*Trích từ Hồi ký Con Gái Người Thợ Nail của Susan Lieu (nguyên bản Anh ngữ The Manicurist’s Daughter (Celadon, 2024), bản dịch Việt ngữ của Kalynh Ngô)
LTS: Trong hồi ký đầu tay, tác giả Susan Lieu đã kết nối hai câu chuyện: hành trình tị nạn của gia đình Việt gốc Hoa của cô, cùng cái chết oan uổng của người mẹ vào năm 1996 dưới tay một bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ vô lương tâm. Qua cách viết bình dị, linh động nhưng sắc bén, cô cho thấy cái chết của người mẹ không nên bao giờ bị coi như một vết thương thầm kín mà gia đình cô phải gánh chịu. Trái lại, thảm kịch này cần được làm sáng tỏ để lấy lại công lý và sự bình an cho tâm hồn.
Ban đầu, Susan nung nấu ý định trả thù cho mẹ bằng cách vạch trần người bác sĩ thiếu y đức trước công chúng (nhưng ông ta đã qua đời vì bệnh Parkinson trước khi cô có cơ hội thực hiện). Theo thời gian, nỗi oán hận của cô đã chuyển thành nỗ lực hồi phục ký ức về người mẹ trong đời sống gia đình. Những người thân của cô vẫn bị xâu xé bởi định kiến xã hội về chuyện sửa sắc đẹp, nên đã cảm thấy xấu hổ vì cái chết của mẹ cô, bà Hà thị Phường, thay vì hãnh diện về những thành quả lúc sinh thời của bà. Susan nhận thức ngành nail của mẹ, ngoài việc giúp cho gia đình cô được khắng khít, ổn định, cũng thể hiện khía cạnh cốt yếu và đa diện của cộng đồng người Việt tị nạn. Qua nghệ thuật diễn xuất và môi trường văn chương, Susan Lieu đã chứng minh sự liên hệ mật thiết giữa riêng tư và công cộng, gia đình và xã hội, cá nhân và chính trị.
***
Ai Cũng Biết Chết Là Bi Kịch
Nhưng Hãy Nói Về Nỗi Đau Của Người Còn Sống
Tất cả bắt đầu vào ngày đầu tiên của lớp độc diễn với bài tập kể một câu chuyện dài năm phút. Tôi tham dự vì không muốn mình tiếp tục là một kẻ hèn nhát. Dù là một diễn viên hài độc diễn mới vào nghề, tôi đã thích ứng được với môi trường sân khấu. Nhưng một kẻ ưa gây sự tại một chương trình hài kịch từ thiện đã chế giễu tôi thậm tệ đến mức tôi rời xa micro suốt ba năm. Sau khi kết hôn, tôi liên tục bị cha và các dì hối thúc phải có con. Nhưng một phần trong tôi cảm thấy thất vọng với hình ảnh của tôi hiện nay–một người ba mươi hai tuổi làm việc tại văn phòng công ty nhà thầu tại Microsoft, thậm chí còn không phải là nhân viên toàn thời gian–thay vì trở thành một nghệ sĩ sân khấu mạnh mẽ, điều mà tôi vẫn hằng mơ ước. Làm sao tôi có thể khuyến khích con mình theo đuổi ước mơ khi chính tôi lại trốn tránh ước mơ của mình?
Đó là năm 2017, tôi đang ngồi dưới tầng hầm của một nhà hát cộng đồng nhỏ với bốn người phụ nữ da trắng, tất cả đều lớn hơn tôi hàng chục tuổi. Tôi để họ trình diễn trước. Một pháp sư phong cách du mục kể lại việc người hàng xóm đã rất đáng ghét khi phá rối buổi tập trống của bà, và bà đáp trả lại bằng những lời chửi mắng khó nghe. Một người phụ nữ nhiều cá tính, ngoài tám mươi tuổi đã tâng bốc một thợ làm tóc huyền thoại tên Alfonso ở Miami, người đã thay đổi cuộc đời của nhiều phụ nữ. Một bà mẹ bận rộn với đứa con chơi thể thao đã hát một bài hát về việc sắp xếp lại đồ đạc của người cha quá cố không thân thiết của bà. Tôi cố gắng theo dõi, nhưng trong đầu cứ mãi nghĩ về những gì tôi sẽ nói. Tôi đã giữ im lặng về câu chuyện gia đình mình suốt 21 năm, để những chi tiết ấy sóng sánh qua lại như một chai nước ngọt hai lít. Khi Paul, người dẫn chương trình, yêu cầu tôi phát biểu, tôi cố gắng chủ động vặn nắp chai cẩn thận, nhưng nó bắn ra như một khẩu đại bác.
