kéo những món anh có thể ăn được ra xa một chút.” Cô em gái xoay chìa khóa trong ổ thật chậm để cảnh báo anh biết đường rút lui, và cô vào, dọn dẹp trong khi Gregor, ăn no bụng, cố giấu mình dưới cái xô pha.

Cảnh 4: Grete, cô em gái, đảm đương một việc quan trọng mới. Cô chính là người cho con bọ ăn; mình cô bước vào hang ổ của con bọ, thở dài và thỉnh thoảng khẩn nài cầu xin các vị thánh – thật là một gia đình theo Cơ đốc giáo sùng đạo. Trong một đoạn tuyệt vời, người đầu bếp quỳ gối xin bà Samsa cho nghỉ. Nước mắt vòng quanh bà cảm ơn gia đình Samsa cho phép bà nghỉ – như thể bà là một nô lệ được tự do – và không đợi phải nhắc nhở, bà long trọng thề sẽ không bao giờ hé một lời cho bất kỳ ai về chuyện đang xảy ra dưới mái nhà Samsa. “Hằng ngày, Gregor được cho ăn theo lối đó, một lần vào mờ sáng khi bố mẹ anh và con hầu còn ngủ, và lần thứ hai sau khi mọi người đã xong bữa trưa, bởi vì khi đó bố mẹ anh đã về phòng nghỉ và em gái anh có thể sai con hầu ra phố chạy việc vặt này nọ. Dĩ nhiên đâu phải là họ muốn bỏ đói anh nhưng có lẽ họ chỉ cần nghe nói anh vẫn được ăn là đủ chứ biết thêm về chuyện đó thì chịu không nổi, cũng có thể em gái muốn giảm bớt lo âu cho bố mẹ được chừng nào hay chừng nấy, vì cứ như hiện nay, họ cũng đủ khổ sở rồi.”

Cảnh 5: Đây là một cảnh rất đau lòng. Nó tiết lộ rằng trong hình dáng con người trong quá khứ, Gregor đã bị gia đình mình lừa dối. Gregor đã nhận công việc cực nhọc tại công ty như ác mộng đó vì anh mong muốn giúp cha năm năm trước bị phá sản. “Mọi người đã dần quen với điều này một cách đương nhiên, cả gia đình lẫn Gregor. Những đồng tiền được đón nhận với lòng biết ơn và được ban phát với niềm vui sướng, nhưng nào còn nữa cái tình cảm nồng nhiệt đặc biệt trào dâng như hồi đầu. Chỉ riêng với người em gái là anh còn giữ vẹn thân tình, và anh đã bí mật hoạch định cho cô em, một người yêu em nhạc (trái hẳn với anh) và chơi đàn vĩ cầm rất truyền cảm, sẽ được đi học ở Nhạc viện vào năm tới, cho dù phí tổn có nặng nề tới đâu anh cũng có thể xoay xở được. Những lần về thăm nhà ngắn ngủi, anh thường nói với cô em về chuyện Nhạc viện, nhưng luôn luôn coi điều đó như một giấc mơ đẹp có lẽ không bao giờ thành sự thật, và bố mẹ anh thì cả đến những lời nhắc nhở hồn nhiên đến chuyện ấy, cũng gạt phắt. Nhưng Gregor đã quyết chí thực hiện bằng được và đã định tuyên bố những dự tính rất khả quan của anh với sự trang trọng thích hợp vào Lễ Giáng sinh năm nay.”

Gregor giờ nghe lỏm được cha mình giải thích “rằng một số tiền đầu tư nào đó, đành rằng rất nhỏ, còn sót lại sau cuộc phá sản và thậm chí còn tăng lên đôi chút vì phần lãi trong thời gian qua không bị động tới. Ngoài ra, số tiền Gregor mang về mỗi tháng – anh chỉ giữ lại chút ít cho riêng mình – gia đình anh chưa lần nào tiêu dùng hết và đến nay đã tích lũy thành một vốn liếng nho nhỏ. Đằng sau cánh cửa, Gregor hí hửng gật gật đầu, vui mừng trước sự tằn tiện và lo xa của ông bố, một điều anh không ngờ tới. Đáng lí ra với món tiền phụ trội này, anh đã có thể trả bớt một phần số nợ bố anh còn thiếu lão chủ, và sẽ tới gần cái ngày anh có thể bỏ cái nghề này, nhưng bây giờ rõ ràng anh thấy bố anh sử dụng tiền như thế hóa ra lại hay hơn.” Cả gia đình tin rằng số tiền kia không nên đụng tới phòng trường hợp khẩn cấp, nhưng trong khi đó, làm thế nào trang trải chi phí sinh hoạt? Người cha đã không lao động năm năm rồi và được thể trông mong là sẽ làm được gì. Chứng hen suyễn của mẹ Gregor khiến bà không lao động được. “Và em gái anh có thể làm lụng kiếm miếng ăn được chăng trong khi nó chỉ mới mười bảy tuổi đầu, khờ khạo như con nít, cả đời chỉ biết ăn sung mặc sướng, ngủ cho đẫy giấc, phụ giúp việc nhà, thỉnh thoảng ra phố giải trí, và mê nhất là chơi đàn vĩ cầm? Thoạt đầu, hễ nghe nhắc đến việc cần thiết phải kiếm tiền là Gregor lại buông cánh cửa, gieo mình xuống chiếc tràng kỉ bọc da bên cạnh, và anh nằm gục ở đó, lòng bừng bừng day dứt vì khổ đau và nhục nhã.”

Cảnh 6: Một mối quan hệ mới bắt đầu hình thành giữa anh trai và em gái, lần này có liên quan đến cửa sổ chứ không phải cửa chính. Gregor “vận hết sức lực đẩy một cái ghế bành lại gần cửa sổ rồi anh ào lên thành cửa sổ, bám cứng vào ghế, tì mình vào những vuông cửa kính mà hồi tưởng lại cái cảm giác tự do mà ngày xưa bao giờ anh cũng thấy rộn lên khi ngắm nhìn khoảng trời ngoài cửa sổ.” Gregor hay Kafka, dường như nghĩ rằng ham muốn tiến lại cửa sổ của Gregor là một sự hồi tưởng lại trải nghiệm con người. Thực ra, nó là phản ứng điển hình của côn trùng với ánh sáng: người ta tìm thấy đủ loại bọ bụi bậm gần khung cửa sổ, một con sâu bướm nằm ngửa, một con nhện chân dài bị què, những con côn trùng tội nghiệp dính vào mạng nhện trong góc, một con ruồi vo ve vẫn đang cố chinh phục cửa kính. Mắt người của Gregor càng lúc càng mờ dần vì thế anh không thể nhìn thấy rõ thậm chí ngay bên kia đường. Chi tiết người bị ý tưởng chung của côn trùng xâm chiếm. (Nhưng chúng ta đừng để mình là côn trùng. Trước tiên chúng ta hãy nghiên cứu từng chi tiết trong truyện này; ý tưởng chung sẽ tự nó đến sau khi chúng ta có tất cả những dữ liệu cần thiết.) Em gái anh không hiểu rằng Gregor vẫn còn giữ lại một trái tim người, cảm giác người, một cảm giác người về sự đứng đắn, về sự tủi hổ, về sự khiêm tốn và lòng kiêu hãnh đáng thương. Cô quấy rầy anh ghê gớm với tiếng ồn và sự vội vã mở cửa sổ hít thở chút không khí trong lành, và cô không buồn che giấu sự kinh tởm cái mùi kinh khủng trong phòng anh. Cô cũng không che giấu cảm xúc khi thực sự nhìn thấy anh. Một ngày, khoảng một tháng sau khi Gregor hóa thân, “lúc này cô chẳng có lí do gì để giật mình trước hình dạng của anh, cô đến sớm hơn lệ thường một chút và thấy anh đang đăm đăm nhìn ra cửa sổ, hoàn toàn bất động, cho nên trông rất ma quái… cô lại nhảy phắt ra sau và đóng sầm cửa lại; một người lạ ắt có thể tưởng là anh đang nằm mai phục trong phòng chờ em mình vào là ăn thịt đấy! Tất nhiên là anh lập tức trốn ngay xuống gầm ghế, song anh phải đợi đến tận trưa mới thấy cô em quay lại và cô dường như ngượng ngập hơn mọi khi.” Những thứ này gây tổn thương, và không ai hiểu chúng gây tổn thương như thế nào. Biểu lộ sự tinh tế, để tránh cho cô khỏi phải nhìn anh kinh tởm, Gregor một ngày “cõng tấm chăn trên lưng đến chiếc tràng kỉ – anh phải hì hục mất bốn tiếng đồng hồ mới được – và trải chăn lên đó sao cho kín hết thân hình anh để cô em dù có khom người xuống cũng không nhìn thấy… Và khi Gregor cẩn thận dùng đầu vén một tí chăn lên ngó ra, thậm chí anh tưởng như bắt gặp trong mắt cô một cái nhìn đầy hàm ơn.”

