- Tạp Chí Da Màu – Văn chương không biên giới - https://damau.org -

KHÚC CẦU HỒN CHO MỘT TRẠI TỊ NẠN

Mosab Abu Toha là nhà văn, nhà thơ, học giả và quản thủ thư viện người Palestine từng sống ở dải Gaza. Ông được trao giải Putlizer 2025 về bình luận qua loạt bài về cuộc chiến ở Gaza trong tạp chí The New Yorker. Bài tiểu luận dưới đây, A Requiem for a Refugee Camp, được đăng tải trên The New Yorker vào tháng 12, 2024.
_____________________________________________________________________

Tháng Mười, 2023, tôi không thể nào tưởng tượng có gì còn tồi tệ hơn cảnh tàn phá ở trại tị nạn Jabalia. Vậy mà chuyện đang xảy ra còn vượt quá những gì tôi đã chứng kiến ở đó.

Mỗi lần nghe đến chữ mukhayyam trong tiếng Á-rập, có nghĩa là “trại”, tôi lại nghĩ đến trại tị nạn Jabalia ở phía bắc Gaza. Tôi sinh ra trong trại tị nạn Al-Shati, cách đó vài dặm, còn Jabalia là nơi ông bà ngoại tôi ra đời, lớn lên và sinh mẹ tôi ở đó. Đây là ngôi trại lớn nhất trong các trại tị nạn ở ở Gaza, là nơi cư trú của cả trăm ngàn người, và theo năm tháng, những chỗ trú ngụ tạm bợ trong trại đã trở thành các căn nhà gạch, lớn dần ra khi các gia đình xây thêm chỗ ở. Tôi cắp sách đến trường ở Jabalia từ lớp Năm đến lớp Chín. Mỗi thứ Sáu, tôi thường đi mua sắm với mẹ tôi, rồi sau này cùng đi với vợ mình.

Khi còn là một cậu bé, tôi được chứng kiến một con đường trong trại đã trở thành một quán nước dã chiến. Những buổi chiều mùa hè, có người mang một chiếc ghế ra ngoài để tránh cái nóng ẩm ướt trong nhà. Một người hàng xóm khác nhập cuộc. Chẳng bao lâu, cả chục người bắt đầu chuyện trò với nhau ngoài đường về công việc, về đá banh, thực phẩm, chuyện vượt biên giới hay chuyện gia đình. Người nào cũng nói như thể mình là nhà phân tích thời cuộc, nhà bình luận thể thao hay nhà phê bình ẩm thực. Bọn trẻ ngồi xổm trên những miếng cạc-tông cắt từ thùng giấy ra, chăm chú lắng nghe.

Ông bà ngoại tôi ở trên đường Hawaja, từ đó đi bộ về nhà chúng tôi ở đường Beit Lahia chỉ độ hai mươi lăm phút. Trên đường qua nhà ông bà ngoại chơi, lúc nào chúng tôi cũng đi ngang qua một cái thùng rác to đến độ mọi người gọi nó là “chiếc tàu thuỷ”. Nhà ông bà ngoại có hai phòng ngủ, một phòng khách và một phòng để đồ đạc, trong đó có một bao bột mì và một tấm nệm để dành cho những người khách như tôi chẳng hạn. Nhà bếp nhỏ hơn hai phòng ngủ, không có bàn ăn, nên chúng tôi thường ngồi ăn trên nền nhà trong phòng khách, tiếng lao xao nói cười của người qua lại bên ngoài át hẳn tiếng nhai chóp chép của chúng tôi.

Trong trại Jabalia, hầu như tất cả các bức tường đều bị viết hay vẽ bằng sơn lên đó. Tôi nhớ mình đã đọc thấy những câu giễu cợt, tin nhắn, số điện thoại của các hãng cung cấp khí đốt, tên của những người chết trong các đợt tấn công của Do Thái. Có lần, tôi đọc được một câu khôi hài đen: “Xóm rao bán”. Mỗi khi có một trận đá banh lớn, các con đường và cửa tiệm đều vắng ngắt. Còn quán nước nào có ti-vi cũng đầy người Palestine đủ mọi lứa tuổi. Người nào không xem cũng có thể biết khi nào một trái banh lọt lưới vì tiếng reo hò vang dội làm rung chuyển các cánh cửa lớn nhỏ. Điều độc đáo về cuộc sống trong trại là chúng tôi luôn tự tạo ra những lý do để ăn mừng, cho dẫu không được lâu dài là mấy.

