Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Hơi thở của dòng sông

 

 

 

Tháng chạp năm nào thầy Đen cũng về chùa Phước Xuân tọa lạc bên bờ sông Con Cuông này, vậy nên khóa tu thiền hàng năm dành cho Phật tử ở đây đã thành lệ. Năm nay, chùa mới thỉnh được tượng Phật Thích ca bằng đá trắng từ Non Nước về nên thầy Đen tổ chức khóa tu ngay trong chánh điện. Thầy là cư sĩ, thầy có tên quy y nhưng ai cũng thích gọi là thầy Đen đúng như tên cúng cơm.

Trong phần giải đáp sau bài giảng, có Phật tử đứng lên hỏi một câu rất ngây ngô:

-Thưa thầy, bờ giác có phải xuất phát từ một bờ sông nào có thật hay chỉ là một bờ sông tưởng tượng?

Quả thật trả lời cho rốt ráo câu hỏi ngây ngô này không phải dễ nhưng cũng không khó đến mức làm thầy Đen phải lặng người đi một lúc khá lâu. Ai cũng thấy vậy là bất thường vì thầy Đen, dù chỉ là cư sĩ nhưng về giáo lý đạo pháp thì chưa chắc mấy vị thầy trong hàng chức sắc sánh bằng…

Đến khi chuyển qua phần hướng dẫn thiền thầy Đen mới lấy lại cân bằng, đường nét tinh tấn hiện lại mồn một trên khuôn mặt thanh tú, khuôn mặt của người được ơn phước. Thầy mở đầu phần hướng dẫn rất lôi cuốn:

-Chủ đề của khóa tu năm nay là gì? Một ngày an lạc. Cả năm, các vị đã quay cuồng trong đời sống, hàng xóm ra ngõ không kịp chào nhau, con cái quên cả cha mẹ, người thân quên cả mặt người thân, từng con người đã quên mất chính mình… Hỏi đến mức như vậy thì làm sao có được phút giây an lạc…

… Bắt đầu bằng tư thế kiết già. Các vị có thấy Phật Thích Ca ngồi đó không? Chân phải là dương, tay phải là dương, dương đặt trên âm, hai ngón tay cái chạm nhau. Hãy ngồi như Phật. Hãy hít vào thật sâu! Ta hình dung như mình đang đổ ánh sáng vàng ngọc vào chiếc ly vậy. Quý vị hãy cùng tôi nén thứ ánh sáng quý giá ấy xuống đan điền… Đầu óc không còn vướng bận gì cả, xả cho bằng hết. Khi người khách hư không đến nhà, chúng ta có thể dừng lại ngắm nghía anh ta chút đỉnh nhưng đừng cố mường tượng ra điều gì, hãy để căn nhà ngập tràn hình bóng của người khách ấy cho đến khi người khách ấy với ta là một…

Hàng trăm Phật tử bên dưới đã bắt đầu kiểm soát được hơi thở của mình, đã nén đều đặn hơi thở xuống đan điền rồi đưa lên thùy chẫm, cả chánh điện đầy những chiếc áo xám im phắc thì chính thầy Đen lại bị một loại hơi thở khác điều khiển trở trăn suốt buổi tọa thiền, có lẽ do câu hỏi ngây ngô của ai đó ở đầu buổi giảng đã vô tình đánh thức những sâu kín trong lòng thầy.

…Đò ơi!!! Tiếng gọi đò của người đàn ông chới với trong nhấp nhá chiều trên bến sông Con Cuông. Một chút nắng quái hắt thứ ánh sáng vàng chạch lên khuôn mặt người đàn ông, vừa đủ để thấy những đường hằn dúm dó nhăn quéo, có nét gì rất quen thuộc. Thầy Đen định quay đi, vào cái thời điểm ngày cùng tháng tận như thế này, con người ta không còn thời gian để dành cho những thắc mắc, nhất là người đã choàng chiếc áo cư sĩ lên người, chiếc áo không phải là thầy tu nhưng nó giúp người xuất gia tránh những phiền nhiễu không đáng có. Thầy Đen định ghé lại ngôi chùa quen tá túc qua đêm đợi con đò sớm mai, là bụng nói với dạ như vậy, chợt có một sức hút ma quái nào đó kéo bước chân ông tiến lại gần hơn, ông bàng hoàng nhận ra người này mang khuôn mặt của mình, cùng lúc ấy người đàn ông tiến tới và nhanh chóng nhập vào ông. Ông rùng mình rồi nhìn ngó quanh quất, bến sông giờ chỉ còn một hình một bóng là ông. Thầy Đen loay hoay định bụng trượt xuống sát mép nước vốc tay rửa mặt cho tỉnh táo, không ngờ cái triền bờ ấy lại xuôi dốc như triền mái nhà, ông thắng người lại, loạng choạng trong tư thế cúi soi mặt mình xuống dòng nước. Đột ngột ông lùi lại. Tiếng “đò ơi” vừa chui lên từ đáy nước, đầu tiên là tiếng thì thầm, sau thì thét lên, vọng lên thảng thốt, những vòng sóng trắng xám nhợt nhạt tỏa lan thành những vòng tròn khổng lồ trên mặt sông nhá nhem. Thầy Đen sợ hãi bật ngửa người lên nền đất ẩm ướt rồi cứ thế trượt nhanh xuống… Ông giật mình từ từ mở mắt ra khỏi cơn chập chờn mộng mị. Bên dưới, mấy trăm Phật tử trong tư thế kiết già như mấy trăm bức tượng, không biết bao nhiêu người ngồi im nhưng chưa xả được chuyện lu bu gia đình, bản thân. Ông lim dim mắt cố nhớ lại giấc mơ, ông hiểu mọi thứ trong giấc mơ thuộc về chính mình chứ không phải ai khác. Ông không cần cầm trên tay, không cần sờ mó giấc mơ vừa lấy ra từ nơi sâu thẳm ấy nhưng ông biết được sức nóng của nó, bởi thứ nhiệt lực kia đang tỏa ra chính từ nhịp đập tưởng như đều đặn thanh thản nơi trái tim ông.

