- Tạp Chí Da Màu – Văn chương không biên giới - https://damau.org -

Da Màu phỏng vấn nhà văn Ngự Thuyết

 

Chào nhà văn Ngự Thuyết. Da Màu rất hân hạnh được anh nhận trả lời cuộc phỏng vấn cho chuyên đề 50 Năm Thành Tựu Văn Học Việt Nam Hải Ngoại. Thưa anh, có phải biến cố 30/4/1975 là nguyên nhân phát sinh ra Văn Học Hải Ngoại? Nếu có thể, mong anh nêu lên vài đặc tính của Văn Học Hải Ngoại. Biến cố 30/4/1975 là nguyên nhân phát sinh ra Văn Học Hải Ngoại.

Ở hải ngoại, trước biến cố 30/4/1975, một số tác phẩm hiếm hoi bằng tiếng Việt được lưu hành của nhà xuất bản Minh Tân (Nguyễn Ngọc Bích), và của tiệm sách Lê Lợi  (Nguyễn Thu Lê, Nguyễn thị Lợi), Paris, Pháp. Con số ít ỏi đó không thể hình thành một nền văn học.

Viết bằng ngoại ngữ, ngoài những bản dịch Truyện Kiều của Nguyễn Du sang nhiều thứ tiếng trong đó có tiếng Trung Quốc, tiếng Anh và nhất là tiếng Pháp, còn có khá nhiều tác phẩm khác mà tác giả là nhà văn Việt Nam. Chẳng hạn:

Plainte d’une Chinh Phou (Chinh Phụ Ngâm) – 1942, của Hoàng Xuân Nhị.

Légendes des Tèrres Séreines – 1942, La Jeune Femme de Nam Xương- 1944, Nam et Sylvie – 1957 v.v…  của Phạm Duy Khiêm; Le Fils de la Baleine – 1956 , Le Domaine Maudit – 1961, v.v… của Cung Giũ Nguyên; Les Reflets de Nos Jours – 1955 của Nguyễn Hữu Châu; Les Yeux Courroucés – 1958, Perdre la Demeure – 1961 v.v… của Phạm Văn Ký; Lumière dans la Nuit 1966, Symphonie Orientale – 1971 của Võ Long Tê; vân vân.

Những tác phẩm nói trên đều quan tâm nhiều đến văn minh, văn hóa, tư tưởng, tình cảm, nếp sống, phong tục, tập quán,  tình cảm … của quê hương, đất nước Việt Nam.  Tuy nhiên đấy là những tác phẩm  được viết bằng ngoại ngữ, cho nên không thể được xem như  thuộc về Văn Học Việt Nam.

Tóm lại, không có không có văn học Việt Nam ở hải ngoại trước 30/4/1975.

Kể từ 30/4/1975 trở về sau, hầu hết các tác giả thuộc Miền Nam, và một số ít tác giả thuộc Miền Bắc, đã bỏ nước ra đi sống lưu vong tại nhiều nơi trên thế giới. Sau những năm tháng đầu tiên bỡ ngỡ trên xứ người, họ bắt đầu viết lại. Cùng với một số nhà văn mới, họ đã cho xuất bản rất nhiều tạp chí văn học, rất nhiều tác phẩm văn chương, đặc biệt tại Hoa Kỳ. Thế là nền Văn Học Việt Nam tại Hải Ngoại ra đời.

Có thể kể ra vài đặc tính:

Những năm tháng lưu vong đầu tiên, nỗi đau mất nước còn canh cánh bên lòng, các nhà văn, nhà thơ viết trong phẫn uất, căm thù. Nhiều người vẫn nuôi hoài bão trở về quang phục quê hương đã mất, kể cả bằng bạo lực.

Tình huống đó dần dần mang màu sắc khác. Văn chương hải ngoại vào những thập niên 2000, 2010  là tiếng nói của con người lưu vong bơ vơ, một mặt bị bật khỏi gốc rễ, xa lìa quê hương cũ, mặt khác chưa hội nhập vào quê hương mới.    

Và đặc tính thứ ba là, trong những năm tháng gần đây, những nguyện vọng, những mong ước một tương lai tốt đẹp cho đất nước Việt Nam được đề cập nhiều hơn. Không có những con số thống kê chính xác, nhưng có thể nói rằng đại đa số các tác giả đều mong có biến chuyển lớn tại quê cũ, không còn cộng sản độc tài, văn chương hải ngoại và quốc nội họp lại thành một nền văn  học Việt Nam đa dạng, phong phú và giá trị.

