<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Giữa Người Viết &amp; Người Đọc</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/category/tiengdoi/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Thu, 09 Feb 2012 14:52:09 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.2.1</generator>
		<item>
		<title>Ng&#244; Hương Giang, h&#224;nh động đạo văn &amp; những phản ứng kỳ lạ</title>
		<link>http://damau.org/archives/10862</link>
		<comments>http://damau.org/archives/10862#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 11 Feb 2010 08:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Hoàng Ngọc-Tuấn</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giữa Người Viết & Người Đọc]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/10862</guid>
		<description><![CDATA[Bài “Bàn thêm về cái gọi là ‘đạo văn” của Nguyễn Hưng Quốc” trên Da Màu ngày 10/02/2010 là một trong một loạt những phản ứng kỳ lạ của Ngô Hương Giang, kẻ đã đạo văn của Nguyễn Hưng Quốc.
Đầu đuôi câu chuyện như sau:
Ngày 4/1/2010,...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><i>&#160;</i></p>
<p><em>&#160;</em></p>
<p><em>&#160;</em></p>
<p>Bài <a href="http://damau.org/archives/10850">“Bàn thêm về cái gọi là ‘đạo văn” của Nguyễn Hưng Quốc”</a> trên <i>Da Màu</i> ngày 10/02/2010 là một trong một loạt những phản ứng kỳ lạ của Ngô Hương Giang, kẻ đã đạo văn của Nguyễn Hưng Quốc.</p>
<p>Đầu đuôi câu chuyện như sau:</p>
<p>Ngày 4/1/2010, nhà thơ Nguyễn Lãm Thắng từ Huế chuyển sang Úc cho tôi một email có đính kèm 5 bài tiểu luận của sinh viên Ngô Hương Giang.</p>
<p>Ngày 5/1/2010, tôi giở ra đọc bài “Bàn về khái niệm huyền thoại trong văn học” của Ngô Hương Giang. Vừa đọc đoạn đầu tiên, tôi lập tức có cảm giác rằng Ngô Hương Giang đã đạo văn của Nguyễn Hưng Quốc. Tôi đọc tiếp và nhận ra rằng Ngô Hương Giang đã chép nguyên văn một đoạn rất dài khác từ một bài tiểu luận của Nguyễn Hưng Quốc.</p>
<p>Tôi lập tức chuyển bài viết ấy của Ngô Hương Giang cho Nguyễn Hưng Quốc xem lại.</p>
<p>Ngày 6/1/2010, Nguyễn Hưng Quốc gửi email xác nhận với tôi rằng đúng là Ngô Hương Giang đã chép y nguyên nhiều câu và đoạn trong bài <a href="http://tienve.org/home/activities/viewTopics.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=7875">“Chủ nghĩa hậu hiện đại và những cái (cần) chết trong văn học Việt Nam”</a>.</p>
<p>Nhận được email của Nguyễn Hưng Quốc, tôi giở bài của Ngô Hương Giang ra so sánh với bài của Nguyễn Hưng Quốc. Tôi tô màu vàng những đoạn giống nhau và gửi lại cho Nguyễn Lãm Thắng, cùng với lá thư sau đây:</p>
<p>+++++++++++++++++++++++++++++++<b></b></p>
<p>Nguyễn Lãm Thắng thân,    <br />Khi em chuyển cho anh 5 bài tiểu luận của sinh viên Ngô Hương Giang, anh rất vui vì thấy giới trẻ đã có người chịu khó đi vào lĩnh vực nghiên cứu lý thuyết văn học đương đại.     <br />Nhưng đang vui, thì&#8230; rất tá hoả, vì ngay ở bài đầu tiên, “Bàn thêm về khái niệm huyền thoại trong văn học”, sinh viên Ngô Hương Giang đã chép nguyên văn nhiều đoạn từ bài tiểu luận “Chủ nghĩa hậu hiện đại và những cái (cần) chết trong văn học Việt Nam” của tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc.     <br />Ngay cả việc trích lại những trích dẫn từ một tiểu luận của người khác, thì sinh viên Ngô Hương Giang cũng phải ghi rõ xuất xứ của sự trích lại ấy.     <br />Đằng này, sinh viên Ngô Hương Giang đã chép nguyên văn những lời dẫn giải và tư kiến của TS Nguyễn Hưng Quốc, rồi cố tình ghi xuất xứ khác để che lấp sự đạo văn, làm ra vẻ đó chính là công trình nghiên cứu, tư duy và diễn giải của mình. Hành vi này vi phạm đạo đức nghiên cứu khoa học (academic misconduct) một cách trầm trọng. Ở nước ngoài, một sinh viên có hành vi này nhất định phải bị đuổi học và không được theo học ở bất cứ trường đại học nào trong thời gian ít nhất là 3 năm.     <br />Anh đính kèm theo đây bài “Bàn thêm về khái niệm huyền thoại trong văn học” của sinh viên Ngô Hương Giang, trong đó có ghi rõ những đoạn đạo văn đã bị phát hiện.     <br />Điều đáng kinh ngạc là sinh viên Ngô Hương Giang đã đạo văn từ Tiền Vệ rồi bạo phổi gửi ngược cái công trình đạo văn ấy cho Tiền Vệ!!!     <br />Trong email gửi cho Nguyễn Lãm Thắng, sinh viên Ngô Hương Giang viết: <i>“Thay oi, em thuong doc bai cua cac nha nghien cuu tren trang tien ve. Day la trang (theo em) co su nhay ben voi tinh hinh ly luan moi, em rat muon thu suc viet cua minh tren trang nay&#8230;” </i>    <br />Sinh viên Ngô Hương Giang vừa đạo văn từ Tiền Vệ, lại vừa làm ra vẻ cao đạo, khen Tiền Vệ là trang “có sự nhạy bén với tình hình lý luận mới”!     <br />Hành vi này khiến anh không thể tin tưởng những gì còn lại trong bài tiểu luận này và những bài khác của sinh viên Ngô Hương Giang là không đạo văn từ những nơi khác.     <br />May thay, những bài này của sinh viên Ngô Hương Giang chưa in thành sách! Nếu đã in thành sách, thì đúng là tai hoạ tày trời cho “tác giả” Ngô Hương Giang. Và dù chưa in thành sách, những bài này nếu được sử dụng trong phạm vi trường đại học thì quả là bằng chứng thảm hại của nền giáo dục và trí thức Việt Nam vậy.     <br />Sinh viên Ngô Hương Giang còn trẻ. Nghĩa là còn thì giờ để uốn nắn. Vậy em hãy khuyên bảo sinh viên Ngô Hương Giang tự suy xét lại và dũng cảm sửa đổi để còn có cơ may trở thành một nhà nghiên cứu, hay một nhà giáo khả tín trong tương lai.     <br />Vài hàng trao đổi và chia buồn cùng em.     <br />Thân,     <br />HN-Tuấn     <br />PS: Xem bài đính kèm [attached].</p>
