Trang chính » Bàn Tròn: Tôn Giáo & Chính Trị, Dịch Thuật, Giới thiệu tác giả, Kiểm Duyệt Văn Hóa Nghệ Thuật, Nhận Định, Quan Điểm, Sang Việt ngữ Email bài này

Salman Rushdie: bị đâm 15 nhát, cười vẫn cười

♦ Chuyển ngữ: 0 bình luận ♦ 27.11.2025
clip_image002_thumb.jpg

 

Nhà văn bị trù dập nhiều năm trời nói về cái cười, bọn bịp và cái chết

 

clip_image002

(Ảnh: Getty Images)

Ghi chú của người dịch (ND):

Đây là bản dịch thoáng bài “Salman Rushdie: stabbed 15 times but still laughing”. đăng trên The Economist ngày 4/11/2025. Tác giả bài báo phỏng vấn Rushdie nhân dịp cuốn Giờ thứ Mười Một của ông ra mắt ngày 4/11/2025 ở Anh và Mỹ. Salman Rushdie từng bị lãnh tụ tối cao Iran lên án tử hình năm 1989 vì tác phẩm The Satanic Verses [Những Vần Thơ Quỷ] (1988). Năm 2007, ông được Nữ hoàng Anh Elizabeth II phong tước Hiệp sĩ vì những đóng góp cho văn học, và được gọi bằng Sir (Ngài). Bản gốc trên tạp chí Anh gọi ông là “Sir Salman”, bản dịch này xin gọi ông bằng tên không tước cho gần gũi.

Để độc giả có cái nhìn toàn cảnh, xin dẫn ít dòng về tiểu sử Rushdie,

Theo tự điển bách khoa Britannica, Salman Rushdie sinh ngày 19/6/1947 tại Bombay, nay là Mumbai, Ấn Độ. Ông là nhà văn người Anh-Mỹ gốc Ấn, nổi tiếng với những tiểu thuyết ẩn dụ, dùng các nhân vật siêu thực, chất hài hước u tối, văn phong phóng túng và cường điệu để khám phá các vấn đề lịch sử và triết học.

Tiểu thuyết thứ tư của Rushdie,The Satanic Verses, phát hành năm 1988, là bước ngoặt lớn. Một nhân vật được xây dựng theo hình tượng tiên tri Muhammad, cách thể hiện nhân vật cùng bản ghi chép Kinh Qurʾān khiến lãnh đạo cộng đồng Hồi giáo tại Anh gọi sách là phạm thượng.

Cuốn tiểu thuyết bị cấm hoặc phản đối ở nhiều nước. Ngày 5/10/1988, Ấn Độ ra lệnh cấm nhập khẩu sách. Tháng 1/1989, biểu tình phản đối lan sang Pakistan. Ngày 14/2/1989, lãnh tụ tinh thần Iran, Ayatollah Ruhollah Khomeini, lên án và ban hành fatwa (án giáo luật) chống Rushdie, treo thêm giải thưởng cho ai giết được ông. Rushdie phải sống ẩn dật dưới sự bảo vệ của Sở Cảnh sát Scotland Yard.

Sau khi sách ra mắt, hàng loạt vụ ám sát và giết người xảy ra. Hitoshi Igarashi, dịch sách qua tiếng Nhật, bị giết năm 1991. Cùng năm. Ettore Capriolo, dịch giả người Ý, bị đâm nhưng sống sót, William Nygaard, nhà xuất bản sách tại Na Uy, bị bắn năm 1993 nhưng thoát chết.

4/11/2025

clip_image004

Giờ thứ Mười Một (hoặc Giờ Chót) của Salman Rushdie. Nhà xuất bản Random House (Mỹ), 272 trang, giá 29 đô la. Nhà xuất bản Jonathan Cape (Anh), giá 18,99 bảng Anh.

*

Vết sẹo mờ hằn trên má. Tròng kính tối che nơi con mắt phải nay không còn.Vậy mà người đàn ông 78 tuổi ấy, từng bị một kẻ cuồng tín đâm đến 15 nhát, vẫn lạc quan đến lạ thường.