Sau ngày 7 tháng Mười, 2023, cả nhà tôi phải trốn chạy những đợt công kích của Do Thái ở Beit Lahia, đến tá túc trong căn chung cư của một người bà con trong trại Jabalia. Chúng tôi cảm thấy ai cũng là người tị nạn như nhau, nhưng khu trại này vẫn sinh động như ngày nào. Ngày 28 tháng Mười, đang ngồi ngoài đường, tôi nghe một thằng bé kể với đứa bạn là đội Real Madrid vừa hạ đội Barcelona 2-1. Tôi đoán hai thằng bé học lớp Bảy. Cùng ngày đó, một trận không kích đã tiêu huỷ căn nhà chúng tôi bỏ lại sau lưng

*

Do Thái công kích trại Jabalia, biến các dãy nhà thành một đống đổ nát. Ảnh chụp vào tháng Hai, 2024 – Mahmoud Essa/AP

Do Thái cũng tấn công khu trại này. Chiều ngày 31 tháng Mười, chúng tôi nghe nhiều tiếng nổ lớn. Tiếp đó là tiếng ba tôi hét lớn, bảo chúng tôi phải tản ra qua dãy nhà đối diện. Khi lũ con tôi đã thôi gào khóc, tôi bước ra ngoài đường, thấy hai người đàn ông đang khiêng một cái xác không đầu. Tôi dùng điện thoại của mình để quay lại cảnh một nhân viên cấp cứu đang làm hô hấp nhân tạo cho một đứa con gái một cách tuyệt vọng. Một đứa khác vừa khóc vừa nói “Con mắt của tôi! Con mắt  của tôi!” Đoạn tôi thấy một cảnh tượng kinh hoàng—một vùng rộng lớn ít nhất là 27 ngàn dặm vuông đã trở thành bình địa, khói lửa ngùn ngụt. Từ trước tới giờ tôi chưa hề chứng kiến sự huỷ diệt nào tận cùng đến thế. Lúc trở về nhà, tôi bảo mọi người: “Không thể có một sự huỷ diệt nào hơn như vậy!” Tôi không làm sao tưởng tượng ra nổi một tình cảnh nào tồi tệ hơn thế nữa.

Vậy mà những gì đang xảy ra ở Jabalia ngay lúc này còn vượt quá cảnh tượng lúc trước. Các dãy nhà đã bị trúng bom đang bị dội bom thêm lần nữa. Như thể các lực lượng Do Thái đang trả thù chính ngôi trại này bằng cách xoá bỏ nó đi. Trong nhiều tấm ảnh, ngôi trại trông chẳng khác gì một bãi rác khổng lồ. Không có một bóng người nào trong đó.

Mới đây, tôi lướt qua trang nhà Telegram bằng tiếng Do Thái, giới thiệu các bài đăng của họ là “cập nhật tình hình an ninh”. Trong một đoạn phim, máy quay quét một vòng bao quát, cho thấy toàn cảnh nhiều khối bê-tông nứt toát và những dãy nhà đổ nát. Một giọng bằng tiếng Do Thái nhắc đến tên “Jabalia”. Những kiến trúc còn sót lại trông không có vẻ gì còn cư ngụ trong đó được nữa.

Một đoạn phim khác, chắc là quay từ drone xuống, cho thấy một đống hoang tàn đổ nát. Một tiếng nổ làm rung lắc máy quay phim, và hai khối nhà chỉ còn trơ lại những khung sườn—những gì duy nhất còn thấy được trong dãy này—đang sụp xuống, bụi khói bốc lên mù mịt, toả thành một cái nấm khổng lồ. Trên truyền thông đại chúng, có người nào đó đã chụp lại những cảnh này rồi chú thích tên từng nơi bằng tiếng Á-rập. Tôi biết rất rõ khu này. Tôi thấy được vị trí của Maysara, một cửa tiệm bán đồ điện tử, nơi tôi thường đem máy móc đến sửa. Chính giữa bức ảnh là con đường Hawaja, nơi ông bà ngoại tôi đã từng sống.