Chúng ta phải nhận thấy con quái vật nhỏ đáng thương của chúng ta tốt bụng và nhân hậu đến mức nào. Đời sống con bọ, trong khi làm méo mó và biến hóa cơ thể anh, thì lại dường như bộc ra từ trong anh mọi sự tốt lành nhất của con người anh. Tấm lòng vị tha nhất mực, mối bận tâm khôn ngừng về nhu cầu của người khác – điều này, đặt tương phản với cảnh huống khốn khổ gướm guốc của anh lộ ra với cả một sự nhẹ nhõm lớn. Nghệ thuật của Kafka ở một mặt tích tụ tất cả chi tiết đau buồn khi anh nằm dưới lớp vỏ côn trùng, và một mặt khác, trước mắt người đọc, duy trì một cách sống động và rõ ràng bản tính con người nhân hậu và tinh tế nhạy cảm của Gregor.

Cảnh 7: Ở đây xuất hiện cảnh di chuyển đồ đạc. Hai tháng đã trôi qua. Tới thời điểm này chỉ có cô em gái đến thăm anh; nhưng, Gregor tự nhủ lòng, em gái chỉ là một đứa trẻ; cô tự mình đảm đương nhiệm vụ chăm sóc anh đơn giản chỉ vì sự vô tư con trẻ. Mẹ anh lẽ ra phải thấu hiểu tình huống hơn. Vì thế ở đây trong cảnh thứ bảy, bà mẹ, hen suyễn, yếu đuối, ngớ ngẩn, sẽ bước vào phòng anh lần đầu tiên. Kafka chuẩn bị cho cảnh này khá kỹ càng. Để giải khuây, Gregor đã hình thành một thói quen bò quanh tường và trần. Anh ở đỉnh cao hạnh phúc nghèo nàn mà đời sống của một con bọ có thể có. “Em gái anh tức thời để ý ngay cái trò tiêu khiển mới mà Gregor đã tự tìm ra cho mình – chất nhầy ở đầu các cẳng chân của anh để lại dấu vết bất kì nơi nào anh bò đến – và cô nảy ra ý định tạo cho anh một chỗ thật rộng để bò ngang dọc khắp nơi và dọn sạch những đồ đạc cản trở anh, đặc biệt là chiếc tủ ngăn kéo và cái bàn giấy.” Vì vậy, bà mẹ được đưa tới để giúp dịch chuyển đồ đạc. Bà đến cửa phòng anh kêu la phấn khích sung sướng được gặp con trai, một phản ứng tự nhiên và không thích hợp được thay thế bằng một sự im lặng khi bà bước vào căn phòng bí ẩn. “Em gái anh đương nhiên phải vào trước để thu xếp mọi thứ cho tươm tất trước khi đưa mẹ vào. Gregor cuống quýt kéo tấm chăn xuống thấp hơn và xô lệch, vò nhàu tấm chăn như thể nó đã được ném bừa lên ghế xôpha một cách ngẫu nhiên. Và lần này, anh không hé mắt nhìn ra, anh từ bỏ niềm hân hoan được nhìn thấy mẹ và chỉ mừng vui rằng bà thật sự đã bước vào. “Vào đi, mẹ, anh ấy nấp kín rồi,” tiếng em gái anh vang lên, chắc hẳn cô ta đang nắm tay mẹ kéo vào.

Hai phụ nữ hì hục xê dịch đồ đạc nặng nề cho đến khi mẹ anh cất tiếng nói lên một ý nghĩ con người, ngây thơ nhưng tốt lành, yếu ớt nhưng không phải là không có tình cảm, khi bà nói: ““chẳng khác nào chúng ta cho Gregor thấy rằng gia đình không còn trông mong, hi vọng gì vào chuyện nó sẽ bình phục, nó sẽ tưởng lầm ta dọn hết đồ đạc đi để mặc cho nó lạnh lẽo cô đơn, không phải vậy sao? Mẹ nghĩ tốt nhất là cứ để phòng anh Gregor như trước, để khi nào anh con trở lại với chúng ta thì sẽ không thấy gì thay đổi và càng dễ dàng quên đi những gì đã xảy ra”. Gregor bị giằng xé giữa hai tình cảm. Đời sống con bọ bảo với anh rằng một căn phòng trống với tường trơn sẽ tiện lợi cho việc bò loanh quanh – tất cả những gì anh cần chỉ là một cái kẽ để trốn vào, cái ghế xô pha tuyệt đối thiết yếu của anh – nhưng mặt khác, anh sẽ không cần tất cả những thứ tiện nghi và bài trí con người này. Nhưng giọng bà mẹ gợi anh nhớ đến nguồn gốc con người trong mình. Thật không may, em gái anh đã trở nên tự tin một cách kỳ quặc và đã dần quen với việc tự coi mình là chuyên gia trong vấn về Gregor khi so sánh với bố mẹ cô. “Một nhân tố khác có thể đóng vai trò ở đây là tính khí sôi nổi của một thiếu nữ, sự sôi nổi luôn luôn kiếm tìm mọi cơ hội để bùng ra và bây giờ đang cám dỗ Grete cường điệu thêm sự kinh rợn trong tình trạng của anh cô, để cô có thể làm được nhiều hơn cho anh.” Đây là một điểm khá gây tò mò: đứa em bạo ngược độc đoán, đứa em mạnh mẽ trong truyện cổ tích, kẻ lúc nào cũng lăng xăng bận rộn, xinh xắn hống hách sai bảo cả đứa ngốc của gia đình, những cô chị gái kiêu hãnh của Lọ Lem, cái biểu tượng dữ tợn của sức khỏe, tuổi trẻ và vẻ đẹp nở rộ trong căn nhà của tai họa và bụi bặm. Vậy là sau rốt họ quyết định dịch mọi thứ ra ngoài nhưng gặp thử thách thực sự với cái tủ ngăn kéo. Gregor ở trong trạng thái hoang mang tột độ. Anh để cái cưa lượn của mình trong cái tủ đó, anh vẫn thường dùng nó để làm một số món đồ khi có thời gian rảnh rỗi ở nhà, sở thích duy nhất của anh.

Cảnh 8: Gregor cố giành lấy ít nhất bức tranh trong khung anh đã làm bằng cái cưa lượn mà anh vô cùng trân trọng. Kafka thay đổi hiệu quả của mình ở chỗ mỗi lần con bọ bị gia đình anh nhìn thấy, anh đang ở một vị trí mới, một địa điểm mới. Ở đây Gregor vội vã từ chỗ đang trốn, mà hai phụ nữ giờ đang vật lộn với cái bàn viết không nhìn thấy, và leo lên tường áp mình lên bức tranh, cái bụng nóng và khô của anh gí vào mặt kính mắt rượi, láng trơn. Bà mẹ không giúp được gì lắm khi dịch chuyển đồ đạc và phải được Grete đỡ cho. Grete luôn luôn giữ vai trò mạnh mẽ và khỏe mạnh trong khi không chỉ anh trai cô mà cả cha mẹ cô sẽ nhanh chóng (sau cảnh ném táo) trên bờ miệng rơi xuống một giấc mơ xám xịt nào đó, rơi vào trạng thái bị lãng quên yếu đuối và chậm chạp; nhưng Grete với sức khỏe hừng hực của tuổi thanh niên hồng hào liên tục thúc họ lên.