Gần nửa đời, Salman Rushdie sống dưới án tử, kể từ khi một giáo chủ không biết đùa ra lệnh cho tín đồ Hồi giáo rằng họ có bổn phận giết ông, vì ông đã viết cuốn tiểu thuyết bị cho là xúc phạm tiên tri Muhammad. Tuy là nạn nhân của vụ ám sát suýt thành công năm 2022, ông đã qua khỏi đủ lâu để viết một tập truyện ngắn mới, thực sự tỏa sáng về trí tuệ và nghệ thuật, có tên Giờ thứ Mười Một.

Một trong những điều (ít người nhận ra) khiến Rushdie khó chịu khi phải nổi tiếng bất đắc dĩ vì lệnh truy sát kia, là người ta không chú ý đến nét hài hước trong văn ông.

Ngồi trong căn phòng nhỏ ở Cliveden, đồng quê nước Anh, nơi một lễ hội văn học đang được tổ chức, với các vệ sĩ canh chừng nghiêm ngặt phía sau, nhà văn chia sẻ với chúng tôi, báo The Economist, rằng: “Vì cuộc tấn công nhắm vào [cuốn The Satanic Verses] không hề buồn cười, nên người ta cho rằng cuốn sách ấy cũng không thể vui nhộn. Và rồi họ ngừng viết về tôi, như thể văn chương của tôi không hề có chất hài.”

Điểm này quan trọng, bởi hài hước thật ra không phải là chuyện giỡn. Ngoài việc tạo niềm vui, nó còn là vũ khí chống áp bức. “Thiếu hài hước là điểm chung của những kẻ đầu óc hẹp hòi; rất hiếm khi có nhà độc tài biết đùa. Hơn nữa, hài hước còn khiến người ta bực bội hơn bất cứ gì khác, như vừa thấy qua cách nước Mỹ đối xử với các nghệ sĩ hài gần đây.”

Sách mới của ông giễu nhại tinh quái hàng loạt đề tài: những kẻ cuồng tín tôn giáo, các chính khách bịp bợm, và cả cái chết.

Người chơi đàn ở Kahani, truyện châm biếm bén ngót về báo thù và chơi piano, kể về một chị vợ Ấn Độ đang bắt đầu ngờ vực lập trường vô thần của ông chồng. Và sự nghi ngờ của chị đã được chứng minh trước mắt khi ông ngang nhiên bỏ vợ để chạy theo một giáo chủ gian lận. Tay giáo chủ ấy giảng rằng tiền bạc thì “OK hơn cả OK”; và “tiền, sau khi đã được tôn vinh là thiêng liêng, cứ thế ào ạt đổ vào tài khoản của hắn.”

*

Ông dí dỏm với cả vụ mình bị đâm. Đời Rushdie bị trù dập bởi những kẻ theo tư tưởng Phản Khai sáng, thù địch với tự do và lý trí, cho rằng văn chương xúc phạm tín điều phải bị trừng phạt bằng gươm đao sắt thép. Ông nói ông chưa từng thấy con dao đâm mình mù mắt phải, mãi đến năm nay, khi phiên tòa xử tay sát thủ đưa con dao ra làm vật chứng. Ông đùa: “Lúc vụ tấn công diễn ra, vì bận bị con dao tấn công, tôi không để ý đến con dao dài ngắn cong thẳng ra sao.”

Ở tòa, điều khiến ông chú ý về thủ phạm, một người Mỹ gốc Li-băng tên Hadi Matar, là mức độ mà “cậu ta bình thản với mọi sự”. Ở tuổi 24, chưa tiền án, Matar đã cố giết ông, một người xa lạ với cậu ta, đang khi có cả trăm người chứng kiến. Dĩ nhiên, cậu không thể thoát. (Vào tháng 5/2025, cậu bị kết án 25 năm tù.) Vậy mà cậu lại sẵn lòng hủy hoại đời mình, chỉ để dập tắt đời một người khác. Rushdie so vai nhận xét: “Đó là một bí mật.”