<p>+++++++++++++++++++++++++++++++<b></b></p>
<p>Ngày 8/1/2010, tôi nhận được một email từ Ngô Hương Giang. Kèm theo bức email đó là bức email Ngô Hương Giang gửi cho Nguyễn Lãm Thắng rồi forward lại cho tôi với nội dung rất lạ lùng, kết án tôi là “mặc cảm đối với đất nước”, “kỳ thị dân tộc” và “thực dân luận”!</p>
<p>Đọc xong bức email ấy, tôi gửi bức email dưới đây chung cho Nguyễn Lãm Thắng và Ngô Hương Giang:</p>
<p>+++++++++++++++++++++++++++++++<b></b></p>
<p>Thân gửi Nguyễn Lãm Thắng,</p>
<p>Ngô Hương Giang vừa chuyển cho anh bức email mà sinh viên ấy đã gửi cho em.</p>
<p>Ngô Hương Giang cũng gửi thêm cho anh một email, nguyên văn như sau:</p>
<p><i>Nhung trich dan cua chau trong bai viet la tu van ban goc cua Derrida (da co trich dan nguon TLTK phia duoi). Viec chau co hoi huong giong tac gia Nguyen Hung Quoc, mot la “vo thuc sang tao”, hai la “ cung tham khao mot tai lieu”</i></p>
<p><i>Mong duoc noi chuyen voi chu nhieu, chuc chu mot nam moi anh khanh- hanh phuc</i></p>
<p>===============================<b></b></p>
<p>Có mấy vấn đề mà anh muốn nêu ra ở đây.</p>
<p><b>1/ Ngô Hương Giang nói rằng Ngô Hương Giang đã trích dẫn từ văn bản gốc của Derrida:</b></p>
<p>Điều này <b>tuyệt đối không thành thật</b>, vì những câu trong bài của Ngô Hương Giang <b>hoàn toàn giống</b> <b>với Nguyễn Hưng Quốc</b>, và những câu đó lại <b><u>không phải là văn bản của Derrida</u></b>, mà <b>CHÍNH LÀ VĂN BẢN CỦA NGUYỄN HƯNG QUỐC.</b></p>
<p>Để khỏi mất thì giờ, ta hãy đi thẳng vào NHỮNG CÂU GIỐNG NHAU NHƯ ĐÚC.</p>
<p><i>Nguyễn Hưng Quốc viết: </i></p>
<p>Ngày nay, thân thể <span style="background: yellow; mso-highlight: yellow"><b>trở thành một thứ thân thể thậm phồn (hyperbody)</b></span></p>
<p><i>Ngô Hương Giang đạo văn:</i></p>
<p>Con người đang phải đối mặt với sự xâm lấn vô tận của các lớp ký hiệu mang nghĩa và <span style="background: yellow; mso-highlight: yellow"><b>trở thành một thứ thân thể thậm phồn (hyperbody).</b></span></p>
<p><i>Nên nhớ: </i></p>
<p><i>Thuật ngữ <span style="background: yellow; mso-highlight: yellow">“thân thể thậm phồn”</span> là do Nguyễn Hưng Quốc tạo ra để dịch ngữ <span style="background: yellow; mso-highlight: yellow">“hyperbody”</span>. Thuật ngữ <span style="background: yellow; mso-highlight: yellow">“thân thể thậm phồn”</span> chưa từng có trước đây trong ngôn ngữ Việt </i><i>Nam</i><i>. </i></p>
<p>===============================<b></b></p>
<p><i>Nguyễn Hưng Quốc viết: </i></p>
<p><span style="background: yellow; mso-highlight: yellow">mỗi thành phần xã hội có một thương hiệu chung, mỗi nghề nghiệp ít nhiều có một phong cách chung, qua đó, cá nhân bị đánh mất tính chất độc sáng và tính chất tự trị trong thân thể của mình</span></p>
<p><i>Ngô Hương Giang đạo văn, HOÀN TOÀN GIỐNG TỪNG CHỮ: </i></p>
<p><span style="background: yellow; mso-highlight: yellow">Mỗi thành phần xã hội có một thương hiệu chung, mỗi nghề nghiệp ít nhiều có một phong cách chung, qua đó, cá nhân bị đánh mất tính chất độc sáng và tính chất tự trị trong thân thể của mình</span> (J. Baudrillard).</p>
<p><i>Nên nhớ: <b>Câu này là câu văn của Nguyễn Hưng Quốc</b> diễn giải tư tưỏng của Baudrillard, chứ <b>câu này không phải là câu của Baudrillard</b>. <b><u><span style="color: red">Ngô Hương Giang chép nguyên văn Nguyễn Hưng Quốc, rồi làm ra vẻ như tham khảo Baudrillard. </span></u></b>Thực tế, trong thư mục tham khảo dưới bài của Ngô Hương Giang, hoàn toàn không hề có một cuốn sách nào của Baudrillard cả!</i></p>
<p>===============================<b></b></p>
<p><i>Nguyễn Hưng Quốc viết: </i></p>
<p><span style="background: yellow; mso-highlight: yellow">Từ khởi điểm chung ấy, Derrida càng ngày càng đẩy tư tưởng của mình ra xa Saussure. Khác với Saussure, người chủ trương ngôn ngữ và chữ viết (writing) là hai hệ thống ký hiệu khác nhau, ở đó, cái sau hiện hữu chỉ với mục đích để thể hiện cái trước; trong hệ thống ngôn ngữ, <i>ngôn </i>(language/langue), chứ không phải <i>ngữ</i> (speech/parole), mới là đối tượng đích thực của ngôn ngữ học; Derrida cho </span><span style="background: aqua; mso-highlight: aqua">“không có ký hiệu ngôn ngữ nào có trước chữ viết”</span><a href="http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=7875#37">[37]</a></p>