Ngày cuối cùng của Má tôi, một người Việt Nam tị nạn, tự hào là chủ của hai tiệm làm nail, tóc, đã đến một ca phẫu thuật thẩm mỹ – căng da bụng, làm lỗ mũi nhỏ lại, cấy ghép cằm – và nghĩ rằng ngày hôm sau bà sẽ được về nhà với diện mạo mới xinh đẹp. Hai giờ trên bàn phẫu thuật, bà rơi vào tình trạng oxy không lên não. Não con người có thể thiếu oxy tối đa là bốn phút, trước khi nó bị tổn thương vĩnh viễn. Nhưng Má tôi phải chịu như thế trong mười bốn phút, sau đó bác sĩ phẫu thuật mới gọi 911. Sau năm ngày hôn mê, Má tôi đã ngừng thở. Và khi Má qua đời, khi mặt trời của tôi khuất bóng, bà ba mươi tám tuổi. Tôi mười một tuổi.
Gia đình tôi đã không còn như xưa kể từ ngày hôm đó. Ba của tôi không còn hát karaoke mỗi sáng Chủ Nhật. Các dì và ông bà ngoại của tôi dọn ra ngoài, nên có những chén cơm mà chúng tôi không bao giờ dùng đến nữa. Và không ai nhắc đến về chuyện đó. Hàng năm, vào ngày giỗ của Má tôi, chúng tôi lại thắp nhang cho bà. Rồi chúng tôi ăn trong im lặng. Má tôi đã chết, nhưng theo một nghĩa nào đó, chúng tôi cũng như thế, và tôi bất lực không thể thay đổi được điều đó.
Mãi đến khi vào đại học, tôi mới biết đến những từ như “chủ nghĩa tư bản,” “bóc lột” và “chấn thương liên thế hệ.” Khi học cao học, sống xa gia đình, tôi bắt đầu lên kế hoạch trả thù. Tôi nhận ra cái chết của Má tôi không chỉ là một bi kịch mà nó còn bí ẩn đầy phức tạp. Đó là hậu quả từ một gã da trắng vô trách nhiệm, có tiền án lợi dụng những người tị nạn Việt Nam mềm lòng, dễ tin người. Đó là hành động phân biệt giai cấp và giới tính, và hắn ta đã thoát tội, không hề trả cho gia đình tôi một xu. Trước khi làm phẫu thuật cho Má tôi, ông ta đã bị hội đồng y khoa xử phạt về hai trường hợp khác nhau. Tay bác sĩ này thậm chí không có bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp. Đây không phải là một cơ sở hoạt động mờ ám nào đó. Chuyện này xảy ra ở San Francisco, ngay trên Geary Boulevard vào năm 1996.
Tôi muốn ông ta phải đền tội. Tôi muốn kiện ông ta để lấy hết số tiền ông ta có và đưa cho Ba tôi vì ông không có quỹ hưu trí – ông làm nghề nail – một thợ nail. Tôi bắt đầu hình dung về một chiến dịch tiếp thị đa chiều với các quảng cáo trên Facebook nhắm vào bác sĩ, một bảng quảng cáo cạnh phòng khám của ông ta, một bài vạch trần trên tờ báo địa phương nơi ông ta cư ngụ. Tôi muốn ông ta không bao giờ được phép động đến người Việt Nam nữa. Đây là cách tôi sẽ trả thù cho cái chết của mẹ tôi.