Lời giải cho bí mật đó có thể nằm ở sức mạnh của lực phân cực. Với nhiều người ngày nay, lòng trung thành với bộ lạc hay phe phái mình có thể lấn át mọi quan tâm về đạo đức. Chính vì để “bảo vệ” đồng đạo Hồi của mình (trước một cuốn sách không ai bắt họ phải đọc) mà cậu Matar đã ra tay ám sát Rushdie. Rồi “mỗi ngày, khi vào phòng xử án, cậu ta đều hô các khẩu hiệu Palestine … bạn biết đấy, các câu ủng hộ Palestine quen thuộc, như ‘từ sông ra biển’.” [Đối với người Palestine và những người ủng hộ họ, cụm từ “Từ dòng sông ra tới biển” được hiểu rộng rãi là một lời kêu gọi đầy khát vọng về sự chung sống hòa bình cho mọi nhóm dân sinh sống trong khu vực giữa Sông Jordan và Biển Địa Trung Hải, thể hiện mong muốn chấm dứt sự chiếm đóng của Israel để có một Palestine thống nhất, nơi người Palestine được hưởng các quyền dân tộc và sự bình đẳng – BBT Da Màu]

Mà chuyện Matar ủng hộ Palestine thực ra chẳng dính dáng gì đến việc đâm Rushdie 15 nhát, vụ đâm xảy ra trước khi cuộc chiến Gaza nổ ra cả năm trời. Nhưng, có một tay cảnh sát nói riêng với Rushdie, gợi ý rằng: “thực ra, khi vào tù Mỹ, bạn cần một băng bảo kê, nếu không rất dễ ốm đòn. Có thể cậu ta đang cố lọt mắt xanh một băng nào đó, để họ bảo kê trong tù.”

*

Về tự do ngôn luận, Rushdie e rằng nó đang rất “méo mó”. Ông nhắc tới không khí gây sợ hãi ở Ấn Độ [năm 2025, có nhiều vụ cấm sách và vi phạm tự do ngôn luận – ND], và các vụ cấm sách ngớ ngẩn ở một số trường học Mỹ, nhắm vào những tác phẩm như Huckleberry Finn. Các vụ tấn công đó xuất phát từ những nguồn ông gọi là “truyền thống”, tức bảo thủ và độc đoán, vẫn đang “hung hăng” tiếp diễn. Tuy vậy, ông đặc biệt bực bội trước thói chỉ trích gay gắt của phe cấp tiến cánh tả, vì trong khi họ cố phản bác phía bên kia đàn áp, thì việc gay gắt thiếu thiện chí lại “khiến lập trường của chính họ suy yếu”. Ông vung hai tay lên trời tỏ vẻ bất lực khi nói về vụ ám sát Charlie Kirk, một diễn giả cánh hữu, mà một số nhân vật cánh tả chỉ lên án nửa vời. “Không ai nên giết ai cả. Giết người chẳng hay ho gì.”

Về MAGA thì sao? Ông nhìn thấy những điểm tương đồng giữa phong trào MAGA và các giáo phái. Tín đồ của giáo phái và của MAGA giống nhau ở chỗ họ đều tranh nhau chứng tỏ lòng trung thành tuyệt đối với lãnh tụ, và lòng căm ghét thậm tệ đối với kẻ thù của lãnh tụ.

Trong một truyện ngắn tên Oklahoma, ông kể về một “hôn quân”, quy tụ quanh hắn một bầy cận thần nịnh hót, và lớn lối buộc tội đối thủ tội lỗi mà chính hắn đã phạm. Tay vua ấy cũng bóp méo ý nghĩa của ngôn từ: khi y bất chấp đạo lý cưới hai cháu gái, thì từ “loạn luân” bị xóa khỏi tự điển; rồi lần hồi, hắn định nghĩa lại nhiều cụm từ khác, với hắn: “hiếp dâm là tình yêu, gây kinh hoàng là yêu nước, bắt nạt là cai trị tốt.”

Rushdie khẳng định: “Nhà văn là người gìn giữ ngôn từ.” Khi kẻ nắm quyền bóp méo chữ nghĩa để che giấu sự thật hoặc thay đổi luật lệ, thì nhà văn có bổn phận chỉ ra điều đó. (Hãy thử nhìn cách ông Trump giả vờ coi “cuộc chiến chống ma túy”, vốn chỉ là cách nói ẩn dụ, như một cuộc chiến thật, để có cớ tập trung quyền lực, dùng biện pháp mạnh như chính quyền thời chiến.)