Cảnh 9: Mặc cho nỗ lực của Grete, bà mẹ nhìn thấy Gregor, một “cái mảng nâu to đùng trên bức tường dán giấy hoa, và chưa kịp nhận biết đó chính là Gregor, bà đã rú lên một tiếng thất thanh: “Chúa ơi!” rồi ngã quỵ bất động trên chiếc ghế xôpha, hai cánh tay dang rộng như nộp mình cho bóng ma. “Gregor!” em gái anh kêu lên, vung nắm tay, trừng mắt nhìn anh. Đây là lần đầu tiên cô trực tiếp nói với anh kể từ lức Gregor biến hình. Cô chạy sang phòng bên tìm một loại thuốc nước nào đó để làm cho bà mẹ hồi tỉnh khỏi cơn ngất. Gregor cũng muốn giúp cô – hãy còn thời gian để cứu lấy bức tranh – nhưng bụng anh bị dính chặt vào mặt kính, phải vùng mạnh thân mình rời ra; và anh chạy theo người em gái vào phòng bên cạnh như thể vẫn có khả năng hướng dẫn Grete như ngày xưa, song anh đành phải đứng bất lực sau lưng cô, trong lúc đó Grete lục lọi giữa đống chai lọ đủ loại và khi quay lại cô giật nảy người thảng thốt lúc nhìn thấy anh; một cái chai nhỏ rơi xuống sàn vỡ tan tành; một mảnh thủy tinh cứa toạc mặt Gregor, một thứ thuốc nước ăn mòn bắn tun tóe vào người. Không chần chờ thêm một giây, Grete vơ nốt những chai lọ có thể mang được, chạy về với mẹ và dùng chân đạp cánh cửa đóng sầm lại. Gregor lúc này bị ngăn cách hẳn với bà mẹ có lẽ đang hấp hối vì anh; anh không dám mở cửa sợ cô em lại hoảng hốt bỏ chạy, cô ấy cần phải ngồi bên săn sóc mẹ; anh không thể làm gì hơn là chờ đợi; và lòng trĩu nặng ưu phiền, anh vừa lo âu tự nhiếc móc chính mình vừa bò ngang dọc khắp nơi, những bức tường, trên các đồ đạc, trần nhà, rồi cuối cùng trong nỗi tuyệt vọng, khi cả căn phòng này dường như đang quay cuồng quanh anh, Gregor rơi ầm xuống ngay giữa chiếc bàn ăn rộng lớn. Có một sự thay đổi trong vị trí tương ứng của các thành viên khác nhau trong gia đình. Bà mẹ (trên ghế xô pha) và cô em gái ở phòng giữa; Gregor ở trong góc căn phòng bên trái. Và chẳng mấy chốc ông bố về nhà và vào phòng khách. “Thế là anh phóng ngay về cửa phòng mình, nằm ép mình vào đó để ông cụ từ hành lang bước vào là thấy ngay thiện ý của thằng con trai muốn trở về phòng riêng ngay lập tức, chẳng cần phải xua đuổi’ nhưng giá mà cửa phòng anh đã mở sẵn thì Gregor sẽ trốn vào ngay cho khuất mắt bố.”

Cảnh 10: Bây giờ, cảnh trút táo xuất hiện. Bố Gregor đã thay đổi và giờ ở đỉnh cao của quyền lực. Thay vào một người đàn ông mệt mỏi suốt ngày nằm cuộn trên giường và chẳng buồn giơ tay vẫy chào và khi ra ngoài thì lê từng bước nặng nề với một cây gậy batoong trong tay, “Giờ đây ông đang đứng kia, đường bệ trong bộ đồng phục xanh bảnh bao, khuy vàng chóe, của người chạy việc ở ngân hàng, chiếc cằm hai ngấn của ông phồng ra trên chiếc cổ áo vét hồ cứng, đôi mắt đen dưới cặp chân mày rậm phóng ra những tia nhìn tinh nhanh, sắc sảo, mái tóc bạc một thời rối bời giờ được chải phẳng, bóng mượt hai bên đường ngôi rẽ kĩ lương. Ông nhấc chiếc mũ lưỡi trai có những mẫu tự thêu chỉ vàng lông vào nhau – có lẽ là phù hiệu của một nhà băng nào đó – và ném vào sang chiếc ghế xôpha bên kia phòng, rồi hất ngược hai vạt váo vét ra phía sau, ông cho tay vào túi quần, mặt lầm lầm, tiến về phía Gregor. Rất có thể là chính ông cũng chưa biết mình sẽ làm gì! Dẫu sao đi nữa ông vẫn nhấc chân lên thật cao, cao đến khác thường, và Gregor sững sờ khi nhìn thấy kích thước vĩ đại của hai đế giày ông bố.”

Như thường lệ, Gregor quan tâm một cách dữ dội khác thường đến chuyển động của chân người, cái chân người to dày, quá khác so với những cái chân phụ vung vẩy. Chúng ta gặp một sự lặp lại chủ đề chuyển động chậm ở đây (Lão quản lý, lùi lại và lê chân, rút lui một cách chậm rãi.) Giờ ông bố và con trai chậm rãi đi vòng quanh phòng: thực ra, toàn bộ chuyển động hầu như trông không giống như một cuộc rượt đuổi bởi nó diễn ra quá chậm. Và rồi ông bố bắt đầu dội bom oanh tạc Gregor bằng những tên lửa duy nhất mà phòng khách có thể cung cấp – táo, những quả táo đỏ nhỏ – và Gregor buộc phải chạy lại vào giữa phòng, vào lại trung tâm đời sống con bọ của anh. “Một quả táo khác được ném không mạnh lắm bay xượt qua lưng Gregor rồi truội đi không gây thương tổn gì. Nhưng quả tiếp theo trúng lưng anh và lún sâu xuống, Gregor muốn lết mình về phía trước, tựa hồ cử động ấy sẽ rứt bỏ cơn đau nhói không thể tưởng tượng này lại phía sau, nhưng anh cảm thấy như mình đã bị ghim cứng một chỗ và bị đè bẹp, mọi tri giác hoàn toàn xáo trộn. Trong cái nhìn cuối cùng còn tỉnh táo, anh trông thấy cửa phòng mình bật mở rồi mẹ anh chạy ào ra trước cô em gái đang gào thét, người bà chỉ mặc đồ lót vì em anh đã tháo bỏ hết áo ngoài cho bà dễ thở lúc bà bị ngất, anh trông thấy mẹ anh lao về phía bố, vừa chạy vừa vứt bỏ những mảnh đồ lót xuống sàn, vấp ngã chúi vào bố anh và ôm chầm lấy ông. Đôi mắt Gregor bỗng tối sầm lại, bóng bố anh và mẹ anh hòa làm một, hai bàn tay bà mẹ ghì chặt quanh cổ ông bố khẩn cầu cho mạng sống của đứa con trai.”

Đây là kết thúc phần hai. Chúng ta hãy tổng kết lại tình huống. Cô em gái đã trở nên đối nghịch một cách thẳng thừng ra mặt với ông anh trai. Có lẽ cô đã từng yêu anh, nhưng giờ đây cô coi anh là thứ đáng ghê tởm và khiến cô giận dữ. Trong cơn vật vã của cảm xúc và hen suyễn của bà Samsa, bà là một bà mẹ khá máy móc, với thứ tình yêu máy móc của mẹ dành cho con trai, nhưng chúng ta rồi nhanh chóng cũng sẽ thấy rằng bà nữa cũng sẵn sàng từ bỏ anh. Ông bố, như đã tỏ rõ, đã đạt đến đỉnh cao sức mạnh và sự hung bạo tuyệt đối. Ngay từ đầu ông đã háo hức làm thương về mặt cơ thể đứa con trai bất lực yếu đuối của mình, và lúc này đây quả táo ông ném đã ghim vào da thịt con bọ của Gregor tội nghiệp.