<p><i>Ngô Hương Giang đạo văn, HOÀN TOÀN GIỐNG TỪNG CHỮ, GIỐNG TỪNG DẤU CHẤM, PHẨY, KỂ CẢ NHỮNG CHỮ VIẾT XIÊN: </i></p>
<p><span style="background: yellow; mso-highlight: yellow">Từ khởi điểm chung ấy, Derrida càng ngày càng đẩy tư tưởng của mình ra xa Saussure. Khác với Saussure, người chủ trương ngôn ngữ và chữ viết (writing) là hai hệ thống ký hiệu khác nhau, ở đó, cái sau hiện hữu chỉ với mục đích để thể hiện cái trước; trong hệ thống ngôn ngữ, <i>ngôn </i>(language/langue), chứ không phải <i>ngữ</i> (speech/parole), mới là đối tượng đích thực của ngôn ngữ học; Derrida cho </span><span style="background: silver; mso-highlight: silver"><b>rằng</b>:</span> <span style="background: aqua; mso-highlight: aqua">“không có ký hiệu ngôn ngữ nào có trước chữ viết”</span><a href="http://www.tienve.org/home/activities/viewTopics.do;jsessionid=C5889BAF55F556616A3C67F436FA0468?action=viewArtwork&amp;artworkId=7875">(6)</a><sup></sup></p>
<p><i>Nên nhớ: </i></p>
<p><i>Tất cả những câu tô màu vàng là của Nguyễn Hưng Quốc.</i></p>
<p><i>Chỉ có câu tô màu xanh nằm trong ngoặc kép là của Derrida do Nguyễn Hưng Quốc trích dịch.</i></p>
<p><i>Chỉ có chữ </i><b>rằng</b> <i>là của Ngô Hương Giang!!!</i></p>
<p>===============================<b></b></p>
<p><i>Nguyễn Hưng Quốc viết:</i></p>
<p><span style="background: yellow; mso-highlight: yellow">và chỉ có các văn bản viết (writing) mới là kiểu mẫu để tìm hiểu về cách thức vận hành của ngôn ngữ vì những gì được viết không bị tan biến theo thời gian, do đó, còn giữ trong chúng những quá khứ với những thay đổi về ý nghĩa của chữ, hơn nữa, còn tiếp tục chi phối những văn bản khác sẽ được viết trong tương lai: với Derrida, mọi văn bản, như vậy, đều được sản xuất bằng cách chuyển hoá các văn bản khác </span><a href="http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=7875#38">[38]</a> <span style="background: yellow; mso-highlight: yellow">và đọc một văn bản, cũng vậy, bao giờ cũng hướng đến những văn bản khác.</span><a href="http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=7875#39">[39]</a></p>
<p><i>Ngô Hương Giang đạo văn, HOÀN TOÀN GIỐNG TỪNG CHỮ, GIỐNG TỪNG DẤU CHẤM, PHẨY, TỪNG CHỖ ĐÁNH SỐ CHÚ THÍCH:</i></p>
<p><span style="background: yellow; mso-highlight: yellow">và chỉ có các văn bản viết (writing) mới là kiểu mẫu để tìm hiểu về cách thức vận hành của ngôn ngữ vì những gì được viết không bị tan biến theo thời gian, do đó, còn giữ trong chúng những quá khứ với những thay đổi về ý nghĩa của chữ, hơn nữa, còn tiếp tục chi phối những văn bản khác sẽ được viết trong tương lai: với Derrida, mọi văn bản, như vậy, đều được sản xuất bằng cách chuyển hoá các văn bản khác </span><a href="http://www.tienve.org/home/activities/viewTopics.do;jsessionid=C5889BAF55F556616A3C67F436FA0468?action=viewArtwork&amp;artworkId=7875">(7)</a> <span style="background: yellow; mso-highlight: yellow">và đọc một văn bản, cũng vậy, bao giờ cũng hướng đến những văn bản khác.</span><a href="http://www.tienve.org/home/activities/viewTopics.do;jsessionid=C5889BAF55F556616A3C67F436FA0468?action=viewArtwork&amp;artworkId=7875">(8)</a></p>
<p><i>Nên nhớ:</i></p>
<p><i>Đoạn văn tô màu vàng trên đây là hoàn toàn của Nguyễn Hưng Quốc. Ông ta viết để diễn giải về Derrida. Đây không phải là văn của Derrida.</i></p>
<p><i>Ngô Hương Giang chép nguyên văn Nguyễn Hưng Quốc.</i></p>
<p>===============================<b></b></p>
<p><b>2/ Tôi có đôi điều muốn nói thêm với Ngô Hương Giang:</b></p>
<p><b>- Ngô Hương Giang nói sự giống nhau từng chữ, từng chi tiết chấm phẩy… như thế là do <span style="color: red">“một là, vô thức sáng tạo” “hai là, tham khảo cùng một tài liệu”</span>!</b></p>
<p>Trong thế giới con người, không bao giờ có cái chuyện “vô thức sáng tạo” lạ lùng đến thế! Hai người “tham khảo cùng một tài liệu” cũng không thể nào viết ra những đoạn văn giống nhau đến từng dấu chấm, dấu phẩy như thế!</p>
<p>Thậm chí, có ráng sức học thuộc lòng, cũng khó lòng mà nhớ đúng từng dấu chấm, dấu phẩy như thế.</p>
<p>Lối biện bạch loanh quanh này chứng tỏ Ngô Hương Giang vô cùng bướng bỉnh, không biết phục thiện, và không còn một chút thành thật nào cả.</p>
<p>Tôi tưởng những điều tôi trình bày hôm qua và gửi riêng cho thầy của Ngô Hương Giang, nhờ thầy nói lại với trò, là đã đủ để giúp Ngô Hương Giang giật mình mà tự suy xét và hối cải. Nhưng không ngờ, hôm nay Ngô Hương Giang lại phản ứng như thế này, thì quả là hết hy vọng.</p>
<p><b>- Ngô Hương Giang đã không biết cảm ơn tôi, mà còn phản công lại tôi bằng cách chụp cho tôi cái mũ “thực dân luận” và, tệ hơn nữa, “kỳ thị dân tộc”.</b></p>
<p>Thú thật, tôi có cảm giác rất kinh khủng khi đọc bức email Ngô Hương Giang gửi cho thầy Nguyễn Lãm Thắng (mà Ngô Hương Giang đã chuyển lại cho tôi).</p>
<p>Tôi, với tuổi đời và tuổi học có lẽ còn dài hơn cả thầy của Ngô Hương Giang, tôi xin nói vài lời chân thành cuối cùng, rằng:</p>