Từ lâu, tôi vẫn thường thắc mắc về những gì ông bà nội tôi, Hasan và Khadra, đã trải qua trong năm 1948, khi lực lượng dân quân theo chủ nghĩa Phục Quốc Do Thái đuổi ông bà ra khỏi căn nhà của họ ở Jaffa. Sau khi qua trại tị nạn Al-Shati mới thành hình ven bờ Địa Trung Hải, chẳng biết ông bà có giữ nguyên hành trang, sẵn sàng cho ngày trở lại chốn cũ hay không. Ông bà đã phải mất bao nhiều tuần, bao nhiêu tháng, bao nhiêu năm mới chịu lấy hết đồ đạc ra và hiểu rằng Al-Shati bây giờ đã là nhà của mình? Ba tôi, anh em của ông, và hầu hết các anh em của tôi, đều sinh ra ở trại này. Mấy chục năm sau, khi ông bà nội qua đời, ông bà được chôn cất ở một nghĩa trang cách đó không xa.

Tôi đã biết được gì nếu như ông bà nội tôi đã có thể quay lại những sự việc xảy đến cho căn nhà của họ ở Jaffa? Giả như ông bà có được những đoạn phim về cuộc hành trình đến Gaza và thời gian đầu tiên trong cuộc sống của họ trong trại tị nạn? Nếu người Palestine đã có thể trực tiếp truyền đi những hình ảnh ban đầu của thảm hoạ mà ngày nay chúng ta vẫn còn sống trong đó thì chuyện gì có thể đã được ngăn ngừa? Căn nhà của ông bà và cây dâu tằm sau vườn đã ra sao? Những câu hỏi đó, tôi không có lời giải đáp. Nhưng đến năm 2024, tôi bắt đầu hiểu ông bà nội của mình nhiều hơn.

Cách đây vài năm, 70% người Gaza là dân tị nạn. Năm 2024, Liên Hiệp Quốc tường trình rằng 90% dân Gaza bị mất nhà tan cửa. Tất cả các trường đại học ở Gaza đã thành tro bụi. Khoảng 95% trường học bị hư hại hoặc tàn phá. Người ta ghi lại hình ảnh toàn bộ các khu xóm đang nổ tung, tan tành. Căn nhà của một trong các dì của tôi ở, vòng ngoài của trại Jabalia, bị trung một quả đạn không kích, giết chết 16 người trong họ hàng, trong đó có một người con gái của dì. Em gái của bà ngoại tôi, Um Hani—tôi gọi là sitti, cũng có nghĩa là bà ngoại—đã chết trong vụ đó. Xác của bà vẫn còn kẹt trong đám đất đá đổ nát.

Gia đình bên vợ tôi đã đến ở trong một sân vận động túc cầu ở Gaza City, nơi đó họ sống trong những cái lều, thiếu thốn áo quần và chăn mền trong cái giá rét của mùa đông. Ba tôi và vài người anh em của ông thì ở phía bắc Gaza. Mẹ tôi ở Qatar với một trong những chị em gái của tôi, lúc này đang bệnh. Vợ chồng con cái nhà tôi rời Gaza vào tháng Mười Hai, 2023, và bây giờ đang cách xa gần 6.000 dặm, ở Syracuse, New York. Chúng tôi đã phải trốn chạy khỏi các trại tị nạn để tìm nơi tị nạn khác, và như thế, chúng tôi đã bị dời chỗ ở hai lần, kể từ nơi ông bà tôi đã sống. Hơn một năm sau ngày 7 tháng Mười, hầu như chẳng còn gia đình nào còn ở Jabalia. Chẳng còn con đường nào để tụ tập lại hay còn cái ghế nào để ngồi nữa.

Trong năm 2023, với chung quanh đầy dẫy những cảnh kinh hoàng, người ta cũng còn sống lây lất được trong khu Jabalia hoang tàn, Gaza vẫn còn vườn trẻ, đại học, bệnh xá, dẫu những nơi đó cũng dần dà trở thành nơi trú ẩn và thường xuyên bị pháo kích. Niềm hy vọng được trở lại với một cuộc sống tạm gọi là bình thường chưa bao giờ tan biến, sau một cuộc ngưng bắn mà ai cũng mong đợi. Chúng tôi cứ bảo nhau, “Rồi mọi sự sẽ qua đi.” Chín năm trước đó, tôi vẫn không hề quên được trận không kích đã san bằng căn nhà của người hàng xóm, làm sụp vách các phòng ngủ bên nhà chúng tôi. Mùa đông lạnh lẽo năm đó, chúng tôi đã phải sống trong căn nhà loang lổ, rồi dần dần xây lại những bức tường mới.