Phần ba

Cảnh 1: “Gregor nằm liệt hơn một tháng trời, quả táo vẫn dính vào thân thể anh như một dấu tích nhắc nhở rõ ràng vì không ai dám lấy nó đi, vết thương trầm trọng đó tưởng như khiến cả bố anh cũng phải nhớ rằng Gregor là một thành viên trong gia đình anh bất kể hình hài bất hạnh và kinh tởm hiện nay của anh, và gia đình không được quyền đối xử với anh như với một kẻ thù, mà trái lại, có bổn phận phải nến ghê tởm và kiên nhẫn, kiên nhẫn chứ không còn cách nào khác.” Chủ đề cánh cửa giờ lại được đưa lên, buổi tối, cánh cửa dẫn từ phòng Gregor tối mù sang phòng khách sáng choang được để mở. Đây là một tình huống tài tình. Trong cảnh trước ông bố và bà mẹ đã lên đến đỉnh cao nhất của năng lượng, ông trong bộ đồng phục lộng lẫy ném những bỏ bom nhỏ màu đỏ, biểu tượng cho tính đàn ông và sức hiệu quả; còn bà, bà mẹ, đã thực sự xê dịch đồ đạc mặc cho ống thở mỏng manh yếu đuối. Nhưng sau đỉnh cao đó thì có một cú trượt, một sự suy nhược. Gần như có vẻ chính ông bố đang ở mức tan rã và trở thành con bọ yếu đuối. Qua cánh cửa mở toang một luồng kỳ dị dường như chạy qua. Cơn bệnh con bọ mà Gregor đang bị thì cha anh dường như cũng đang bị, sự yếu ớt, sự bẩn thỉu, sự ảm đạm. “Ngay khi xong bữa ăn tối, bố anh thường ngồi ngủ gục trong chiếc ghế bành, mẹ anh và cô em gái bảo nhau giữ yên lặng, rồi bà mẹ đầu cúi bên đèn, tỉ mỉ từng đường kim may thêu cho một hãng sản xuất đồ lót phụ nữ và em anh, cô vừa xin được việc bán hàng, cần cù học thêm môn tốc kí cùng với tiếng Pháp mỗi tối để có cơ hội tiến thân. Thỉnh thoảng bố anh tỉnh giấc, và như thể không nhận ra mình đã ngủ thiếp đi, ông thường bảo vợ: “Hôm nay bà may được nhiều quá nhỉ!” rồi lại gật gù ngủ tiếp ngay lập tức trong khi hai người phụ nữ trao đổi với nhau một nụ cười mệt mỏi.

“Ông già mới ngang bướng làm sao, cứ khăng khăng đòi mặc bộ đồng phục ngay cả khi ở trong nhà; chiếc áo ngủ của ông vẫn treo ở mắc một cách vô dụng và ông để nguyên cả áo quần, ngồi luôn trên ghế mà ngủ, cơ hồ ông sẵn sàng phục vụ công việc bất kì lúc nào và thậm chí ông về nhà chỉ vì phục tùng ý muốn của cấp trên mà thôi. Kết quả là bộ đồng phục của ông, ngay từ đầu đã không phải là hàng mới tinh, bắt đầu có vẻ bẩn thỉu, bất kể mọi chăm chút đầy trìu mến của bà mẹ và cô con gái để giữ cho nó sạch sẽ. Nhiều lần, Gregor suốt buổi tối chỉ đăm đăm nhìn những vết nhờn khá nhiều trên bộ đồ lấp lánh những chiếc khuy vàng lúc nào cũng được đánh bóng sáng lóng trên thân hình của ông già đang ngủ ngồi hết sức thanh thản trong một tư thế cực kỳ thiếu thoải mái.” Ông bố luôn từ chối không chịu đi ngủ khi đến giờ, mặc cho mọi lời thuyết phục của bà mẹ và cô em gái, cho đến khi cuối cùng hai người phụ nữ phải kéo nách ông lên khỏi ghế, “Rồi tì vào hai mẹ con, ông gượng đứng lên một cách khó khăn như thể ông không mang nổi sức nặng của chính bản thân mình, ông chịu để cho hai người đàn bà dìu ông lên tận cửa phòng rồi mới khoát tay xua họ đi và bước tiếp một mình trong khi mẹ anh thường phải bỏ đồ vá may và em anh gác bút để chạy theo đỡ ông lần đến tận giường.” Bộ đồng phục của ông gần giống như bộ đồng phục của một con bọ hung lớn nhưng có điều đã bị xỉn màu. Gia đình mệt mỏi vì lao động quá nhiều của ông buộc phải đưa ông từ phòng này sang phòng khác về tới giường.

Cảnh 2: Sự tan rã trong gia đình Samsa tiếp tục. Họ cho con hầu gái nghỉ việc và thuê một bà quét dọn tiền công ít hơn, một sinh vật khổng lồ người toàn xương xẩu đến làm những việc nặng nhọc. Các anh chị phải nhớ khi đó là ở Prague, năm 1912, rất khó để dọn dẹp và nấu nướng so với Ithaca, năm 1954. Họ phải bán rất nhiều đồ trang hoàng trong nhà. “Nhưng điều họ kêu than nhiều nhất là không thể rời bỏ căn hộ này, nơi giờ đây đã trở thành quá rộng lớn so với hoàn cảnh gia đình hiện nay, bởi vì họ không nghĩ ra được cách nào để di chuyển Gregor. Tuy nhiên, Gregor thừa biết rằng anh đâu phải là trở ngại chính yếu trong việc dọn nhà này, bởi vì họ có thể dễ dàng chở anh đi trong một cái thùng nào đó thích hợp, có đục vài lỗ cho anh thở, điều thật sự ngăn họ dọn sang một căn hộ khác chính là sự tuyệt vọng hoàn toàn của họ và niềm tin rằng cao xanh đã chọn chính cái gia đình này mà giáng cho một tai họa chua từng xảy ra cho bất kì thân bằng quyến thuộc nào của họ.” Gia đình ai nấy hoàn toàn bận tâm chuyện riêng của mình và không còn sức lực nào còn lại sau khi làm xong những nghĩa vụ thường nhật.