<p>Nếu tôi không có lòng đối với giới trẻ có học ở Việt Nam, thì tôi đã không mất công đọc kỹ bài viết của Ngô Hương Giang, phát hiện cái sai lầm to lớn, và thông báo riêng cho thầy của Ngô Hương Giang để thầy nói riêng lại cho trò sửa đổi. Ở cương vị của tôi, thì một người khác có thể chỉ đọc qua, thấy có chất lượng, rồi cho đăng lên báo. Sau đó, nếu có gì xảy ra thì tác giả Ngô Hương Giang sẽ hoàn toàn lãnh đủ. Mà tất nhiên là tác giả sẽ lãnh đủ, vì sớm muộn gì cũng có người phát hiện và tố cáo. Khi đó, tác giả sẽ hoàn toàn mất danh dự trước văn giới và độc giả.</p>
<p>Nhưng tôi thì khác. Tôi không chỉ là một nghệ sĩ, mà tôi còn là một nhà nghiên cứu và một nhà giáo yêu nghề suốt mấy mươi năm. Tôi làm việc bằng lương tâm và tình yêu. Tôi không thể thiếu cẩn trọng. Tôi không thể thiếu ân cần đối với giới trẻ. Tôi cũng không thể thiếu nghiêm khắc đối với giới trẻ. Vì thế, tôi đã đọc rất kỹ và đã bỏ thì giờ để viết thư giải thích cho thầy của Ngô Hương Giang.</p>
<p>Một tên “thực dân” “kỳ thị” đối với “dân tộc” Việt Nam sẽ không bao giờ bỏ công sức ra để làm những điều như tôi đã làm (không chỉ đối với trường hợp của Ngô Hương Giang, mà còn đối với nền văn học và nghệ thuật Việt Nam) trong mấy mươi năm qua.</p>
<p>Nếu Ngô Hương Giang khăng khăng không chịu nhận lỗi lầm, thì tôi đành chịu vậy. Nếu Ngô Hương Giang khăng khăng thấy mình là hoàn toàn đúng đắn, thì Ngô Hương Giang hãy giữ y nguyên bài viết, đem ra công bố, in thành sách, để giúp cho nước nhà nâng cao học thuật, trí thức và đạo đức! Nếu Ngô Hương Giang khăng khăng thấy mình là hoàn toàn lương thiện, thì Ngô Hương Giang hãy giữ nguyên lối sống, lối làm việc, lối ứng xử như vậy, để trở thành một nhà nghiên cứu khả tín, một người thầy khả kính, một công dân đạo đức, đáng làm gương cho hậu thế của tương lai!</p>
<p>Tôi xin hết lời.</p>
<p>Hoàng Ngọc-Tuấn</p>
<p>+++++++++++++++++++++++++++++++<b></b></p>
<p>Sau khi gửi bức email trên cho Nguyễn Lãm Thắng và Ngô Hương Giang, tôi nhận được một email của Nguyễn Lãm Thắng cho biết rằng trước khi gửi bài đạo văn ấy cho Tiền Vệ, Ngô Hương Giang đã lỡ đăng bài ấy ở tập san <i>Văn học trẻ</i> ở Khoa Ngữ văn Đại học Khoa học Huế. Vì đã lỡ đăng như vậy, nên Ngô Hương Giang đã chống chế đến cùng.</p>
<p>Nguyễn Lãm Thắng có hứa sẽ sưu tầm, chụp lại nguyên văn bài “Bàn thêm về khái niệm huyền thoại trong văn học” của Ngô Hương Giang (trong đó có những đoạn đạo văn của Nguyễn Hưng Quốc) và sẽ gửi cho tôi để lưu làm tài liệu.</p>
<p>Từ sau ngày 8/1/2010 đến nay, Ngô Hương Giang đã liên tục gửi những email với nội dung gây hấn đến Nguyễn Hưng Quốc và tôi, nhưng chúng tôi hoàn toàn không trả lời, không còn muốn đối thoại với một kẻ đã đánh mất lòng tự trọng.</p>
<p>Trên đây là đầu đuôi câu chuyện đạo văn và những phản ứng kỳ lạ của Ngô Hương Giang.</p>
<p><b>&#160; <br />Hoàng Ngọc-Tuấn       <br /></b><em>Sydney, 11/2/2010</em></p>
<p><em>&#160;</em></p>
<p><b>Tái bút:</b></p>
<p>1. Trong bài <a href="http://damau.org/archives/10850">“Bàn thêm về cái gọi là ‘đạo văn” của Nguyễn Hưng Quốc”</a> trên <i>Da Màu</i> ngày 10/02/2010, Ngô Hương Giang có nói rằng tôi đã gửi cho Ngô Hương Giang <b>“một bài viết”</b>. Đây là điều bịa đặt hoàn toàn, vì tôi chưa từng gửi cho Ngô Hương Giang bất cứ bài viết nào.</p>
<p>2. Ngày 21/01/2010, bài <a href="http://vanthotre.sfi.vn/?p=741">“Bàn thêm về cái gọi là ‘đạo văn” của Nguyễn Hưng Quốc”</a> của Ngô Hương Giang <a href="http://vanthotre.sfi.vn/?p=741" target="_blank">đã xuất hiện trên báo Văn Thơ Trẻ</a>. Ngày 10/02/2010, nó lại tái xuất hiện trên trang <i>Da Màu</i>. Đây cũng là một chuyện kỳ lạ khác.</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/10862/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>24</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>B&#224;n th&#234;m về c&#225;i gọi l&#224; &quot;đạo văn&quot; của Nguyễn Hưng Quốc</title>
		<link>http://damau.org/archives/10850</link>
		<comments>http://damau.org/archives/10850#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 10 Feb 2010 08:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ngô Hương Giang</dc:creator>
				<category><![CDATA[Giữa Người Viết & Người Đọc]]></category>
		<category><![CDATA[Quan Điểm]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/10850</guid>
		<description><![CDATA[Hiện nay, trong học thuật nói chung, trong văn chương nói riêng đang có sự chồng chéo về khái niệm. Nguyễn Hưng Quốc trong Giáo dục: đạo đức tri thức đã lớn tiếng tuyên bố về cái gọi là "đạo văn" nhưng thực tế, tác giả lại tỏ ra bất lực trước thang bậc quy định thế nào là "đạo văn" và thế nào là "mô phỏng" văn?]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160; </p>
<p>&#160;</p>
<p><b><i></i></b></p>
<p><em><b>(Bài phản hồi về ý kiến của ông Nguyễn Hưng Quốc trong <a href="http://www.tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do;jsessionid=0A1B1022EACEA38C0C40C72744F1F073?action=viewArtwork&amp;artworkId=9784" target="_blank">“Giáo dục: đạo đức tri thức”</a> in trên Tiền Vệ số ra ngày 17/01/2010)</b></em></p>