Và ngay khi tôi chuẩn bị bắt đầu kế hoạch của mình, tôi phát hiện ra ông ta đã chết một tháng trước đó, vì bệnh Parkinson. Chết khi đang hái cà chua bi trong vườn nhà ông ấy. Thật trớ trêu. Chính người lẽ ra sẽ giải thoát tôi khỏi nỗi đau khổ đã trượt qua khỏi kẽ tay của tôi nhẹ nhàng như những giọt dầu loang, cùng với mọi hy vọng bồi thường cho gia đình. Tôi đã cùng đường. Tôi không thể chiến thắng nếu kẻ thù không còn. Đó là dấu hiệu cho thấy cuối cùng tôi phải bỏ qua quá khứ để bước tiếp. Nhưng ba năm sau cái chết của ông bác sĩ đó, tôi vẫn còn rất nhiều câu hỏi về Má của mình. Tôi không thể ngừng việc tìm kiếm thông tin về bà, bởi vì chính những người hiểu rõ bà nhất – là gia đình tôi – đã không cho tôi hiểu.
Cuối cùng, khi tôi trút hết những suy nghĩ trong lòng, tôi ngước nhìn người hướng dẫn của mình, Paul, cảm thấy như thể mình vừa làm điều gì đó bất hợp pháp. Tôi cố gắng đọc tâm thức của những gương mặt nghiêm nghị, trắng sáng dưới ánh đèn sân khấu trong phòng. Không hiểu sao, tôi muốn xin lỗi vì đã làm phiền họ. Tôi đã làm cái quái gì thế này? Người hướng dẫn của tôi bắt đầu vỗ tay.
“Cô đã trình diễn câu chuyện này lần nào chưa?” ông ấy hỏi. Tôi trả lời “chưa” với một chút lo lắng rằng tôi đã vừa phản bội gia đình mình. Tôi đã quen với việc họ sẽ la hét bảo tôi dừng lại. Nhưng ở đây, thật bất ngờ, chẳng ai khiến tôi cảm thấy bất an vì đã nói về Má. Thay vào đó, Paul nói rằng tôi cần phải kể ra câu chuyện này. Tôi nghe ông nói, nhưng tôi không tin. Não của tôi đang nhận tính hiệu từ một lượng adrenaline từ huyết quản, báo động cho cơ thể tôi chuẩn bị đối phó với tình huống. Tôi đã làm điều mà tôi không nên làm.
“Đó là chuyện riêng tư,” tôi lẩm bẩm. “Chỉ có chồng tôi biết.” Và anh ấy biết rõ điều đó. Bên trong ngôi nhà của chúng tôi ở Seattle, có một cái góc nhỏ, nơi tôi chứa tất cả những manh mối tôi đã thu thập được qua nhiều năm. Tôi treo “bằng chứng” bằng những băng dính màu xanh rách tơi tả của thợ sơn như một cuộc điều tra hiện trường vụ án. Một bài báo về bác sĩ Moglen và Má tôi. Địa chỉ các phòng phẫu thuật thẩm mỹ của ông ta. Phán quyết của hội đồng y khoa. Cáo phó của ông. Tên một tờ báo Việt ngữ mà có lẽ Má đã tìm thấy quảng cáo của ông ta trên đó. Người ta thì có thói quen như đến câu lạc bộ sách, lấy cớ giao tiếp xã hội để có thể có một đêm không ở bên cạnh chồng và uống một ly rượu. Tôi có một nỗi ám ảnh mà tôi không được phép nói ra. Vì vậy, tôi thường ăn kẹo tẩm cần sa trên bàn ăn và lang thang trên mạng đến tận khuya, tự hỏi liệu bác sĩ và gia đình ông ấy có phải chịu đựng như gia đình tôi không. Tôi tự hỏi tại sao Má tôi lại làm vậy khi bà đã có được Giấc Mơ Mỹ và những thứ khác nữa. Tại sao bà lại sẵn sàng mạo hiểm tất cả khi mọi thứ bà có đều đã hoàn hảo như tranh vẽ?