Cảnh 3: Cuối cùng một ánh chớp hồi ức con người đến với tâm trí Gregor, được ham muốn vẫn còn sống giúp đỡ gia đình mình của anh thúc đẩy. Thậm chí anh còn nhớ những người thân yêu một cách mơ hồ, “nhưng thay vì giúp đỡ anh và gia đình anh, tất cả những bóng dáng ấy xa vời vợi, và anh lấy làm lừng khi họ biến mất.” Cảnh này chủ yếu là dành cho Grete, cô này giờ đây rõ ràng là kẻ côn đồ bất lương trong truyện. “Em gái anh không còn nghĩ đến việc mang vào cho anh những gì có thể làm anh hài lòng nhất, mà thay vào đó, mỗi sáng mỗi trưa, hai lần trước giờ đi làm, cô hấp tấp dùng chân đẩy vào phòng anh bất cứ thức ăn nào vớ được, và mỗi tối, bằng một nhát chổi, cô quét sạch tất cả ra ngoài, bất kể món ấy anh chỉ mới nêm sơ quay hay để nguyên không động tới – điều này xảy ra thường xuyên nhất. Còn chuyện quét dọn phòng anh – hồi này cô chỉ làm vào buổi tối – thì không ai có thể làm vội vàng, cẩu thả hơn cô được. Những vệt đất vằn lên dọc theo các bức tường, rải rác khắp nơi là bụi bẩn, rác rưởi vón thành hòn, thành cục. Lúc đầu Gregor thường nằm lì ở một góc nào đó bẩn thỉu nhất khi cô em bước vào để tỏ ý khiển trách sự lười biếng của cô. Nhưng anh có nằm chết gí ở đấy hàng bao nhiêu tuần lễ đi nữa, thì cô em của anh vẫn chứng nào tật nấy; em gái anh vẫn thấy rõ bụi bẩn chẳng kém gì anh nhưng cô ta đã dứt khoát quyết định cứ để mặc như thế. Ấy thế mà, với cái thói dễ động lòng mới nảy sinh ở cô và dường như đã nhiễm sang cả gia đình, cô lại bo bo giành giữ quyền được làm người duy nhất chăm lo cho căn phòng của Gregor.” Có lần khi mẹ anh dọn rửa căn phòng bằng một vài xô nước – ẩm ướt làm Gregor khó chịu – cả một cuộc tranh cãi huyên náo kệch cỡm trong gia đình nảy sinh. Cô em lao ra khóc lóc trong khi cha mẹ sững sờ đứng chết trân nhìn; “rồi họ cũng bắt đầu hành động; ông bó quay sang phải khiển trách bà mẹ sao không để yên chuyện dọn dẹp căn phòng Gregor cho con gái lo; rồi ông quay sang trái quát tháo Grete cấm cô không bao giờ được lau chùi phòng Gregor nữa; bà mẹ giữa lúc đó cố gắng lôi bố anh về phòng ngủ vì ông đãnối cáu đến phát quẫn; em gái anh, nấc rung cả người, nện hai nắm tay nhỏ nhắn xuống bàn; và Gregor tức điên rít lên vì không một ai trong bọn họ nghĩ đến chuyện đóng cửa phòng anh lại để tránh cho anh một cảnh tượng quá đỗi phũ phàng và ồn ào như vậy.”

Cảnh 4: Một mối quan hệ kỳ dị nảy sinh giữa Gregor và mụ quét dọn giơ xương, bà này cảm thấy khá thích thú với anh, hoàn toàn không sợ hãi, và thực ra bà ta còn khá quý anh. “Nào, lại đây nào, con bọ hung kia,” bà nói. Và ngoài kia trời mưa, có lẽ là dấu hiệu đầu tiên của mùa xuân.

Cảnh 5: Những kẻ thuê nhà đến, ba khách trọ có râu, cực kỳ thích sự ngăn nắp trật tự. Đây là những con người máy móc; râu của họ là mặt nạ để thể hiện sự đứng đắn, nhưng thực ra là những tên côn đồ giả mạo, ba quý ông có bề ngoài nghiêm nghị này. Trong cảnh này một thay đổi lớn xảy đến với căn hộ. Ba khách trọ chiếm phòng ngủ của cha mẹ bên góc bên trái căn hộ, phía trước phòng khách. Cha mẹ chuyển sang phòng cô em gái ở bên phải phòng Gregor, và Grete phải ngủ trong phòng khách nhưng giờ không có phòng riêng cho cô vì ba vị khách trọ ăn uống trong phòng khách và ngồi cả buổi tối ở đó. Hơn nữa, ba khách trọ có râu đã mang vào căn hộ bài trí ít ỏi này vài đồ đạc của chính họ. Họ có một tình yêu ghê gớm dành cho sự ngăn nắp giả tạo, và tất cả những thứ lặt vặt mà họ không cần chuyển vào phòng Gregor. Đây chính xác là điều ngược lại với điều đã xảy ra trong cảnh dịch chuyển đồ đạc ở phần hai, cảnh 7, khi người ta nỗ lực dời mọi thứ ra khỏi phòng Gregor. Rồi chúng ta đã có đồ đạc bị rút đi, giờ đồ đạc ùa quay trở lại, hàng hóa vứt xuống biển được rửa đưa lại, tất cả các loại đồ tạp nhạp đổ vào phòng; và Gregor thật đáng ngạc nhiên mặc dù là một con bọ ốm yếu – vết thương do quả táo gây ra giờ mưng mủ, và còn đói chết được – tìm thấy vài khoái lạc trong việc làm con bọ khi bò quanh đống rác rưởi đầy bụi bẩn này. Trong cảnh năm của phần ba này khi mọi sự thay đổi xảy đến, sự thay đổi trong bữa ăn gia đình được miêu tả. Những cử động máy móc của ba tên người máy có râu rất phù hợp với phản ứng máy móc của người nhà Samsa. Khách trọ “ngồi đầu bàn, nơi ngày xưa Gregor cùng bố mẹ thường ngồi, trải khăn ăn ra, và dao nĩa sẵn sàng trong tay. Ngay lập tức, mẹ anh hiện ra ở khung cửa đằng kia với một đĩa thịt và theo sát sau lưng bà là em gái anh mang một đĩa khoai tây đầy có ngọn. Thức ăn nóng sốt bốc hơi nghi ngút. Ba người khách cúi xuống các món ăn đặt trước mặt như thể để kiểm tra kĩ lưỡng trước khi ăn, thực tế là người ngồi giữa – xem có vẻ uy quyền đối với hai người kia – dùng dao xắt miếng thịt trên đĩa, rõ ràng là để xem thử thịt đủ mền chưa hay phải gửi trả lại nhà bếp. Hắn ta lộ vẻ hài lòng, và mẹ cùng em gái Gregor, nãy giờ lo âu quan sát, thở phào an lòng rồi nhoẻn miệng cười.” Sự quan tâm thèm muốn một cách mãnh liệt của Gregor với những cái chân lớn sẽ được nhắc lại; giờ Gregor không răng cũng quan tâm đến cả răng. “Gregor thấy một điều đáng chú ý là trong số những tiếng động khác nhau từ bàn ăn vẳng ra, bao giờ anh cũng có thể phân biệt được tiếng hàm răng họ đang nhai; đó chẳng khác nào một dấu hiệu nhắc cho Gregor nhớ là người ta cần phải có răng để ăn, và hai cái hàm dù có khỏe đến đâu cũng vô ích nếu không có chiếc răng nào. Mình thèm ăn quá,” Gregor buồn bã nói một mình, “nhưng nào có ham muốn loại thức ăn đó đâu. Chao ôi, mấy kẻ thuê nhà kia tha hồ mà nhồi nhét còn mình thì nằm đây gần chết đói!”

Cảnh 6: Trong cảnh âm nhạc tuyệt vời này, ba khách trọ nghe Grete chơi violin trong bếp, và phản ứng máy móc với giá trị giải trí của âm nhạc, họ đề nghị cô chơi cho họ nghe. Ba kẻ ở trọ và ba người nhà Samsa tụ họp trong phòng khách.

Không hề mong làm những người yêu âm nhạc khó chịu, tôi thực sự muốn chỉ ra rằng lĩnh hội âm hội trên bình diện chung chung, như những người nghe nhạc tiếp thu, thuộc về dạng thức động vật hơn, ban sơ hơn trên bình diện nghệ thuật khi so với văn học hay hội họa. Tôi lĩnh hội âm nhạc trên phạm vi toàn thể, không phải trên khía cạnh từng sáng tạo, tưởng tượng và sáng tác cá thể, tất cả những cái đó dĩ nhiên có thể sánh ngang với văn học và hội họa, mà là ở khía cạnh tác động của âm nhạc lên một người nghe bình thường. Một nhà soạn nhạc vĩ đại, một nhà văn vĩ đại, một họa sỹ vĩ đại đều là anh em. Nhưng tôi nghĩ rằng tác động lên người nghe của âm nhạc ở dạng thức ban sơ và khái quát thì ở mức độ thấp hơn so với tác động của một cuốn sách bình thường hay một bức tranh bình thường. Điều mà tôi đặc biệt nghĩ đến là tác động xoa dịu, ru ngủ, cùn đi của âm nhạc lên một số người như là âm nhạc khi nghe trên đài hay đĩa.