<p><strong><em>&#160;</em></strong></p>
<p>Hiện nay, trong học thuật nói chung, trong văn chương nói riêng đang có sự chồng chéo về khái niệm. Nguyễn Hưng Quốc trong <i>Giáo dục: đạo đức tri thức</i> đã lớn tiếng tuyên bố về cái gọi là &quot;đạo văn&quot; nhưng thực tế, tác giả lại tỏ ra bất lực trước thang bậc quy định thế nào là &quot;đạo văn&quot; và thế nào là &quot;mô phỏng&quot; văn? Ngay trong lời lẽ của Nguyễn Hưng Quốc đã bộc lộ chính Nguyễn Hưng Quốc &quot;đạo văn&quot; của Hoàng Ngọc-Tuấn. Tôi xin trích nguyên văn sự giống nhau mà Nguyễn Hưng Quốc lấy từ bài viết mà Hoàng Ngọc- Tuấn gửi cho tôi: <i>&quot;Chúng tôi vô cùng kinh ngạc: ăn cắp bài trên Tiền Vệ rồi lại gửi ngay cho Tiền Vệ&quot;</i> (Nguyễn Hưng Quốc-Giáo dục: Đạo đức trí thức) và <i>&quot; đạo văn từ Tiền Vệ rồi bạo phổi gửi ngược cái công trình đạo văn ấy cho Tiền Vệ!!!&quot;</i> (Hoàng Ngọc- Tuấn). Phải chăng, Nguyễn Hưng Quốc cố tỏ ra là mình cao đạo nhưng rồi chính mình lại không bước qua nổi sự cao đạo ấy. Tôi không rõ ở Úc, các ông quan niệm như thế nào là đạo văn nhưng nếu theo đạo luật bản quyền của harvard university thì Nguyễn Hưng Quốc hoàn toàn có thể bị quy vào đạo văn. Vậy thì, xét cái gọi là &quot;đạo văn&quot; phải dựa trên cơ sở quy định của mỗi nước. Nguyễn Hưng Quốc mang cái nhìn học thuật của Úc mà áp đặt cho bất kỳ quốc gia nào cũng thể hiện giới hạn của nhận thức, đấy là chưa nói về Hoàng Ngọc- Tuấn &#8211; đồng nghiệp của ông. Trong bức thư gửi cho tôi, Hoàng Ngọc- Tuấn tỏ rõ quan điểm &quot;thực dân luận &quot; về học thuật, cũng như trí thức Việt Nam: <i>&quot;những bài này nếu được sử dụng trong phạm vi trường đại học thì quả là bằng chứng thảm hại của nền giáo dục và trí thức Việt Nam vậy&quot;</i>( Hoàng Ngọc- Tuấn). Rõ ràng lối phê bình này thiên về hạ bệ nhau hơn là học thuật. Điều đáng nói là, trong phần cuối của bài viết, Nguyễn Hưng Quốc đã lộ rõ cái nhìn miệt thì về tổ quốc: &quot;Tôi nghẹn ngào. Và loé lên ý nghĩ: Phải vượt biên thôi! Không thể sống như thế này mãi được!&quot;. Nếu thấy vượt biên mà quên ngay được nơi mà dòng máu Nguyễn Hưng Quốc đang chảy từng ngày trong huyết quản thì Nguyễn Hưng Quốc cứ làm, cứ hả hê để rồi nhận ra một thực tế, <i>cóc chết ba năm không thể nào quay nổi đầu về núi</i>. Đành rằng, đối thoại là sân chơi của những kiến giải, song, nếu Nguyễn Hưng Quốc đặt ra một vấn đề quan yếu trong học thuật, tôi nghĩ cũng nên xây tường bao để đi đúng chủ đề của hoạt động viết.</p>
<p>Trong <i>Một trường hợp đạo văn?</i> Nguyễn Việt Hoài đã dẫn ra một đoạn mà Nguyễn Hưng Quốc từng viết trong chuyên luận rằng, <i>&quot;</i>Có người chia tứ thơ ra làm hai loại: tứ thơ thiên về tạo hình và tứ thơ thiên về dòng suy nghĩ liên tưởng” và khẳng định, Nguyễn Hưng Quốc &quot;đạo văn&quot; tuy hơi nặng nhưng theo tôi, có lý. Nguyễn Hưng Quốc đã biện bạch rằng, &quot;trong bài “Tứ thơ” in trong cuốn Tìm hiểu nghệ thuật thơ Việt Nam năm 1988, tôi trích ý kiến của năm tác giả: Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Thế Lữ, Quách Tấn và Nguyễn Xuân Nam. Cả ba đều được ghi xuất xứ cẩn thận. Chỉ duy có ý kiến về cách phân chia tứ thơ thành hai loại, tạo hình và liên tưởng, tôi không ghi chú thích. Tuy nhiên, ngay ở đó, tôi cũng viết rõ: “Có người chia tứ thơ ra làm hai loại: tứ thơ thiên về tạo hình và tứ thơ thiên về dòng suy nghĩ liên tưởng”. Tức là tôi không hề nhận vơ là ý của tôi. Đó không phải là đạo văn. Đạo văn (plagiarism) là lấy ý hay lời của người khác làm như do chính mình nghĩ và viết ra. Tôi không hề làm thế. Tôi ghi rõ: “Có người…” Có nghĩa là: Đó là ý của người khác. Rất rõ ràng. Vấn đề ở đây chỉ thuộc phạm trù chú thích (reference)&quot; (Nguyễn Việt Hoài &#8211; <i>Một trường hợp đạo văn</i>), chính điều này đã bộc lộ những cái sai trầm trọng của ông. Nguyễn Hưng Quốc nói, &quot;Đạo văn (plagiarism) là lấy ý hay lời của người khác làm như do chính mình nghĩ và viết ra&quot;, vậy xin hỏi ông rằng, mục đích chia tứ thơ ra làm hai loại của Nguyễn Xuân Nam là ý tưởng hay phi &#8211; ý tưởng? Mặt khác, Nguyễn Hưng Quốc lại nói, &quot;Vấn đề ở đây chỉ thuộc phạm trù chú thích (reference)&quot;, xin thưa, mọi hoạt động trích dẫn gọi là đạo văn xét cho cùng là không <b><i>chú ý đến việc chú thích cẩn thận, đến nơi đến chốn</i></b>, giờ đây Nguyễn Hưng Quốc biện bạch việc mình viết ra không phải là <i>đạo văn</i> của Nguyễn Xuân Nam mà chỉ do, <b><i>mượn ý mà không ghi chú cụ thể,</i></b> vậy có khác nào &quot; lạy ông tôi ở bụi này&quot;? Lối biện bạch này chứng tỏ, Nguyễn Hưng Quốc đã tự &quot;mua dây&quot; mà &quot;tròng cổ mình&quot;. Hơn nữa, trong học thuật, đặc biệt là trong nghiên cứu khoa học, mọi cơ sở đưa ra phải rõ ràng, việc Nguyễn Hưng Quốc biện bạch <i>&quot; “</i><i>Có người</i>…” Có nghĩa là: Đó là ý của người khác&quot; đã vi phạm vào nguyên tắc và đạo đức của người nghiên cứu. Công việc Làm khoa học không chấp nhận cách nói chung chung, người nghiên cứu khoa học cần phải &quot;tách mình thành một người khác&quot; để suy xét vấn đề, theo nghĩa đó, trích nguyên văn bản (có chú thích) là tôn trọng người và cũng là tôn trọng mình. Theo nghĩa ấy, bàn về ý kiến của người khác mà Nguyễn Hưng Quốc chỉ nói chung chung, điều đó chứng tỏ trong tâm thức tác giả có ý muốn xoá mờ ranh giới giữa văn của mình và văn của người khác, biểu hiện ý thức muốn &quot;thôn tính&quot; văn của tha nhân. Lối biện bạch loanh quanh này của Nguyễn Hưng Quốc còn thể hiện ở dòng &quot;bàng thoại&quot; trong phần <i>Trả lời Nguyễn Việt Hoài</i>, <i>&quot;vì, thứ nhất, tôi không trích nguyên văn; thứ hai, trong điều kiện tư liệu ít ỏi lúc bấy giờ (1987-88)&quot;</i> , chúng tôi cho rằng, Nguyễn Hưng Quốc đã không biết phục thiện lại còn cố biện minh cho cái sai của mình. Bởi vì, nếu Nguyễn Hưng Quốc không trích nguyên văn của Nguyễn Xuân Nam nhưng có mượn ý tưởng của tác giả thì việc ghi cụ tỉ xuất xứ tác phẩm &#8211; tác giả &#8211; nhà xuất bản &#8211; năm xuất bản &#8211; số trang có thể linh hoạt xem xét, <b><i>song</i></b> <b><i>không thể bỏ qua tên tác giả</i></b>, và theo chúng tôi, nếu mượn ý hoặc hơi hướng thì công đoạn ghi chú có thể rút gọn bằng việc đưa tên tác giả vào ngoặc đơn cho đoạn diễn giải ấy, ngoài ra còn có thể diễn giải ý người ấy theo hướng diễn xuôi thông qua lời dẫn của mình. Đằng này, Nguyễn Hưng Quốc nhẹ nhàng <i>lờ tít</i> cái ý tưởng ấy của Nguyễn Xuân Nam và thay vào đó một cụm từ phiếm chỉ, &quot;có người&quot;, điều ấy chứng tỏ, Nguyễn Hưng Quốc không trung thực với chính mình, với đạo đức của một người nghiên cứu. Nguyễn Hưng Quốc đã không biết &quot;quay đầu&quot; nhận lỗi lại còn đổ lỗi cho lịch sử, &quot;trong điều kiện tư liệu ít ỏi lúc bấy giờ (1987-88)&quot;, xin thưa, nếu Nguyễn Hưng Quốc đã nhớ rất kỹ về ý hướng phân chia tứ thơ, vậy thử hỏi chẳng lẽ tài liệu mà Nguyễn Hưng Quốc tham khảo là từ &quot; trên trời rơi xuống đất&quot; hay sao? Nguyễn Hưng Quốc nhớ &quot;có người chia&quot;, chứng tỏ ông đã đọc, thậm chí đọc rất kỹ tài liệu, vậy cớ sao lại đổ lỗi là &quot;điều kiện tư liệu ít&quot;? Cứ cho là thời Nguyễn Hưng Quốc viết Tìm hiểu nghệ thuật thơ Việt Nam, tư liệu ít đi nhưng như vậy không có nghĩa là cũng ít đi cả về &quot;sự trung thực&quot;, không có cớ gì để nói, đã có tài liệu trong tay <i>mà lại biện minh là &quot; do tài liệu ít&quot; nên &quot;không trích dẫn cụ thể được&quot;</i> ( ý nhấn mạnh &#8211; N. H. G). Chỉ có một điều giải thích về lý do quẩn quanh trên là, Nguyễn Hưng Quốc đã <i>đạo văn</i> của Nguyễn Xuân Nam. Để khỏi bị phát giác và hợp với lời biện minh đầy &quot; khờ khạo&quot; của mình, Nguyễn Hưng Quốc lại <i>chua </i>thêm một đoạn nhằm che đậy chỗ sai, <i>&quot;Để có thể theo dõi vấn đề và tự mình đánh giá, xin mời bạn đọc đọc bài viết “Tứ thơ” in lại dưới đây. Chỉ xin lưu ý: bài này được viết vào năm 1987; từ đó đến nay, quan điểm về văn học của tôi thay đổi khá nhiều nên một số phân tích và đánh giá trong bài viết ấy không còn là của-tôi-bây-giờ nữa. Chúng khác rất nhiều so với những gì tôi viết sau này. Đó là lý do chính khiến tôi không đồng ý cho tái bản cuốn sách dù nhiều lần được yêu cầu&quot;</i> (Nguyễn Việt Hoài- <i>Một trường hợp đạo văn</i>), điều này chứng tỏ, Nguyễn Hưng Quốc đã bất lực trước lời bào chữa của mình với độc giả. Bởi vì, Nguyễn Việt Hoài phát hiện lỗi đạo văn của Nguyễn Hưng Quốc qua công trình Tìm Hiểu Nghệ Thuật Thơ Việt Nam, vậy thì điểm nhìn của bài phê bình phải nhắm vào thời điểm xuất bản tác phẩm, cớ sao ông lại biện minh rất thiếu thiện cảm rằng, <i>&quot;</i><i>bài này được viết vào năm 1987; từ đó đến nay, quan điểm về văn học của tôi thay đổi khá nhiều nên một số phân tích và đánh giá trong bài viết ấy không còn là của-tôi-bây-giờ nữa&quot;</i>? Nguyễn Việt Hoài phê bình bài viết của ông thì ông quay về con người của ông khi viết tác phẩm là đương nhiên, vậy sao lại còn biện minh cho ông- bây- giờ? Điều đó không thể không khiến độc giả nghĩ, ông là &quot;kẻ bị tố cáo&quot; mang tội danh đang cố tìm cách để bào chữa cho mình, nhưng ông càng bào chữa bao nhiêu thì chính ông lại thông báo cho độc giả là, ông đang mang trọng tội bấy nhiêu. Ông định sử dụng chiêu bài <i>núp bóng danh xưng</i> để chèn ép ý nghĩ người khác về ông, nhưng ông đã sai lầm, một sai lầm quá lớn, bởi vì &quot; lưới trời lồng lộng&quot;, ông có sử dụng kỹ sảo tinh vi để che lấp tội của mình đến đâu, rồi cũng bị độc giả phát giác, mà tất yếu sẽ bị phát giác. Ông đã tìm mọi cách để <b><i>che dấu cái đầu của mình</i></b> nhưng lại không biết rằng, <b><i>cái đuôi của mình</i></b> đã bị phơi bày từ khi nào mà không hay biết. Chân thành tôi muốn khuyên ông rằng<b><i>, người đời không hề trách những kẻ phạm lỗi mà biết hối cải, nhưng không thể dung thứ những kẻ đã sai mà vẫn ương bướng không chịu nhận cái sai của mình như ông Nguyễn Hưng Quốc.</i> </b>Sau cùng, tôi mong ông và đồng sự của ông cần trung thực hơn nữa trong nghiên cứu, có như vậy mới xứng đáng là <i>người mang học thuật phương Tây để phổ biến về nước</i> qua Tiền Vệ như ý của ông Hoàng Ngọc- Tuấn có lần đã nhắc khéo tôi.</p>