Mỗi người có một dòng sông riêng tư và bí ẩn đeo đuổi, ám ảnh không lúc nào nguôi, đó là con đường đi của anh ta, không chỉ bằng bước chân trần chai vàng dẹt gót, không chỉ bằng con đường sỏi đỏ nhựa đen trước mặt, cũng chưa hẳn là mục đích danh vọng chi chi, càng không phải là sợi tơ mành lụy tình tình lụy thắt ruột co tim nào cả. Đó là ước mơ của một con người. Ước mơ không rạch ròi vì chưa dám thố lộ, chỉ âm thầm mường tượng trong đêm, chỉ ứa nước mắt mà nghĩ về nó mỗi khi sấp ngửa bầm dập đến tái tê tâm hồn, đến hư hao thân xác. Ước mơ có lúc tưởng chừng ngủ quên đâu đó như dòng sông chui qua gầm cầu bóng tối, như dòng sông cúi mặt sát đất trườn người qua những bụi gai khuất lấp móng vuốt hiểm nguy…

Thầy Đen lại tiếp tục chìm vào những ý nghĩ về dòng sông ước mơ làm cho người ông nóng ran lên. Có một dòng sông khác đang đòi hiện diện ngoài dòng sông Con Cuông nhiều kỷ niệm, lắm xót xa đã gắn chặt một thời niên thiếu côi cút của thầy với quê nhà.

Trước khi xuất gia, thầy Đen cũng đã thường mơ thấy dòng sông, ông thường có thói quen đứng nơi cửa sổ, tay níu vịn vào song cửa, không phải chỉ để nhìn thấy dòng sông thực đang bị lấp dần ngoài kia mà còn để hình dung ngày càng rõ dần dòng sông trong kí ức miền sâu của mình đang bị lấp dần bởi cơm áo mưu sinh, bởi những nợ nần thúc bách ngày nào, đồng ý con người là con nợ lẫn nhau, xét cho cùng là thế, nhưng vị đắng đót nợ trần gian thường trực làm cho con người ta bất an, làm cho con người ta quằn quại, làm cho con người ta hèn mọn dần đi. Phải chăng đó là những khối đá lấp dần, lấp dần dòng sông ước mơ trong mỗi phận đời. Tu mau kẻo muộn! Đó là mệnh lệnh. Đó là con thuyền bát nhã hiện ra giữa nước lụt trắng trời. Đen đã xuất gia. Thầy Đen nổi tiếng là người thầy hướng dẫn những khóa tu “Một ngày an lạc” khắp các chùa chiền quanh miền Đông nam bộ. Thầy Đen đi đến chùa nào thì Phật tử ở đó xôn xao, hồ hởi lũ lượt đến chùa, một phần vì cách giảng bài, cách trả lời những thắc mắc gọn gàng sâu sắc một cách siêu việt, một phần vì nhu cầu an lạc quá cần thiết cho họ. Thầy đến như đem đến cho họ nguồn nước mát xoa dịu những vết thương do đời sống trần tục mang lại.