Trong truyện của Kafka, chỉ là một cô gái bập bông đàn violon đáng thương và chuyện này tương ứng với đoạn liên quan đến nhạc thu băng hay nhạc đĩa của ngày hôm nay. Điều mà Kafka cảm nhận về âm nhạc nói chung là thứ mà tôi vừa mới miêu tả: tính chất làm ngơ ngẩn, làm đờ đẫn, khiến cho người nghe trở thành giống như động vật của âm nhạc. Dịch giả phải ghi nhớ kỹ điều này khi dịch một câu quan trọng mà vài người đã hiểu nhầm. Nói theo nghĩa đen, ý nó là “Anh có phải là một con thú không, khi âm nhạc vẫn còn tác động đến anh mạnh mẽ dường ấy?” Bởi vì, khi ở trong hình dạng con người anh ít quan tâm tới âm nhạc, nhưng ở cảnh này, trong đời sống con bọ, anh không cưỡng nổi cảm giác: “Anh có cảm tưởng như trước mặt anh đang rộng mở con đường dẫn đến những thức ăn lạ lùng mà anh đã khao khát.” Cảnh này diễn ra như sau. Em gái Gregor bắt đầu chơi nhạc cho đám khách trọ. Gregor bị thu hút bởi tiếng nhạc và thò cả đầu vào phòng khách. “Anh hầu như chẳng cảm thấy ngạc nhiên khi mình càng lúc càng thiếu quan tâm đến người khác dù ngày xưa anh vẫn tự hào mình là người có ý tứ. Vậy mà chính trong trường hợp này, anh lẽ ra càng có lí do hơn bao giờ hết để náu mình, bởi lẽ do lớp bụi bậm dày đặc trong phòng anh, chỉ cần một cử dộng nhỏ là bốc lên mù mịt, nên cả Gregor cũng bị bụi bám kín người; lông lá và những phần thức ăn thừa kéo lê lết theo sau những xê dịch của anh, bám vòa lưng và dọc theo hai bên sườn anh; thế mà Gregor lại dửng dưng với tất cả đến mức không buồn lật ngửa thân hình ra mfa chà xát xuống thảm cho sạch, như dạo trước anh thường làm nhiều lần một ngày. Và bất chấp sự bẩn thỉu của mình, không có nỗi xấu hổ nào ngăn nổi anh nhích lần đi trên sàn nhà sạch bong của phòng khách.”

Thoạt điên không ai nhìn thấy anh. Ba khách trọ, thất vọng vì tưởng được nghe người chơi violon hay, rút lại tụm ở cửa sổ thầm thì với nhau và đợi cho chơi xong. Ấy vậy mà, với Gregor em gái anh đang chơi rất hay. Anh “bò tới thêm chút nữa rồi hạ thấp đầu xuống sàn để đôi mắt của anh có thể gặp luồng mắt của em mình. Anh có phải là một con thú không, khi âm nhạc vẫn vẫn còn tác động đến anh mạnh mẽ dường ấy? Anh có cảm tưởng như trước mặt anh đang rộng mở con đường dẫn đến những thức ăn lạ lùng mà anh đã khao khát. Anh quyết định trườn đến gần cô em gái, giật nhẹ vào tà váy để cho cô biết cô phải mang vĩ cầm vào phòng anh, bởi vì ở đây không có ai đánh giá được tiếng đàn của cô như anh. Anh sẽ không bao giờ để cô rời khỏi phòng anh, ít ra cũng đến khi anh chết; hình dạng ghê sợ của anh lần đầu tiên sẽ trở thành có ích cho anh, anh sẽ canh chừng tất cả cửa nẻo trong phòng mình và sẽ phun phì phì vào bất cứ kẻ nào toan đột nhập; nhưng phải làm sao không cần cưỡng bách cô em, nên để cô tự nguyện lưu lại với anh, để cô ngồi trên ghế xôpha bên cạnh anh, nghiêng đầu nghe anh tâm sự, giãy bày rằng nếu không vì tai họa này thì Lẽ Giáng sinh vừa qua – anh đã quyết tâm cho cô theo học ở Nhạc viện và Lễ Giáng sinh có lẽ đã qua từ lâu rồi ư? – anh đã tuyên bố dự định ấy với mọi người, không cho phép ai phản đối. Sau khi nghe anh tâm sự như thế, chắc hẳn em gái sẽ cảm động đến òa khóc, và khi đó Gregor sẽ rướn mình lên ngang vai cô và hôn vào cổ cô, nơi đã không còn đeo nơ hay những dải lụa màu kể từ lúc em gái anh phải đi làm kiếm sống.”

Đột nhiên một tên khách trọ thấy Gregor, nhưng thay vì đuổi Gregor đi, ông bố lại cố trấn an dỗ dành các khách trọ và (hành động trái ngược với lúc trước) “dang tay ra, hấp tấp chạy về phía họ, cố thuyết phục họ về phòng riêng và cùng lúc đó đứng chắn Gregor không cho họ thấy. Lúc này họ đã hơi nổi cáu, không rõ là vì ứng xử của ông già hay là vì họ chớm nhận ra là vô hình trung họ có một tên hàng xóm quái gở như Gregor ở phòng bên cạnh. Họ đòi bố anh phải giải thích, họ cũng vung tay như ông, bực bội giật chòm râu, và rút lui về phòng hết sức miễn cưỡng.” Cô em gái lao vào phòng khách và lanh lẹ dọn giường, nhưng “Còn ông già có lẽ lại bị chính cái thói tự quyết đoán bướng bỉnh của mình ám ảnh đến nỗi ông quên cả sự tôn trọng cần phải có đối với khách. Không không ngừng thúc họ đi tiếp, thúc hoài thúc hủy cho đến khi tới chính cửa phòng ngủ thì người khách trọ giẫm chân thình thịch xuống sàn, buộc ông phải thôi. “Tôi xin báo…” – hắn ta vừa nói vừa giơ một bàn tay lên, mắt nhìn về phía mẹ và em gái Gregor – “… rằng do những điều kiện ghe tởm bao trùm căn nhà này và gia đình này” – nói đến đấy hắn nhổ toẹt xuống sàn để nhấn mạnh – “Tôi báo ngay cho các người hay tôi không thuê căn phòng này nữa. Đương nhiên tôi sẽ không trả cho các người một xu nào, kể cả tiền thuê chonhững ngày tôi đã sống ở đây, mà trái lại, tôi sẽ tính chuyện khởi tố đòi các người bồi thường trên cơ sở những luận lí có thể dễ dàng chứng mình, các người hãy tin là như thế”. Hắn dứt lời và nhìn thẳng trước mắt như thể chờ đợi điều gì. Thực vậy, hai người bạn của hắn tức thời nói chen vào: “Cả hai chúng tôi cũng không thuê nữa!”. Sau đó, hắn vồ lấy nắm cửa và đóng sầm lại.”

Cảnh 7: Cô em gái đã lột bỏ mặt nạ hoàn toàn; sự phản bội của cô là tuyệt đối và chí tử với Gregor. “‘Con không muốn gọi tên anh con trước mặt con vật này, cho nên con chỉ nói thế này: ta phải làm sao tống khứ nó đi…

“Ta phải làm sao rũ bỏ được nó” – em gái lúc này nói thẳng toạc với bố vì mẹ anh đang ho sặc sụa không nghe rõ một lời – “cả bố lẫn mẹ rồi sẽ chết vì nó, con thấy điều đó cũng không còn xa xôi gì đâu. Khi người ta phải làm lụng vất vả như chúng ta, về đến nhà lại thêm sự hành hạ liên tục như thế này thì ai mà chịu đựng nổi. Và ai chứ con thì không thể nào chịu được thêm nữa”. Rồi cô gái òa lên khóc nức nở, những giọt nước mắt nhỏ xuống mặt bà mẹ và bị bà gạt như một cái máy.” Cả ông bố và đứa em gái đồng ý rằng Gregor không thể hiểu họ và vì thế không thỏa thuận với anh cũng chả sao.