<p><b><i>Hà Nội: 21-1-2010</i></b></p>
<p><b><i>N. H. G</i></b></p>
<p><b><i>&#160;<b><i></i></b></i></b></p>
<p><b></b></p>
<p><b>TÀI LIỆU THAM KHẢO</b></p>
<p>1. <b><i>http://www.tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do;jsessionid=0A1B1022EACEA38C0C40C72744F1F073?action=viewArtwork&amp;artworkId=9784</i></b></p>
<p><b><i>2. http://www.tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do;jsessionid=0A1B1022EACEA38C0C40C72744F1F073?action=viewArtwork&amp;artworkId=9790</i></b></p>
<p><b><i>3. http://www.tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do;jsessionid=0A1B1022EACEA38C0C40C72744F1F073?action=viewArtwork&amp;artworkId=9805</i></b></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/10850/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>37</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lời trần t&#236;nh (với v&#224;i g&#243;p &#253; cho nền cộng h&#242;a li&#234;n mạng)</title>
		<link>http://damau.org/archives/10839</link>
		<comments>http://damau.org/archives/10839#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 08 Feb 2010 08:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Chân Phương</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giữa Người Viết & Người Đọc]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/10839</guid>
		<description><![CDATA[Trong mấy ngày qua tôi đã bình tâm tự kiểm và suy xét với khoảng cách cần thiết biến cố media tai tiếng lôi thôi quanh bài dịch "The Death of Postmodernism and Beyond" của Alan Kirby được công bố lần đầu trên <em>Da Màu</em>. Kinh nghiệm dù không vui vẫn là kinh nghiệm quí khi con người khám phá ra ý nghĩa của nó bên dưới những âm thanh và cuồng nộ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>&#160;</strong></p>
<p><strong>&#160;</strong></p>
<p><strong>&#160;</strong></p>
<p>Trong mấy ngày qua tôi đã bình tâm tự kiểm và suy xét với khoảng cách cần thiết biến cố media tai tiếng lôi thôi quanh bài dịch<i> <a href="http://damau.org/archives/10747">The Death of Postmodernism and Beyond</a> </i>của Alan Kirby được công bố lần đầu trên <em>Da Màu</em>. Kinh nghiệm dù không vui vẫn là kinh nghiệm quí khi con người khám phá ra ý nghĩa của nó bên dưới những âm thanh và cuồng nộ (<i>Shakespeare). </i>Tôi mạn phép trở lại để chia sẻ đôi điều với diễn đàn. Nhưng trước hết xin nói vài lời với các bạn đọc có phản hồi:</p>
<p>1-Với Tran Van Son, Đứa Bé, và một số bạn gần xa. Tách ra khỏi ngữ cảnh và bối cảnh văn hóa-xã hội nói chung, cách diễn đạt văn chương bóng bẩy với hình ảnh và ý tượng dễ gây hiểu lầm tai hại. Tuy nhiên tôi có sơ xuất trong văn phong và thái độ nên xin nhận phần trách nhiệm không tốt về mình để tạo lại hòa khí văn nghệ giữa chúng ta.</p>
<p>Riêng với TVS tôi có lời xin lỗi. Trong một phút mất bình tĩnh tôi đã thiếu lịch sự và thiếu tế nhị làm bạn bị xúc phạm. Phản ứng nóng tính của tôi lúc ấy chắc đã làm phiền lòng không ít bạn đọc. Mong các bạn gần xa miễn thứ. Mea Culpa!</p>
<p>2-Với Tôn Thất Thái Dương. Tôi ca ngợi và biểu dương tác phong hào hiệp của bạn. Ôm lưng chuột thần, ngao du trong không gian liên mạng, tự do đi hành hiệp như Zorro… Thú thật bạn làm tôi ganh tị. Dịch thuật là công việc khô khan, tra từ vựng từ điển mờ mắt mà vẫn không làm vừa lòng những người khó tính (làm sao vừa lòng ai được trong khi dịch giả còn chưa bao giờ hài lòng với mấy trang dịch của mình). Một ông bạn tôi từng nói: <i>Dịch thuật là mắc dịch!</i> Tôi chắc đổi nghề, bắt chước bạn đi hành hiệp.</p>
<p>3-Với Lê Thuyết và Nam Dao. Xin tiếp thu ý kiến của hai bạn bằng một cái bắt tay và cụng ly! Như LT, tôi không nghi ngờ gì tính đa hiệu năng, đa phương hướng của văn hóa thời digital. Nhưng trên cõi đời này đâu có gì hoàn hảo. Internet cũng có các vấn đề của nó mà tôi sẽ góp ý phân tích sau. Chào ND. Vừa được tin bạn sắp bay đến Mễ Tây Cơ để ăn Tết và trốn lạnh. Vậy tôi sẽ chờ ngày bạn trở về Canada, hẹn thêm Đỗ Quyên cùng ra quán để vòng vo tiếp về các lý thuyết. Cảm ơn bạn đã kéo diễn đàn trở về nội dung quan trọng của tiểu luận A. Kirby. Rất tiếc là những lời qua tiếng lại vô tình (hay cố ý?) đã đánh lạc hướng sự quan tâm đến bản dịch. Bon voyage!</p>