Theo anh, lấy tiêu chuẩn nào để xác định một tác giả hay một tác phẩm là thuộc về Văn Học Hải Ngoại? Địa lý (trong/ngoài nước)? Chính trị (quốc gia/cộng sản/bất đồng chính kiến)? Ngôn ngữ? Nơi xuất  bản? Hay điều gì khác?

Trong một nền văn học tự do, các tác giả có thể bất đồng chính kiến hay ngôn ngữ. Nói cách khác, người viết có thể tự do viết bất cứ gì hắn muốn. Do đó, những yếu tố liên quan đến chính trị (miễn là không tuyên truyền cho chế độ cộng sản), ngôn ngữ, không xác định được một tác giả hay tác phẩm tác phẩm có thuộc dòng Văn Học Hải Ngoại hay không. Vậy yếu tố địa lý đóng vai chủ chốt trong việc xác định nói trên. Ngoài ra, như một hệ luận, tác phẩm nào không xuất bản được ở trong nước do không tuân theo chỉ đạo của chánh quyền, bị kiểm duyệt, cấm đoán, và được gởi ra hải ngoại, theo tôi, cũng nên xem như thuộc về Văn Học Hải Ngoại.

Mong anh cho nhận xét về sự khác biệt giữa Văn Học Miền Nam 1954-1975 và Văn Học Việt Nam Hải Ngoại.

Bảo rằng Văn Học Việt Nam Hải ngoại là nền văn học nối dài của Văn Học Miền Nam 1954-1975 thì cũng đúng, nhưng không đầy đủ. Nền “văn học nối dài” lẽ tất nhiên bắt nguồn từ  văn học Miền Nam giai đoạn 1954-1975, nhưng những biến chuyển trong tâm thức của người viết cũng như người đọc, những va chạm trong sinh hoạt hàng ngày nơi xứ lạ quê người, cũng nẩy sinh những tương tác, hoặc thủ đắc. Do đó, Văn Học Hải Ngoại có biến đổi.   

Về mặt phong cách, Văn Học Hải Ngoại ngày càng muốn du nhập những trào lưu văn học hậu hiên đại, hậu cấu trúc , tân hình thức… của thế giới bây giờ. Về mặt nhận thức, một cách tổng quát, Văn Học Miền Nam 1954-1975 phản ảnh nỗi đau vì chiến tranh huynh đệ tương tàn, trong khi Văn Học Hải Ngoại nói lên nỗi buồn lưu vong, xa xứ.

Theo quan sát của anh, có sự giao thoa nào giữa Văn Học Hải Ngoại và văn học trong nước không, và sự giao thoa đó diễn ra như thế nào?

Văn Học Trong Nước bị đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của chánh quyền toàn trị. Nhà văn viết theo chỉ thị của cấp trên, viết để minh họa (Nguyễn Minh Châu). Do đó khó có sự giao thoa. Tuy nhiên, như đã trả lời ở phần 2 nói trên, những tác phẩm trái chiều ở trong nước được gởi ra hải ngoại có thể gióng lên tiếng nói khác lạ và mới mẻ, đánh động đến sinh hoạt chữ nghĩa ở hải ngoại, tạo nên sự giao thoa. Mặt khác văn chương hải ngoại cũng có thể được biết đến ở trong nước qua internet.  Sự giao thoa, do đố, có thể diễn ra trong một giới hạn nhất định.

Khi bắt đầu viết ở hải ngoại, động lực nào thôi thúc anh tiếp tục theo đuổi con đường văn chương trong bối cảnh xa xứ?

Hàn Dũ đời Đường bên Tàu có lần nói: “Đại phàm vật bất đắc kỳ bình tắc minh” (Vật nào không được quân bình, yên ổn thì sẽ kêu gào, lên tiếng). Câu nói chí lý. Bản thân tôi khi còn ở trong nước bị đi tù cải tạo. Ra tù, sống dưới sự quản chế, kềm kẹp chặt chẽ. Thì làm sao có thể “kêu gào, lên tiếng”, nói gì đến chuyện viết lách.

Ra hải ngoại, liệu cuộc sống lưu vong có đem lại an bình? Câu trả lời là không. Bởi vì lưu vong, rồi sao nữa? Ngoài việc “đi cày” vì “miếng cơm, manh áo”, tự nhiên cảm thấy cần phải làm bất cứ một cái gì khác. Trồng cây, câu cá, làm vườn, làm mộc, cờ tướng, đánh bài, v.v… hay đi ngao du cho biết đây, biết đó? Hay là thường xuyên nghe một tiếng gọi thầm kín – Viết. Vâng, vì viết cũng là cách lên tiếng nói khi “bất bình”. Thế thôi. Chứ không mang một tham vọng, hay sứ mạng nào cả.    