Susan Lieu tự hào là con gái của những người tị nạn
Sau khi khóa học độc diễn kết thúc, tôi bắt đầu tìm hiểu thêm về Má. Tôi mang những khám phá đó lên sân khấu để có thể hiểu thêm trong thực tại. Khi xem lại vài bức ảnh của Má, tìm kiếm manh mối để biết Má là người thế nào, tôi thấy thích thú với những tư thế chụp hình của bà. Có một thời, phụ nữ Việt Nam thích chụp ảnh chân dung với ánh mắt nhìn xa xăm, khuôn mặt họ điểm xuyến một bông hồng xinh đẹp. Tâm trạng ấy mang vẻ nhẹ nhàng, dịu dàng, và cô đơn. Tôi tìm được năm tấm ảnh của Má, trong khoảng thời gian tám năm, từ 1988 đến 1996. Má tôi, một bức tượng thời trang bằng xương bằng thịt nhìn thẳng vào ống kính với chiếc vòng tay màu xanh ngọc bích, móng tay được sơn bóng hoàn hảo, kiểu tóc thanh lịch. Bà mặc những chiếc áo len sáng màu, hợp với những chiếc váy sang trọng, đi giày cao gót cùng tông, nhưng đứng trên những tảng đá cao. Cứ như thể bà biết rồi đây mình sẽ được lưu danh muôn thuở.
Má là “nữ tướng” trong nhà và là trụ cột kinh tế của gia đình, của tiệm nail chúng tôi. Vì tất cả nhân viên của Má đều là họ hàng, bà con trong nhà nên không có ranh giới chủ và người làm. Má tôi ngồi ở bàn đầu tiên, gần cửa ra vào nhất, lời của má là lệnh. Bà không năn nỉ ai điều gì, bà ra lệnh. Bà luôn biết phải làm gì và chúng tôi nhất nhất nghe theo. Bà có kế hoạch hoàn hảo, thực hiện bằng sự thông suốt, quyền năng vô hạn của phù thủy xứ Oz, với tiêu chuẩn khắt khe của Khổng Tử, và sự lịch lãm của công nương Diana.
Má tôi không bao giờ than phiền, mà bà hành động. Sau khi đến Mỹ với căn cước thuyền nhân hai bàn tay trắng, chỉ sau tám năm, chúng tôi dọn từ căn nhà nhỏ được trợ cấp ở Emeryville đến một căn nhà hai tầng do chúng tôi mua ở San Pablo. Một ngày nọ, năm người bà con từ Việt Nam sang để cùng nhau xây dựng “đế chế nail salon.” Rồi chúng tôi có căn tiệm thứ hai, chiếc xe hơi thứ ba.
Má là người nóng tính. Thỉnh thoảng bà lớn tiếng với cha tôi, và ông không bao giờ phản ứng lại. Mỗi khi điều đó xảy ra, tất cả anh chị em chúng tôi nín thở chờ đợi, không chắc chuyện gì sẽ đến kế tiếp. Khi Má tôi phát hiện anh lớn nhất của tôi, Khánh, hút cần sa trong trường đại học, bà đã thay ổ khóa cửa trước. Bà không đưa chìa khóa mới cho anh hai cho đến khi tên của anh xuất hiện trở lại trong danh sách sinh viên ưu tú của trường.
Dù gánh trên vai trách nhiệm lo cuộc sống của tất cả mọi người, nhưng Má tôi chẳng bao giờ tỏ ra sợ hãi vì khó khăn, bà chỉ là rất nghiêm khắc, làm cho người khác phải sợ bà. Khi tôi sáu tuổi, Lan, người bạn hàng xóm người Việt của chúng tôi, vô tình đánh trúng vào trán tôi bằng một cây gậy bóng chày bằng nhôm. Tôi loạng choạng, đi lảo đảo lùi lại giữa lúc máu chảy xuống mặt. Thay vì xem vết thương của tôi, Lan lo sợ nói với các anh tôi: “Ôi trời! Mẹ của các bạn sẽ giết tôi mất!” Bà ấy chính là người mẹ mà tất cả đám trẻ con trong khu phố của tôi phải sợ.
Má là trụ cột của gia đình mười ba người chúng tôi, điều đó có nghĩa là tôi hiếm khi có thời gian riêng với bà. Tôi chỉ có thể kể lại bốn kỷ niệm khi chỉ có Má và tôi, và chỉ có một trong số đó là không đáng xấu hổ. Tôi quan sát Má tôi nhiều hơn là nói chuyện với bà. Cách tôi thường làm để ở bên cạnh Má là ngồi trong chiếc ghế xoay bằng da đen ở bàn làm việc của bà khi tiệm vắng khách. Đó là không gian bà dành hết sự tập trung cho khách hàng, một nơi để tôi biết về Má tôi, nhưng bà luôn bắt tôi làm công việc khác: lấy tăm bông đựng đầy hộp, xác nhận với khách lịch hẹn cho ngày mai, hút bụi sàn nhà. Mặc dù tôi chưa bao giờ có những cuộc trò chuyện chân thành giữa trẻ con và người lớn như tôi đã xem trên Full House, nhưng tôi cảm thấy sung sướng khi bà cần tôi làm gì đó.
