Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới » Inrasara: Văn Chương Tan Rã
Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Ngày 30 tháng Tư, Phỏng vấn Email bài này

Inrasara: Văn Chương Tan Rã

0 bình luận ♦ 30.04.2016

Lưu Diệu Vân: Dù muốn dù không, chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng biến cố 30 tháng Tư đã tạo nên những ranh giới vô hình: ranh giới thời gian giữa văn chương trước và sau 1975, cũng như ranh giới không gian trong và ngoài nước. Theo ý riêng của tác giả, biến cố này đã (và đang) đem lại những ràng buộc hay tháo gỡ nào trên nền văn học Việt Nam. Và nếu không có biến cố này, văn phong/đề tài/ý thức trong sáng tác của tác giả sẽ khác với bây giờ không, và nếu có, khác như thế nào?

Cần nhìn nhận sự tan rã kia như là một tín hiệu tốt lành cho văn học

Chắc chắn, khi đề cập chuyện chính trị ảnh hưởng đến văn nghệ ở Việt Nam, chữ “cởi trói” ông Nguyễn Văn Linh sử dụng trong buổi nói chuyện với văn nghệ sĩ (báo Văn nghệ, số 42, 17-10-1987) mang một hàm nghĩa lớn, và rộng.

Hôm nay và từ nay, văn nghệ sĩ được “cởi,” nghĩa là trước đó họ từng bị “trói,” và chấp nhận để trói. Trói vào định hướng, vào cơ chế khống chế và điều khiển văn nghệ, trói nhà văn vào chức năng “dùng cán bút làm đòn xoay chế độ” (Sóng Hồng), trói vào nhiêm vụ nghệ sĩ-chiến sĩ kêu đòi “giết, giết nữa”. Vô hình trung, Việt Nam tự khai báo với thế giới rằng nhà văn ta chưa hề được tự do. Thế nên câu thơ: “Ồ thích thật bài thơ miền Bắc/ Rất tự do nên tươi nhạc tươi vần” trở nên lố bịch.

Bạn hỏi: Biến cố 30 tháng Tư đã “tháo” và “buộc” văn học thế nào?

Biến cố 30 tháng Tư tạo ra bao nhiêu là ranh giới, ranh giới phân hóa con người Việt Nam và văn học Việt Nam làm nhiều mảnh. Ở đây tạm hạn định khu vực biến cố đó “tháo/buộc” nhà văn và văn học.

Người ta có thể giả định, nếu không có ngày 30 tháng Tư, văn học Việt Nam sẽ thế nào? Hay khi có, nhưng “ngụy quân, ngụy quyền” trong đó có văn nghệ sĩ miền Nam không bị buộc “đi học tập cải tạo,” văn học Việt Nam sẽ ra sao? Hoặc, một giả tưởng khác: nếu “bên thắng cuộc” là người miền Nam?

Chắc chắn văn học Việt Nam sẽ khác, rất khác.

Dẫu sao biến cố 30 tháng Tư đã xảy ra. Văn học người Việt phân hóa, trong đó hai mảnh to nhất: văn học trong nước và văn học người Việt hải ngoại; riêng trong nước bị phân làm hai mảnh nhỏ khác: Bắc và Nam.

Trong nước, nhà văn được “tháo” để không buộc phải kêu gào đòi giết chóc nữa, nhưng rồi bị “buộc” vào tâm [và khí] thế của kẻ thắng trận: văn chương vỡ òa với “niềm vui đại thắng” trong “ngày vĩ đại,” từ đó hàng loạt sáng tác trường ca mang tính “sử thi” cấp tập xuất hiện.

Ở phần khác, bên cạnh sáng tác truyền miệng “giễu nhại” người mới đến cùng nền văn hóa với thái độ kệch cỡm của nó (ví dụ: "Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý. Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do"), là thứ văn chương vỡ mộng “thiên đường xã hội chủ nghĩa” cũng rải rác xuất hiện, trong đó trường hợp Dương Thu Hương là rất điển hình.

Ngoài nước, dòng văn học vượt biên ra đời; sau đó là văn chương của nỗi nhớ và sự nuối tiếc một thời oanh liệt.

Đó là câu chuyện 10 năm sau “giải phóng.”

Sau đó, biến cố 30 tháng Tư để lại bao nhiêu hệ quả [lụy] của nó.

Đổi mới (1986), nhà văn biết nhìn lại cuộc chiến đã qua với thái độ bình tâm và công bằng hơn, nhất là – nhân văn hơn. Ngoài kia: Tháng Ba gãy súng (Cao Xuân Huy), còn trong này – mức độ nào đó: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Bến không chồng (Dương Hướng).

Lúc này, văn học hải ngoại phát triển mạnh mẽ, đa dạng hơn với những Hợp Lưu, Thơ, Việt… sau đó là Tienve.org, Damau.org, Talawas.org… Các cách tân văn học tiền vệ kia đã tạo ảnh hưởng không nhỏ đến người viết ở quốc nội.

Trong nước, nhà văn được “cởi”, nhưng lại tự “trói” bằng hành vi tự kiểm duyệt. “Hậu đổi mới là thời hoàng kim của tự kiểm duyệt” – Phạm Thị Hoài khẳng định thế. Không sai! “Nhà văn Việt Nam tự do viết gì thì viết” (Nguyễn Thanh Sơn), ngoài trừ chính trị. Cách tân các loại đa phần chỉ là những múa may chữ nghĩa. Không gì hơn, không gì khác.

Ở phía khác, như phản ứng lại với thái độ hậu -“phải đạo” của đồng nghiệp chính thống, văn chương phản kháng ra đời, ở đó hậu hiện đại đóng vai trò tiên phong. Tiên phong từ sáng tạo, cho đến in ấn và phát hành. Tôi muốn nói đến việc các nhà văn miền Nam lập nhà xuất bản ngoài luồng in photocopy tác phẩm mình cùng bạn văn đồng chí hướng.

Cuối cùng, Văn đoàn Độc lập ra đời, như là hệ quả tất nhiên của biến cố 30 tháng 4. Không thể khác.

Đến nay, văn học tiếng Việt không còn phân hóa nữa, mà là tan rã – tan rã toàn diện (xem “Văn chương tan rã”: http://inrasara.com/2015/11/03/inrasara-van-chuong-tan-ra/). Có cần nhìn nhận sự tan rã kia như là một tín hiệu tốt lành cho văn học?

bài đã đăng của Inrasara


Bài này không có phần bình luận.

@2006-2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)