Đề tài để viết không thiếu. Nhìn vào cuộc sống trước mắt hay trong quá khứ không xa, thấy có quá nhiều chuyện để viết. Đang học trung học đã thấy bất an, bỡ ngỡ trước cuộc chiến huynh đệ tương tàn kéo dài như bất tận, lúc dữ dội, lúc âm ỉ. Rồi lo âu nghĩ đến việc sẽ lên đại học, ra Hà Nội (lúc đó Hà Nội còn thuộc về Việt Nam Quốc Gia), hay vào Sài Gòn, hay sẽ theo lệnh động viên vào quân đội để đi đánh giặc. Tiếp theo, đất nước chia đôi, Miền Nam mất, tù đày. Rồi lưu vong.   

Cuộc sống lưu vong lại đẻ ra lắm câu hỏi chưa có câu trả lời. Liệu sẽ có ngày trở về quê cũ, hay là sống mãi nơi đất khách? Và sẽ tìm thấy lại những gì đã mất? Liệu con người có thể nào “tắm hai lần trên cùng một dòng sông?”

Đấy là những gì đã thôi thúc chuyện viết lách trong bối cảnh xa xứ.

Có những nhà văn hay tác phẩm nào đã là nguồn cảm hứng đặc biệt cho anh trong quá trình sáng tác tại hải ngoại không?

 Về nhà văn Việt Nam, một phần nào Võ Phiến là nguồn cảm hứng. Nói về nhà văn ngoại quốc, ngoài hai nhà văn lớn của Nga vào thế kỷ 19 là Fyodor Dostoevski và Leo Tolstoy, có thể kể John Updike của cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21.

Trong các tác phẩm, anh thường khai phá những chủ đề nào liên quan đến đời sống người Việt ở hải ngoại? Có tác phẩm nào anh tâm đắc nhất không?

Chủ đề nổi bật nhất, đối với tôi, đó là tính cách lưu vong, tạm bợ của người Việt sống nơi xứ người, nhưng con đường trở về quê cũ hẳn không phải là giải pháp tốt đẹp. Chúng ta, những người đang sống lưu vong, đang loay hoay tìm gì, làm gì? Dường như tác phẩm nào của tôi cũng đều có liên hệ không ít thì nhiều đến chủ đề đó.

Tác phẩm tâm đắc?

Truyện dài “Lưu Đày và Quê Nhà”, truyện ngắn, truyện vừa “Tóc Trắng”, “Xuân Nồng”, “Dài Thế Kỷ”. Thật ra cái thích đó thay đổi tùy theo tâm trạng khi nghĩ đến những đứa con tinh thần đã có lần quấy động tâm trí của mình. Có khi đọc lại “Ngày Giỗ Mẹ”, hay “Home”, thấy thích hơn.      

Ngoài sáng tác truyện dài, truyện ngắn, anh còn viết tuỳ bút, ký…  Mong anh cho độc giả biết thêm về kinh nghiệm riêng của anh với từng thể loại?

Kinh nghiệm về viết lách của tôi chẳng có gì đáng kể. Nhưng quý vị đã hỏi, tôi đành phải mạo muội trả lời. Thật vắn tắt.

Về truyện dài.

Suy nghĩ nhiều về chủ đề trước khi đưa ra một dàn bài tạm thời gồm có nhiều chương.  Dàn bài có thể bị thay đổi tùy theo “tiến triển” của chủ đề. Rồi viết từng chương một. Không nhất thiết theo thứ tự thời gian, chẳng hạn viết chương 6 trước khi viết chương 3. Khi đã có đà, càng về sau càng viết nhanh hơn. Cuối cùng đọc lại tất cả, sửa đổi, thêm những chi tiết cần thiết, có thể gọi là “điểm xuyết bằng chi tiết”. Chi tiết rất quan trọng cho tác phẩm dài hoặc ngắn. Thiếu chi tiết, một bài viết có thể ví như bộ xương khô. Hay ví như một thiếu nữ lười biếng ngủ dậy không chịu rửa mặt rửa mày, gỡ tóc rối, để tuột nút, thiếu trang điểm.

Về truyện ngắn.