Từ khi Má của tôi mất, mỗi một kinh nghiệm tôi trải qua trong đời đều có hình bóng cái chết của bà. Ngay cả khi tôi mặc đồ, tôi cũng nghĩ về bà. Tôi biết những bộ đồ nào hơi chật, bộ nào khiến tôi tự ti khi mặc nó. Cảm giác này khiến tôi cảm thấy đặc biệt tội lỗi vì kiểu suy nghĩ đó đã giết chết Má tôi. Và sau khi tôi kết hôn ở tuổi ba mươi, hành trình làm mẹ của tôi là trở thành một quyết định chung, gồm sự thúc ép của cha tôi, các dì cùng sự sợ hãi và lo lắng của tôi.
Các anh chị lớn nhất quyết bắt tôi có con càng sớm càng tốt. Dì Phương thì nhắc, “con đâu còn nhỏ nữa.” Dì là em út trong gia đình mười anh chị em của Má. Tôi cười trừ và nói rằng tôi không muốn có con, viện dẫn lý do biến đổi khí hậu và tiết kiệm tiền để nghỉ hưu sớm. Nhưng câu trả lời thực sự mà tôi không bao giờ có thể nói thẳng với gia đình là nếu em bé ra đời mà tôi không biết phải làm gì, tôi sẽ gọi cho ai? Làm sao tôi có thể trở thành một người mẹ nếu tôi chưa từng biết Má của tôi?
Khi tôi ở bên gia đình, chúng tôi nói về ba chuyện: cách kiếm tiền, cách tiết kiệm tiền, và tiếp theo là sẽ ăn gì cho bữa tới. Mỗi khi tôi gợi lên một câu chuyện có chút gì đó dễ gây cảm xúc, tôi thường nhận lại những ánh mắt phản đối, cả những người lớn tuổi hơn tôi lẫn những anh chị đã bị “Mỹ hóa.” Những câu hỏi ngây thơ về tính cách của Má trở thành bãi mìn nổ chậm. Ngay cả vào ngày giỗ của bà, khi chúng tôi quây quần quanh mộ của Má, mời Má những món ăn bà thích khi còn sinh thời, thì việc nói về bà là điều không thể.
Là con út trong bốn anh chị em, tôi không được phép cãi lại bất kỳ ai lớn tuổi hơn mình, mà thực ra là tất cả mọi người. Tôi phải giữ thể diện, thậm chí là chịu lép mình. Tôi phải biết nhún nhường để không làm người khác bị mất mặt. Mặc dù tôi là một người Mỹ thích uống houjicha-latte, tập yoga tư thế úp mặt xuống chổng mông lên, học trường Ivy League, tôi sẽ mãi mãi là một người đã mang “ADN Việt Nam” trong mình. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, tôi cũng không được phép nói về bí mật của mình, nếu không, mối quan hệ giữa tôi với gia đình sẽ là một vấn đề lớn.
“Má” nghe có vẻ giàu ẩn ý hơn Mẹ. Trong tiếng Việt, có đến sáu cách phát âm có thể thay đổi ý nghĩa của một từ. “Ma”, không có dấu, nghĩa là con ma (ghost). Nhấn giọng “má” có dấu sắc, nghĩa là mẹ (mother) theo phương ngữ của người miền Nam. Đọc trầm giọng có dấu huyền, “mà” nghĩa là “nhưng” (but), một từ mà tôi thường nói khi gia đình chối bỏ điều tôi muốn biết thêm. Thanh điệu trầm có dấu hỏi “mả” có nghĩa là ngôi mộ, nơi mà chúng tôi nghĩ rằng mình chỉ chôn một thi thể nhưng thực ra có rất nhiều thứ chôn theo dưới đó. Giọng cao, kéo dài nghe như tiếng cừu kêu be be, “mã” nghĩa là ngựa (một từ Hán Việt), cung hoàng đạo của cha tôi. Và cuối cùng là thanh nặng nhất “mạ”, nghĩa là mạ non, nguyên liệu tinh túy của bữa ăn Việt Nam – và đôi khi, rất tiếc đó là cách duy nhất mà gia đình tôi thể hiện sự quan tâm.