Mỗi phận đời nặng trĩu ước mơ là một dòng sông luôn cố hết sức oằn mình qua những khúc quanh co định mệnh. Thầy Đen là người ít mơ trong những buổi hướng dẫn tu thiền nhưng thỉnh thoảng có những lần như vậy đều làm cho da ông sạm đi. Thầy Đen không làm sao quên những cơn ác mộng chứa đựng hình ảnh gần gũi ấy đã ám mình như thế nào, hồi trẻ có lần ông còn thấy mình ngoi lên ngụp xuống sặc sụa trong dòng nước đục ngầu, rồi hơi thở đã rời ông ra đi, ông chới với hẫng hụt, ý muốn càng ngoi lên thì thể xác lại càng chìm xuống… Chính ông đã thấy mình nằm quay đơ xanh lạnh dưới đáy nước… Ông kể giấc mơ khủng khiếp ấy cho má ông nghe. Má quay mặt đi thở dài. Má đang rót nước mà nước cứ tràn ra đầy bàn. Má chợt kể về cái năm Thìn khốn khổ. Giọng má thường mang mang chìm lắng về một nơi xa vắng nào đó trong những lúc bà nói về cái kì vượt cạn trên nóc nhà lênh láng nước. Khi bà ngoại cắt được dây nhau thì thân thể đứa bé đã dần tím bầm, bà phải phát vào đít năm bảy phát liền tiếng khóc mới oe oe cất lên. Người ta khóc để chào cuộc đời và cố gắng hết sức để cười trong ngày cuối của mình. Tiếng khóc thiêng liêng đánh dấu những cực nhọc đầu tiên của một con người. Má chỉ gắng gượng nghe được tiếng khóc ấy rồi ngất đi. Máu vượt cạn sinh con từ cơ thể má trườn theo mái tôn trộn lẫn bầm đục dòng nước lụt đang duềnh lên ì oạp tận chỗ nằm của hai má con. Đứa bé được đặt tên là Đen vì hình ảnh tím đen khi chào đời, cũng vừa là do sắc màu bầu trời vần vũ đen nghịt mấy ngày ấy. Sau, đứa bé lại hay rùng mình, trân người, mỗi lần như vậy các đốm đỏ lại nổi lên khắp người nên má còn nựng nịu là Tắc Kè Bông của má. Má nói: Tội nghiệp con tôi! Chắc tại má lúc ấy đã quá sợ cơn nước lũ nên mới truyền cơn ác mộng ấy vào con. Đen nghe đến đó chợt thấy thương má không kể xiết nên vội vàng chuyển sang chuyện khác, ông muốn má nguôi ngoai, không bị dằn vặt, ông không muốn nhìn thấy má đau buồn.

Thầy Đen cố gắng kiểm soát hơi thở của chính mình nhưng một lần nữa ông lại thất bại, ông chỉ còn nghe hơi thở của dòng sông…

…Mỗi đoạn đời của dòng sông ấy có khác nhau, nơi đầu nguồn đổ dốc thì reo vui vô tư, chỉ thấy sáng trưa cầu vồng lấp lánh; nơi quanh co nhiều hơn thì nước cũng xoáy trào nhiều hơn, cũng ngầu đục cát đá cuộn mình; nơi đôi bờ suông thẳng thì nước phăng phăng tuôn đi, hả hê quên để mắt đến đôi bờ, bên này lở bên kia bồi, bên vực sâu bên bãi cạn…có gì mà đau, có gì mà nhớ, rồi chợt thảng thốt nhận ra, thảng thốt chạnh lòng, trách giận chính mình vô tâm, trách giận con tim hững hờ, trách giận chính những niềm vui vốn nhỏ nhoi, tạm bợ ở đời đã đánh lừa, đã làm quên đi nỗi khoắc khoải trong veo của đời mình.

Chỉ một điều giống nhau như đúc của các dòng sông, dòng đời ấy là khi về hạ nguồn thì lặng lờ thẫm màu dâu bể, thì trầm ngâm gỗ mộc nâu già, thì thấm đau, thấm mệt đến như quên mất nỗi ưu tư mà kì thực nỗi ưu tư đã đến nơi gọi là bến sâu bờ quạnh.

Thầy Đen chẳng biết mình đã đến đoạn hiu hắt ấy hay chưa nhưng ông biết rõ một điều mình không có quyền thấm đau thấm mệt lúc này. Cuộc đời xuất gia, đi giảng đạo khắp nơi tưởng đã đưa ông chạm được bờ kia nhưng hơn ai hết ông biết mình vẫn còn rất trần gian… Ông từ từ mở mắt rồi đứng dậy, nói lớn thay cho lời kết thúc:

Nam mô a di đà Phật!

Tiếng hàng trăm Phật tử họa theo:

Nam mô a di đà Phật

Phương pháp tu sau khi thiền xong này gọi là “tu Nam Mô”. Một ý tưởng ngủ quên vừa được đánh thức. Ông định hướng dẫn thêm về phương pháp “tu Nam Mô” nhưng lại thôi. Thầy Đen dợm bước lui vào bên trong thì dừng sựng lại bàng hoàng khi nghe hai Phật tử trong lúc duỗi tay chân thì thầm trò chuyện với nhau về sự trải nghiệm tọa thiền vừa rồi, kẻ xướng người họa nối tiếp thành một bài thơ xuyên thấu lòng người thầy vốn được coi là uyên bác siêu việt:

“-Một sớm phiêu bồng qua bên sông
-Bỗng nhiên hiểu Phật cũng đau lòng
-Phật cũng khổ như người khốn khổ
-Cúi đầu quay lại bên này sông.”*

 
Chân núi Tà Cú, tháng chạp, Kỷ Sửu

 

 

*Ý thơ Nguyễn Bắc Sơn

 

 

 

.

bài đã đăng của Nguyễn Hiệp


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)