“Nó phải đi” – em gái Gregor kêu lên – “đó là giải pháp duy nhất, bố ơi. Bố phải cố rũ bỏ ý nghĩ rằng con vật đó lại là anh Gregor. Chính vì lâu nay chúng ta cứ tin vào điều đó nên mới nảy sinh ra bao nhiêu là rắc rối. Nhưng nó làm sao có thể là anh Gregor được? Nếu đó là Gregor thì anh ấy hẳn phải nhận biết từ lâu rằng con người không thể nào sống chung với một con vật ghê tởm như thế được và có lẽ anh ấy đã tự động bỏ đi rồi. Như thế chúng ta thiếu mất một người thân nhưng chúng ta có thể tiếp tục sống và tưởng nhớ mãi đến anh ấy. Còn như thế này thì con vật đó đang làm khổ chúng ta, xua đuổi hết khách thuê nhà, rõ ràng nó muốn mình nó chiếm trọn căn hộ này và tống chúng ta ra ngủ đường.’”

Việc anh biến mất với tư cách người anh trai con người và giờ đẩy phải biến mất với tư cách một con bọ giáng cho Gregor đòn cuối cùng. Đau đớn, vì anh quá yếu ớt và thương tật. Ở ngưỡng cửa anh quay người và nhìn lần cuối cùng người mẹ, thực ra bà gần như đang ngủ gật. “Anh vừa lết vào trong phòng thì ai đó đã vội đẩy sập cánh cửa, cài then và khóa kĩ. Tiếng động đột ngột ở phía sau làm anh giật mình đến nỗi những cặp chân nhỏ khụy xuống. Chính em gái anh là kẻ đã tỏ ra vội vàng thế. Cô đã chực sẵn để phóng vọt tới, nhẹ nhàng đến mức ngay cả Gregor cũng không nghe thấy, và cô vừa xoay chìa khóa trong ổ khóa vừa kêu to với bố mẹ: “Thế là xong!”. Trong căn phòng tối, Gregor phát hiện ra anh không thể cử động và dù anh đang đau đớn nhưng nó dần giảm đi. “Quả táo thối rữa trên lưng anh cùng đường rãnh bị viêm quanh nó đều phủ đầy bụi mịn, đã hầu như thôi không hành hạ anh nữa. Anh nghĩ đến gia đình với tình yêu thương trìu mến. Anh phải biến mất; đó là một quyết định mà anh hằng nung nấu còn mãnh liệt hơn cả em gái mình – nếu như anh có khả năng thực hiện được. Trong trạng thái suy từ bình an và lơ đãng ấy, anh nằm liệt một chỗ mãi đến lúc chuông đồng hồ trên tháp gõ ba giờ sáng. Ý thức của anh một lần nữa lại tiếp nhận ánh hừng đông đầu tiên dần trải rộng ở thế giới bên ngoài khung cửa sổ. Rồi đầu anh tự động gục xuống sàn nhà và hơi thở mong manh cuối cùng của sự sống thoát khỏi hai lỗ mũi anh.”

Cảnh 8: Việc Gregor chết, cái xác khô được bà quét dọn phát hiện ra vào sáng ngày hôm sau và một cảm giác nhẹ nhõm vô cùng ấm áp lan tỏa thế giới côn trùng là cái gia đình ti tiện của anh. Đây là điểm cần để ý với sự quan tâm và lòng thương yêu. Gregor là con người trong lớp bỏ côn trùng; gia đình anh là côn trùng ngụy trang con người. Khi Gregor chết, tâm hồn côn trùng của họ đột nhiên ý thức được rằng họ được thoải mái tự sướng. ““Grete ơi, lại gần đây với bố mẹ một chút đi con”, bà Samsa[2] nói với một nụ cười run rẩy, và Grete đi theo hai người về phòng riêng của ông bà, không khỏi ngoái lại nhìn cái xác lần nữa.” Mụ quét dọn mở toang cửa sổ ra và không khí ấm ấp: cuối tháng Ba, côn trùng ra khỏi chỗ ngủ đông.

Cảnh 9: Chúng ta được nhìn thoáng qua một cách tuyệt vời những khách trọ khi họ sưng sỉa đòi bữa sáng nhưng thay vào đó chỉ được cho xem xác của Gregor. “Họ làm theo, và tay đút túi áo khoác đã hơi sờn, đứng quanh xác Gregor trong căn phòng lúc này đã sáng bạch.” Từ khóa ở đây là từ gì? Đã sờn dưới ánh mặt trời. Trong một truyện cổ tích, ở đoạn kết có hậu của một truyện cổ tích, bùa chú ác độc sẽ bị cái chết của pháp sư làm tiêu tan. Khách trọ được thấy là những kẻ tiều tụy xác xơ, chúng không còn nguy hiểm, trong khi gia đình Samsa lại thăng tiến, giành lại quyền lực và sức sống căng tràn. Cảnh kết thúc với việc lặp đi lặp lại chủ đề cầu thang, hệt như lão quản lý đã rút lui chậm chạp, tay siết trên lan can. Theo lệnh của ông Samsa chúng phải rời đi, các vị khách trọ bị đàn áp.” Ở hành lang, cả ba lấy mũ nón trên kệ xuống, lấy batoong ở giá mắc ô dù ra, im lặng cúi đầu chào rồi rời căn hộ.” Giờ họ đi xuống, ba khách trọ có râu, ba người máy, ba con rối máy móc, trong khi gia đình Samsa tựa vào lan can nhìn bọn chúng đi xuống. Cầu thang, khi nó ngoằn ngoèo dẫn xuống khỏi căn hộ mô phỏng, có thể nói như vậy, những cái chân nhiều khớp nối của một con côn trùng; và giờ đây khách trọ mất dạng, giờ lại nhìn thấy, khi họ xuống thấp hơn và thấp hơn, từ chiếu nghỉ này đến chiếu nghỉ khác, từ khớp này đến khớp kia. Ở một chỗ chúng gặp thằng bé bán thịt đang đi lên tay cầm giỏ hàng, thằng bé được thấy là đi lên đầu tiên về phía chúng, rồi trên chúng, đi khệnh khạng kiêu hãnh khi trong tay là giỏ thịt đỏ đầy có ngọn và bộ lòng ngon lành – thịt tươi đỏ, nơi ấp gây giống của lũ ruồi béo núc bóng loáng.

Cảnh 10: Cảnh cuối cùng thật siêu phàm trong sự đơn giản đầy châm biếm của nó. Ánh nắng mùa xuân đến với gia đình Samsa khi họ viết ba lá thư – khớp chân, những cái chân có khớp nối, những cái chân sung sướng, ba con côn trùng viết ba lá thư trình bày lý do cho chủ của chúng. “Họ quyết định suốt ngày hôm nay sẽ nghỉ ngơi và dạo phố; họ không những xứng đáng được hưởng một dịp nghỉ ngơi như thế này mà đó còn là điều tuyệt đối cần thiết đối với họ.” Khi mụ quét dọn ra về sau công việc buổi sáng của mụ, mụ cười khúc khích hòa nhã khi thông báo với gia đình: “ ‘ông bà không cần phải lo chuyện vứt bỏ con vật ở phòng bên đâu. Tôi đã lo liệu xong xuôi rồi.’ Bà Samsa và Grete lại cúi đầu xuống viết thư tiếp như thể đang bận rộn lắm; ông Samsa thấy rõ mụ đang háo hức muốn mô tả chi tiết những gì mụ đã làm nên kiên quyết xua tay ngăn mụ lại.”…

““Tối nay sẽ cho mụ thôi việc”, ông Samsa bảo, nhưng cả vợ lẫn con gái không ai buồn trả lời ông, vì mụ giúp việc dường như đã đập tan tành chút bình tĩnh họ vừa mới đạt được. Hai người đàn bà đứng lên, đi đến cửa sổ và đứng đó, ôm ghì lấy nhau. Ngồi trong chiếc ghế bành, ông Samsa xoay người lại nhìn theo và lặng lẽ quan sát họ một lát. Rồi ông gọi: “Lại đây nào, mau đi. Chuyện đã qua rồi thì cho nó qua luôn. Và các người lẽ ra phải quan tâm đến tôi một tí chứ.” Hai mẹ con răm rắp tuân theo, bước vội đến chỗ ông, vỗ về ông, rồi hối hả viết nốt các lá thư.