Giờ đây, tôi chẳng còn mấy hy vọng. Tôi không còn hy vọng sẽ được trở lại một cuộc sống bình thường, hay về những nơi còn nguyên vẹn như thuở trước. Điều quan trọng nhất là những người thân thương nhất của tôi hãy còn sống sót để tôi có thể gặp lại họ.

Vào sáng ngày 19 tháng Mười Hai, tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền, tiếp theo tổ chức Ân Xá Quốc Tế, đã đúc kết qua một bài tường trình chi tiết rằng Do Thái đang phạm tội diệt chủng ở Gaza. Cùng ngày, tôi tìm xem một số ảnh mới chụp Jabalia từ vệ tinh trên hai tờ Haarets Guardian. Vào iPad, tôi tìm những chỗ đó trên Google Maps, trong đó vẫn còn những hình ảnh của khu trại lúc còn nguyên vẹn. Trong cả hai bộ ảnh, trước và sau, tôi nhận ra hồ Abu Rashed chứa nước mưa, mà ngày trước tôi vẫn thường đi qua trên đường đến nhà ông bà ngoại. Tôi lần theo những con đường quen thuộc đến chỗ có Câu Lạc Bộ Khamadat Jabalia, nơi tôi thường chơi đá banh với những người làm cùng sở hay bạn bè, từ những cửa sổ mà mọi người vẫn ngồi xem chúng tôi giao đấu. Tôi tìm được cả nghĩa trang Falouja, nơi yên nghỉ của nhiều người cậu và dì của mình.

Trong những tấm ảnh mới chụp, tôi chỉ thấy được các đống gạch đá ngổn ngang bị khói bụi che mờ, chắc là từ những trận dội bom không ngừng nghỉ. Không có không gian xanh, không sân đá banh, không cả những khối nhà và mái ngói đủ màu sắc. Tôi chỉ nhìn ra được mấy con đường và vài bãi đất trống. Tôi cứ ngắm đi ngắm lại mấy tấm ảnh, và hình ảnh của một khu nghĩa trang cứ càng lúc càng rõ mồn một trong đầu tôi.

Một trong các người dì của tôi, dì Iesha, sống trong trại Jabalia, hồi đó dạy tôi học tiếng Anh. Dì ra đời trong căn nhà trên đường Hawaja. Lúc lấy chồng, vốn cũng là người sống cùng trại, dì dọn qua một căn nhà khác ở Jabalia. Dì chỉ chịu rời trại khi không còn lựa chọn nào nữa. Mới đây, tôi có gửi cho dì Iesha một bức điện thư, hỏi dì nhớ gì nhất về Jabalia. “Sống mà thiếu hàng xóm thì buồn lắm,” dì viết. “Rất buồn khi phải sống mà không còn được thấy những dãy nhà trong trại ngày xưa mình có quá nhiều kỷ niệm.”

Tôi hỏi dì nghĩ khu trại sẽ ra sao nếu có ngưng bắn. Dì bảo, “Thật khó mà tưởng tượng được năm đầu tiên sẽ như thế nào, nếu có được như vậy đi nữa…” Khi ngày đó đến, dì viết thêm, dì hy vọng sẽ trở về lại căn nhà nơi dì lớn lên, rồi ra thăm mộ ông ngoại tôi, ông mất năm 2024. Chúng ta sẽ xây dựng lại khu trại, dì bảo, nhưng chắc không làm sao được như ngày trước nữa. Tôi cứ nghĩ đến một câu thơ mà ai cũng cho là của thi sĩ Palestine tên Mahmoud Darwish. Tôi không tìm được nguồn chính của nó, nhưng những lời thơ này gần như đã trở thành một câu ngạn ngữ đối với người Palestine: “Nếu người ta đem các quán nước cũ trở lại, ai sẽ mang về những người bạn ngày xưa?” ♦