Chỉ cần thêm một dấu nhấn cho một từ gốc cũng làm nó trở thành một ý nghĩa khác. Tôi đã phải mất nhiều năm để hiểu được ý nghĩa của các dấu trong tiếng Việt khi dùng cùng với nhau, giúp tôi hiểu chuyện gì đã xảy ra với Má và gia đình tôi sau cái chết đột ngột của bà. Hơn hai thập niên, chúng tôi không nhắc đến bà. Cứ như thể bà chưa từng tồn tại, một điều tệ hơn là trở thành huyền thoại. Với một huyền thoại, bạn còn biết chi tiết. Còn tôi, tôi chỉ có những những ký ức rời rạc, nhạt nhòa. Gia đình có lẽ sẽ nguôi ngoai nếu giải bày được những nỗi đau của quá khứ. Có lẽ có quá nhiều xấu hổ liên quan đến nguyên nhân cái chết của bà. Nhưng nếu không nhắc gì đến bà nữa, thì với tôi đó là lý do thật sự gây ra cái chết cho bà.
Là con út trong nhà, tôi cảm thấy như tôi không biết gì về Má, và không ai cho tôi biết. Mọi người đổ cho tôi là trẻ con mà muốn biết quá nhiều, quá cảm xúc.
Ba thường bực bội nói: “Bỏ qua đi.” “Bỏ nó đi.” Động từ “bỏ” cũng được dùng khi chúng ta vứt bỏ những thứ gọi là rác.
“Có gì để nói?” Dì Phương thì thầm.
Khánh, anh lớn của tôi, thì khăng khăng cho rằng “hãy sống trong hiện tại.”
“Đi rửa mặt đi!” Hưng, anh ba của tôi, ra lệnh mỗi khi tôi bắt đầu khóc.
Wendy, người đứng kế bên, lúng túng nói: “Chúng ta có thể nói chuyện khác được không?”
Mặc dù chúng tôi là những thuyền nhân đến Mỹ năm 1983, cái chết kinh hoàng của Má đã khiến chúng tôi làm người tị nạn lần thứ hai vào năm 1996. Chúng tôi phải xây dựng lại cuộc sống của mình một lần nữa, nhưng thay vì cùng nhau làm như gia đình thường làm với sự dẫn dắt của Má, mỗi người chúng tôi lại tự mình làm điều đó, trong im lặng. Tôi cố gắng vượt qua cái chết của Má bằng cách đến gặp các bác sĩ tâm lý trong nhiều năm, nhưng việc kể đi kể lại câu chuyện này lại làm hao mòn dù đó là những guồng quay vững chắc nhất. Không có ai trong gia đình cho tôi thêm ký ức về Má hoặc cùng tôi vượt qua ngày tháng tồi tệ nhất trong cuộc đời, tôi loay hoay, kẹt cứng ở một nơi. Điều đó khiến một người như tôi có thể làm những chuyện điên rồ, chẳng hạn như gia nhập một giáo phái, truy tìm gia đình của kẻ giết người, tìm công lý bằng sự giúp đỡ của những người dùng phương pháp lên đồng, và thực hiện một chuyến lưu diễn độc thoại về bi kịch gia đình mình. Tôi sẽ nói về tất cả những điều đó sau này.
Sau hai thập niên kể từ ngày Má tôi ra đi, tôi vẫn cố gắng tìm hiểu xem Má là ai, nhưng không ai muốn nói về Má, ngay cả Ba, anh chị em tôi hoặc chị em của Má tôi. Bản thân tôi, khi đang ở tuổi làm mẹ, tôi cảm thấy sợ hãi. Làm sao tôi có thể trở thành một người mẹ nếu tôi chưa từng biết đến mẹ của chính mình? Tôi vẫn còn rất nhiều câu hỏi. Tôi muốn biết tại sao người mẹ đầy tự tin, độc lập của tôi lại muốn phẫu thuật thẩm mỹ. Tôi muốn biết bà là ai và tôi giống bà như thế nào. Và trên hết, tôi muốn biết vết thương tâm lý của mình có được chữa lành không khi gia đình không cho tôi điều tôi cần. Tôi đi săn lùng những câu trả lời, và đây là nỗ lực tôi làm cho Má tôi “sống” lại, để tôi không bao giờ quên những gì gia đình mình đã làm được và nguồn gốc của chúng tôi. Đi tìm sự thật là cách để tôi trả thù cho cái chết của Má tôi. Tôi là con gái của người thợ nail, và đây là câu chuyện của chúng tôi.