“Sau đó cả ba cùng nhau xuống phố, điều ma bao tháng nay họ kông có dịp làm, và đáp tàu điện về miền quê thoáng đãng ở ven đô. Họ là những hành khách duy nhất trên chiếc tàu điện tràn ngập nắng ấm. Thoải mái ngả lưng ra ghế, họ phác họa những viễn cảnh tương lai, và nếu xét cho kĩ thì những viễn cảnh ấy cũng không có gì u ám, vì cả ba đều có công ăn việc làm, công việc nào cũng thích hợp và hứa hẹn nhiều tiền đồ tươi sáng – điều mà lâu nay họ chưa một lần nào bàn luận thực sự với nhau. Tất nhiên nếu họ dời sang một căn nhà khác thì chắc chắn tình trạng của họ sẽ lập tức được cải thiện bội phần; họ cần một căn nhà nhỏ hơn, rẻ hơn nhưng đồng thời cũng ở địa thế tốt hơn và dễ trông coi hơn là căn hộ họ đang ở, căn hộ mà Gregor đã chọn. Giữa lúc bàn cãi, cả ông Samsa lẫn bà vợ gần như đồng thời sửng sốt khi họ nhận ra thái độ càng lúc càng sôi nổi của cô con gái; dù đôi má cô vẫn còn nhợt nhạt sau một thời gian dài chồng chất bao sầu muộn, Grete đã bừng nở thành một cô gái xinh tươi với vóc dáng thanh tú. Hai ông bà trở nên trầm lặng hơn và bất giác liếc mắt nhìn nhau thầm đồng ý với một kết luận: đã đến lúc phải tìm cho cô một người chồng tử tế. Và như để khẳng định cho những mơ ước mới mẻ cùng với những ý đồ tốt đẹp của bố mẹ, đến cuối cuộc hành trình, người con gái đứng dậy trước tiên và vươn thẳng tấm thân thanh xuân phơi phới.”[3]

Tôi xin tổng kết lại các chủ đề chính trong truyện.

1. Con số ba đóng một vai trò đáng kể trong truyện. Truyện được chia làm ba phần. Có ba cánh cửa dẫn đến phòng Gregor. Gia đình anh có ba người. Ba người hầu xuất hiện trong tiến trình truyện. Ba người nhà Samsa viết ba lá thư. Tôi rất cẩn trọng để không khai thác quá mức tầm quan trọng của những biểu tượng, vì một khi anh chị tách một biểu tượng ra khỏi nòng cốt nghệ thuật của cuốn sách, anh chị sẽ đánh mất toàn bộ cảm giác sung sướng khi đọc sách. Bởi vì có biểu tượng nghệ thuật và có biểu tượng sáo mòn, giả tạo, hay thậm chí ngớ ngẩn. Anh chị sẽ thấy môt cơ số những biểu tượng vớ vẩn như vậy trong cách tiếp cận huyền thoại và phân tích tâm lý tác phẩm của Kafka, trong một hỗn hợp rất đúng mốt giữa sex và huyền thoại quá mức cuốn hút những đầu óc tầm thường. Nói cách khác, biểu tượng có loại độc đáo, biểu tượng có loại ngu xuẩn và sáo mòn. Và giá trị biểu tượng trừu tượng của một thành tựu nghệ thuật không bao giờ thắng được cuộc sống đẹp đẽ cháy bỏng của nó.

Vậy, ý nghĩa tượng trưng hay biểu trưng duy nhất hơn là biểu tượng là sự nhấn mạnh nằm ở con bố ba trong “Hóa thân”. Nó thực sự có một ý nghĩa mang tính quy tắc. Bộ ba, đoạn thơ ba câu, ba nốt nhạc trong hợp âm, tranh bộ ba rõ ràng là những dạng thức nghệ thuật chẳng hạn như, ba bức tranh tuổi trẻ, những năm chín chắn và tuổi già, hay bất kỳ dạng chủ đề bộ ba gồm ba yếu tố nào. Triptych tranh bộ ba nghĩa là một bức tranh hay tranh khắc có ba phần đặt cạnh nhau, và đây chính xác là hiệu ứng mà Kafka đã đạt được, chẳng hạn, với ba căn phòng trong phần mở đầu truyện – phòng khách, phòng ngủ của Gregor, phòng em gái, với phòng Gregor nằm ở giữa. Hơn nữa, đặc điểm bộ ba này gợi đến ba hồi trong vở kịch. Và cuối cùng chúng ta hẳn phải nhận ra rằng fantasy của Kafka có tính logic rất mạnh mẽ; còn gì có thể logic hơn một bộ ba luận đề, phản luận đề và tổng hợp. Do vậy, chúng ta sẽ giới hạn biểu tượng ba của Kafka xuống ý nghĩa mang tính logic và mỹ học của nó và tuyệt đối không quan tâm đến bất cứ huyền thoại nào mà nhà huyền thoại học tính dục có thể đọc ra từ văn bản dưới sự hướng dẫn của tay thầy mo lang băm người Vienna.

2. Một chủ đề khác là những cánh cửa, về việc cửa mở ra và đóng vào diễn ra suốt truyện.

3. Chủ đề thứ ba là việc lên và xuống của gia đình Samsa, trạng thái cân bằng tinh vi giữa sự thịnh vượng của họ và cảnh huống đáng thương, tuyệt vọng của Gregor.

Còn có vài chủ đề nhỏ khác nữa nhưng trên đây là những cái thiết yếu duy nhất để hiểu được truyện này.

Anh chị sẽ để ý văn phong của Kafka. Sự rõ ràng, chính xác của nó, và cái giọng điệu trang trọng đến mức khiến người đọc phải chú ý tương phản với cái nội dung ác mộng trong câu chuyện của ông. Không ẩn dụ thi ca nào điểm tô cho truyện tuyệt đối chỉ trắng–và–đen của ông. Văn phong sáng sủa làm bật lên sự phong phú đen tối trong fantasy của ông.

Tương phản và nhất quán, văn phong và nội dung, cách kể và cốt truyện được hợp nhất với nhau một cách hoàn hảo.

 

 


[1] Ghi chú của Nabokov trong cuốn sách có chú giải của ông: “Một con bọ bình thường không có mí mắt và không thể nhắm mắt lại được – một con bọ có đôi mắt người.” Về cả đoạn nói chung ông nhận xét: “Trong nguyên bản tiếng Đức có cả một sự nhịp nhàng, lưu loát tuyệt vời trong một loạt những câu văn mộng mị hão huyền. Anh ta nửa tỉnh nửa thức – anh ta nhận ra cảnh ngộ khốn khổ của mình mà không hề ngạc nhiên, mà chấp nhận theo kiểu đầy con trẻ, đồng thời anh ta vẫn bíu lấy những ký ức người, những trải nghiệm người. Quá trình hóa thân vẫn còn chưa trọn vẹn.”

[2] Trong lời ghi chú trong bản có chú giải Nabokov quan sát được rằng sau khi Gregor chết không bao giờ là “bố” và “mẹ” mà chỉ là ông và bà Samsa.

[3] “Linh hồn đã chết cùng Gregor; con thú non khỏe mạnh tiếp quản. Những con ký sinh đã hút no nê béo núc từ cơ thể Gregor.” Ghi chú của Nakobov trong bản có chú giải của ông.

bài đã đăng của Vladimir Nabokov


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)