Cách đây không lâu, trong cuộc phỏng vấn của Triều Hoa Đại được đăng lại trên “Qua Trung Đông”, tôi có trả lời, “Truyện ngắn là sự chụp bắt những mảng rời, nhỏ, của cuộc sống, thường mang một chủ đề nào đó, và có thể viết bằng lối văn cô đọng, hoặc thơ mộng gần gũi với ngôn ngữ thi ca.”

Tiếp theo, tôi xin tóm tắt phần trả lời về “hoàn cảnh”, “động lực”, và cách “xây dựng” truyện ngắn “Tóc Trắng” mà, theo Triều Hoa Đại, “nhiều độc giả ưa thích, không những thế lúc còn sinh tiền, cố nhà văn Võ Phiến cũng rất thích truyện này” (tôi xin nói thêm, trong một email cho tôi, nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc cũng tỏ ý thích “Tóc Trắng)   

Có truyện bắt tôi phải suy nghĩ nhiều về cốt truyện, bố cục, nhân vật, bối cảnh, trước khi viết. Nhưng thường thì không thế. Câu trước nẩy sinh ra câu sau, ý này kéo theo ý khác, dồn dập mỗi lúc một nhiều, chẳng khác gì một sinh vật tự nó lớn lên khi có đủ dưỡng chất. Truyện “Tóc Trắng” được hình thành như thế.

Tôi xin nêu thêm mấy chi tiết có liên quan không lấy gì làm chặt chẽ cho lắm. Một hôm đứa cháu gái đi chơi chung cùng xe vui miệng nói rằng cháu có một lần tới vùng này với anh chàng đó. Nay đã tuyệt giao với hắn, nhưng khi qua đây, dù không ưa hắn nổi, lòng tự nhiên vẫn bồi hồi. Câu nói đó cứ luẩn quẩn trong tôi, khiến tôi nghĩ lan man đến đủ thứ chuyện. Cả một quá khứ ngổn ngang kéo về. Tôi ghi vội một số sự kiện lẫn tưởng tượng  và hư cấu, chen vào vài ý nghĩ, nhận định, sắp xếp lại đôi chút, và “Tóc Trắng” thành hình.

Đến đây, tôi thử làm một độc giả đọc “Tóc Trắng”, rồi đưa ra vài nhận xét. Độc giả khác có thể đồng ý hay không, hoặc có nhận xét khác.

Người ta sống thường trực trong ám ảnh. Ám ảnh nằm trong tiềm thức, trong vô thức. Nó càng dai dẳng khi chấn động càng to lớn. Trong “Tóc Trắng” đấy là hình ảnh mớ tóc bạc của người vợ xõa lòa xòa trong khoảnh khắc ngắn trên mặt nước rồi chìm sâu. Ngoài ra, vì đây là một truyện ngắn khá dài, có thể xem như “truyện vừa”, nên có mấy chủ đề phụ:

– Sự khác biệt của nếp sống trước và sau khi Miền Nam thất thủ, và tiếp theo là đời sống lưu vong.

– Hai nhân vật nam có quan hệ với một nhân vật nữ. Một người mang nặng hành trang của quá khứ — khốn đốn, khắc khổ, chán chường; người kia hầu như đã nhâp vào dòng chính của cuộc đời mới – thực tế, tự tin, tự mãn.

– Và những con đường. Con đường êm đềm của quê hương cũ đầy thương yêu, con đường vong thân mới đầy cạm bẫy, và con đường lưu vong hoang mang vô xứ.

Về tùy bút.

Như tên gọi của nó, tùy bút, theo tôi, không lệ thuộc vào một khuôn khổ nhất định nào, một phong cách nào, mà chỉ như dòng cảm xúc hoặc ý thức, tuôn chảy tràn bờ. Trong truyện dài và khá nhiều truyện ngắn của tôi, đều có sự hiện diện của những đoạn tùy bút. Ngoài ra, tùy bút thường chạm đến ngôn ngữ thơ.

Chẳng hạn truyện ngắn “Đà Lạt”, trong một cảm xúc bất ngờ, có đoạn tùy bút gần gũi với ngôn ngữ thi ca: “Mười năm về trước, tôi nhỏ xíu và thành phố cũng nhỏ như tôi. Nay đã có một số biến chuyển không thể ngờ tới cho cả hai, Đà Lạt và tôi. Đà Lạt đang lớn lên từng bước, đang trở thành một thiếu nữ khuê các vừa qua cơn đau nhẹ. Đó là thành phố ít bị tàn phá nhất trong chiến tranh tuy dăm ba vết thương cũ vẫn còn lưu lại. Đẹp quá, thanh tân quá, trong trẻo quá.  Nước da còn hơi tái xanh, khuôn mặt hơi gầy chưa kịp phấn son, đôi mắt hơi lơ đãng còn vương chút mệt mỏi, còn đọng chút đau đớn, mái tóc mượt như tơ còn lẫn dăm sợi rối buông uể oải xuống vầng trán phảng phất chút sầu muộn.”