***
*Quý độc giả có thể đặt mua Con Gái Người Thợ Nail trên trang mạng Amazon, với giá bán (bìa mềm) $19.95, và đọc bài điểm sách của Đinh Từ Bích Thuý trên NPR cho nguyên bản Anh ngữ, The Manicurist’s Daughter, khi hồi ký của Susan Lieu ra mắt lần đầu vào tháng ba năm 2024.
***
Susan Lieu là một tác giả, nhà biên kịch và nghệ sĩ biểu diễn người Mỹ gốc Việt. Cô tốt nghiệp cử nhân từ Harvard University và thạc sĩ từ Yale University. Là một nhà hoạt động xã hội, Susan đã góp phần thay đổi một đạo luật tại tiểu bang California về những bất cẩn và sai sót y khoa, nhằm bảo vệ quyền lợi của những nạn nhân có thu nhập thấp. Là con gái của những người thợ làm nail, cô đã mang 140 LBS: How Beauty Killed My Mother – vở kịch độc thoại từng đoạt giải thưởng đi lưu diễn toàn quốc. Những suất diễn cháy vé đã nhận được nhiều lời khen thưởng từ Los Angeles Times và tạp chí American Theatre.
NPR và Smithsonian đã tuyển chọn The Manicurist’s Daughter cho danh sách những cuốn sách hay nhất trong năm 2024. Tác phẩm cũng vào vòng chung kết của Giải Thưởng Sách Tiểu Bang Washington, Giải Thưởng Goodreads Choice Awards, và được Apple Books vinh danh là Tác Phẩm Đáng Nghe Nhất Trong Tháng.
Susan cũng là người đồng sáng lập thương hiệu Socola Chocolatier, một công ty chế biến kẹo socola theo kỹ nghệ thủ công mang hương vị Việt Nam. Cô hiện đang sinh sống cùng chồng và con trai tại Seattle, nơi cả gia đình cô thường cùng nhau đi hái nấm, thưởng thức bánh croissant và quây quần bên những buổi họp mặt gia đình đầm ấm.
Kalynh Ngô sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn. Là một ký giả và người ghi chép các câu chuyện thời đại, cô thích tìm hiểu về những con người trông rất bình dị nhưng đã có những giây phút phi thường trong cuộc đời.
Kalynh đã vinh dự đoạt giải ở thể loại Phóng Sự Đặc Biệt của Giải Truyền Thông Đa Sắc tộc tiểu bang California (California Ethnic Media Awards) năm 2021, 2023 và 2025. Tin rằng nghệ thuật kể chuyện không chỉ gói gọn trong phạm vi chiến tranh hay chính trị, cô tập trung khai thác cung bậc cảm xúc, giấc mơ và cuộc đấu tranh nội tâm của những con người chưa bao giờ trực tiếp viết nên lịch sử. Chính góc nhìn này đã giúp cô được suất học bổng của University of Southern California qua dự án The ‘Invisible Enemy’ [Affecting Persons] of Vietnamese Descent Over the Past Half-Century (tạm dịch: ‘Kẻ thù vô hình’ của Người Gốc Việt Trong Nửa Thế Kỷ) – nhằm nâng cao nhận thức về những thử thách cho sức khoẻ tinh thần mà cộng đồng người Mỹ gốc Việt đang phải đối mặt.
Con Gái Người Thợ Nail là tác phẩm chuyển ngữ thứ ba của Kalynh. Trước đó, cô đã dịch sang Việt ngữ The Lucky Few – The Fall of Saigon and the Rescue Mission of the USS Kirk của Jan Herman, và hồi ký My Vietnam, Your Vietnam của Christina Vo và Nghia Vo.