Nhà văn cũng có vai trò trong cuộc chiến mà Rushdie gọi là “thế chiến chuyện kể” [world war of stories], tức cuộc chiến giữa những câu chuyện đối nghịch, giữa những phiên bản trái ngược về thực tại. Ông đánh hơi được “thế chiến” không đội trời chung này ở Ukraine, khi Vladimir Putin viết lại lịch sử để biện minh cho việc xâm lược Ukraine, ở Trung Đông, nơi có “hai câu chuyện hoàn toàn đối nghịch về chỉ một mảnh đất nhỏ bé Gaza”, và ở Ấn Độ, nơi những người theo chủ nghĩa dân tộc Ấn giáo khăng khăng họ là nạn nhân của người Hồi giáo, ông nói: “thật kỳ quặc khi một cộng đồng chiếm 85% dân số lại cảm thấy mình là bên bị hại”. Ông nói thêm: “Phe nào cũng cảm thấy câu chuyện của mình đang bị câu chuyện của bên kia nuốt chửng và nghiền nát. Vâng, đúng vậy, chuyện kể có thể là lý do chính đáng khiến bạn mất mạng đấy.”

*

Về cái chết thì sao? Bị ám sát hụt tất nhiên khiến ông nghĩ về cái chết. Khi được hỏi về chuyện già theo tuổi tác. Ông bật cười, nói: “Tôi phản đối già nua!” Cũng trong Oklahoma, ông đặt câu hỏi: Con người nên đối diện với những ngày cuối đời ra sao, nên bình thản hay nên phẫn nộ vì bất mãn? Một nhân vật trong truyện cho rằng cũng có vài kẻ ngu ngốc thấy “bình thản một cách đần độn, và thấy biết ơn những gì mà ‘vẻ đẹp’ và ‘tình yêu’ mang lại.” Nhưng Rushdie đưa ra một câu trả lời lõi đời hơn: “Không nhất thiết phải chọn bình thản hay phẫn nộ. Vì có thể là cả hai. Vì ta có thể thấy rất đỗi bình yên vào thứ Ba, nhưng qua thứ Tư ta lại có thể bất ngờ nổi đóa.”

Trong truyện “Late” (“Muộn”), truyện ma lấy bối cảnh một đại học cổ kính, ngay câu đầu tiên, nhân vật chính bỗng thức dậy và thấy mình đã chết. Suốt hơn 70 trang sau đó, độ dài hoàn hảo cho truyện ngắn, độc giả dần hiểu về đời ông và nhận ra ông là sự pha trộn hư cấu giữa E.M. Forster và Alan Turing, hai học giả lừng danh của King’s College, Cambridge. (Rushdie cũng là cựu sinh viên của trường này, ông nhớ đã từng chơi croquet với nhà văn lớn tuổi Forster trong khu vườn trường, nhưng ông chưa từng gặp Turing, nhà toán học và người giải mã kiệt xuất.)(1)

Qua ngòi bút tác giả, cách xã hội đối xử tàn nhẫn với nhân vật chính, chỉ vì ông đồng tính, vừa gây sốc vừa khiến người đọc xúc động. Tuy nhiên, câu chuyện vẫn mở ra hy vọng. Hy vọng vì thành kiến hoặc cuồng tín vẫn có thể được vượt qua. Và văn học có thể góp phần giải cuồng, bằng cách giúp người đọc thấy sự bất công có thể quật ngã con người ra sao. Theo Rushdie: “Nghệ thuật có thể giúp nhìn lại thực tại, đọc lại thế giới.”

__

(1) E.M. Forster (1879-1970): Tác giả nhiều tác phẩm lừng danh, sau được chuyển thể thành phim, như A Room with a View (1908), Howards End (1910), A Passage to India (1924), Maurice (1971)… Alan Turing (1912-1954): Nhà toán học và logic học người Anh, đóng góp nhiều cho toán học, giải mã, logic, triết học và các lĩnh vực mới sau được đặt tên là khoa học máy tính, trí tuệ nhân tạo. (ND)

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)