 Anh là một trong những nhà văn viết “dài hơi” nhất ở hải ngoại. Mong anh chia sẻ những biến chuyển của anh theo từng thời kỳ sáng tác?

 Vừa làm việc kiếm sống, vừa viết văn, lại viết trễ, do đó viết có khi vội vã, không đọc lại kỹ. Khi về hưu, có nhiều thì giờ để viết hơn, đọc lại kỹ hơn, viết được nhiều hơn. Nhưng tuổi đời cũng lớn hơn, cho nên có thể không còn giữ được sức sống tươi trẻ như xưa.

Khi mới viết, câu nào, chi tiết nào, ý nào, cũng muốn ôm đồm giữ lại. Do đó dài dòng, luộm thuộm. Về sau, biết gạt bỏ những gì không cần thiết.

Giai đoạn đầu để ý nhiều hơn vào cảm xúc. Về sau, vấn đề ý thức được chú trọng; câu hỏi, tra vấn được đặt ra.    

Anh là giáo sư Anh Văn ở trường Cao Đẳng Sư Phạm Sài Gòn ngày trước. Có những cộng tác viên của Da Màu từng là sinh viên của anh. Nghề nghiệp giáo chức có ảnh hưởng đến nội dung và đề tài sáng tác của anh?

Đây không phải là vấn nạn lớn đối với tôi. Tôi viết trễ khi đã hết dạy học. Nhưng câu hỏi này vẫn khiến tôi suy nghĩ.

Không còn dạy học không có nghĩa hoàn toàn trút bỏ quá khứ làm thầy giáo. Và đã là thầy giáo thì phải chừng mực, dè dặt trong lời ăn, tiếng nói, cách viết, để “làm gương” cho tuổi trẻ noi theo. Nghĩa là có thể bị gò bó, không được viết lách một cách táo bạo, thác loạn, vô luân, phi luân chăng, nếu cần? Vậy để tránh “tai tiếng”, liệu người viết có thể ẩn trốn vào nhân vật hư cấu của hắn, dù ở ngôi thứ nhất, hay thứ hai, hay thứ ba – rằng đấy là suy nghĩ, hành động của nhân vật hư cấu ấy, chứ không phải của hắn. Hoặc ẩn trốn vào những sự kiện mà hắn cho là nó- phải-xẩy-ra-y-như-thế, chứ không có sự can dự của hắn?

Nhưng cũng có ý kiến cho rằng dù được hóa trang như thế nào đi nữa, cái tôi của người viết vẫn biểu lộ không ít thì nhiều nơi những nhân vật đó, nơi những sự kiện đó. Chẳng hạn Gustave Flaubert, tác giả tiểu thuyết “Madame Bovary”, cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của ông, của cả nền văn học Pháp thế kỷ 19, và còn ghi dấu đậm nét vào văn học thế giới hiện đại, khi được hỏi Bà Bovary là ai, đã trả lời rằng bà đó là chính tôi (Madame Bovary, c’est moi), mặc dù ông đánh giá thấp tư cách, và ước vọng của nhân vật ấy. Điều đó chứng tỏ rằng Flaubert thừa nhận đã để cho “cái tôi” hiển hiện rất nhiều nơi “nhân vật Bovary”.  

Trong trường hợp của tôi, tôi nghĩ rằng sinh viên của tôi đều đã trưởng thành, đều có suy nghĩ độc lập, hành động độc lập. Do đó tôi viết như thế nào tùy thuộc vào chọn lựa của tôi, không nên lo sợ sẽ nêu một tấm gương dù xấu hay tốt. Hơn nữa dạy học cũng là một nghề như bất cứ nghề nào khác trong nhân quần, xã hội, như thợ điện, thợ mộc, đi cày, hay y sĩ, kỹ sư v.v…Lại có dịp gần gũi với chữ nghĩa, thì cũng có phần nào tiện lợi cho việc viết lách.

Xin cám ơn Da Màu đã phỏng vấn.

Cám ơn nhà văn Ngự Thuyết đã dành thời gian quý báu để chia sẻ những kinh nghiệm và nhận định về chuyện viết, văn chương, đời sống với độc giả Da Màu. Chúc anh những ngày sắp tới luôn vui mạnh và thêm nhiều cảm hứng sáng tạo.