<p>4-Với Hoàng Lan. Xin phép gửi chị(?) một bó hoa. Cảm ơn chị đã nhắc lại nguyên tắc văn minh đầu tiên của sinh hoạt diễn đàn: <i>tôn trọng và lắng nghe người khác,</i><b> </b>điều mà tôi đã vi phạm trong một phút mất tự chế và vẫn còn đang ân hận. Chị còn ôn tồn cảnh giác về<i> não trạng nô lệ</i>, như TVS phê phán tôi là<i> tư duy một chiều. </i>Thật tình tôi chỉ muốn giới thiệu với độc giả VN qua Alan Kirby một cách nhìn mới về thời đại, chứ bản thân không hề sùng bái thần tượng nào. Là người làm thơ thuộc loại thích đùa, tôi chỉ nhớ một câu:<i> Mọi lý thuyết đều màu xám…</i>(Goethe)</p>
<p>5-Last but not least, tôi gửi lời tri ân đến nhiều bằng hữu văn nghệ đã liên lạc riêng với tôi qua điện thoại và email để khích lệ tinh thần, và chia sẻ kinh nghiệm không vui của tôi trong tuần vừa rồi. Có bạn còn nhắc tôi câu châm ngôn dân gian:<i> Một câu nhịn chin câu lành! Lời thật mất lòng! </i>Chí lý thay.<b><i> </i></b></p>
<p><b><i></i></b></p>
<p><b><i>Now let’s get serious!</i></b></p>
<p><strong><em>&#160;</em></strong></p>
<p><strong><em>&#160;</em></strong></p>
<p><b>I-VÀI Ý KIẾN VỀ TÍNH NẶC DANH VÀ ĐẠO LÝ INTERNET</b></p>
<p><b></b></p>
<p><b><i></i></b></p>
<p><b></b>Có thể xem hai nguyên tắc <b>tương kính </b>và<b> tôn trọng lắng nghe người khác </b>là tiêu chí cho một diễn đàn văn minh chỉ có thể tồn tại trong không gian công cộng lý tưởng nơi các công dân lương thiện và những con người tử tế cùng đàm luận với tinh thần trách nhiệm (giấc mơ của Kant và Habermas). Sự thực lại không như thế! Quan hệ giữa người viết và người đọc trong thời đại văn minh digital càng ngày càng tỏ ra bất cân xứng, điều mà Alan Kirby đã nhận diện khi phân tích về xu hướng thần tượng hóa người tiếp nhận các văn bản. Một mặt là sự tiến bộ khó chối cãi trong kỷ nguyên của tự do ngôn luận và dân chủ thông tin, một mặt là sự lợi dụng kỹ thuật digital để thực hiện những âm mưu, ý đồ phi-văn hóa., chẳng hạn kích động tâm lý bầy đàn hoặc bôi xóa sự phân biệt giữa đúng sai, tốt xấu trong đạo lý xã hội.</p>
<p>Nói có sách, mách có chứng. Khoảng nửa năm sau khi <i>Philosophy Now</i> đăng bài của Alan Kirby, ở Hoa Kỳ xảy ra biến cố media <b>MARK HELPRIN,</b> một chứng cứ hùng hồn để xác minh cho quan niệm bi quan của Kirby về thời buổi <b>digimodernism </b>hôm nay. Đầu đuôi như sau: Trong bài xã luận trên <i>New York Times</i> ngày 20-5-2007, “<a href="http://www.nytimes.com/2007/05/20/opinion/20helprin.html?pagewanted=all" target="_blank">A great idea last forever</a>…”, nhà văn M.H. lên tiếng bênh vực bảo vệ tác quyền (copyright) đang bị bọn gian thời đại internet cướp đoạt (đặc biệt trong thị trường âm nhạc khi download một bài ca nhạc qua mp3 hay iPod chỉ cần ít giây). Trong vòng một tuần nhà văn bị tấn công, bài bác, đánh đòn hội chợ (theo thống kê Google khoảng 750.000 thư từ điện tử được tung đi khắp nước Mỹ ); ông không thể ngờ một bài xã luận có thể gây nên phản ứng tập thể hung hãn đến thế, “<i>như biển lớn tràn ngập các kênh trừu tượng của internet”</i>(1), “<i>tính dã man chủ yếu của chúng nằm trong việc sử dụng loại ngôn ngữ không kềm chế đằng sau tấm khiên của sự nặc danh internet.”</i> (2) Nhà văn vừa tổng kết kinh nghiệm khốn khổ ấy trong cuốn biên khảo<i> <b>Digital Barbarism, </b></i>(Thói dã man thời đại internet). (3)</p>
<p>Cuộc đụng độ này hiển nhiên là không cân xứng. Một bên là người viết bằng xương bằng thịt với tiểu sử, cá tính, cùng các ưu nhược điểm trong đời sống cá nhân đồng thời trong tác phẩm. Bên kia là sự <b>nặc danh.</b> Núp dưới bóng khiên nặc danh (shield of anonymity) là gì? Một dấu hỏi chứa nhiều dấu hỏi? Một vùng tối chứa nhiều bóng đen? Trong khi người viết phải chịu trách nhiệm về lời nói và hành động của mình thì nơi hậu trường của nặc danh một thiểu số người bí mật điều khiển trò múa rối để ám sát nhân cách và phá hoại không gian nghị luận mà không e sợ bị vạch mặt trừng trị (impunity). Với kinh nghiệm của tôi một tuần qua, có thể đây là vài cá nhân, một nhóm nhỏ liên minh đằng sau biệt hiệu với bí danh để khiêu khích, bôi nhọ, đánh hỏa mù dư luận, chung qui tìm cách hạ uy tín người không đồng quan điểm vì những lý do riêng tư của họ. Như trong một phim hoang đường hư cấu, sự nặc danh là con hắc long thay hình đổi dạng khó lường để nhanh chóng tung độc chất và ám khí khắp nơi biến môi trường tranh luận trên mạng thành chốn gió tanh mưa máu.</p>
<p>Đây là mặt trái của thời đại internet. Đó là những gì đang liên tục xảy đến trong không gian liên mạng VN hải ngoại.(4) Dĩ nhiên chúng ta ủng hộ các sinh hoạt lành mạnh như hội thảo, luận đàm, bút chiến trên các diễn đàn văn hóa VN, dù digital hay sách báo. Vấn đề là ngăn ngừa trò “dân chủ một chiều” khi không gian công cộng bị chiếm đoạt bởi một vài người không tử tế, biết lợi dụng phép “thần thông số hóa” biến thành chục, thành trăm văn bản điện tử, nhanh chóng tạo thành ảo giác số đông, mà thực chất là một tập hợp giả ngụy tự tung tự tác, được thế thì xông lên ồn ào, thất thế thì rút vào bóng tối. Lợi dụng tính nặc danh để kết bè lập nhóm, khích bác chia rẽ, họ phá hoại tình hữu nghị văn nghệ liên mạng giữa những người Việt. Họ cũng quên bài học chẳng hay ho mà các chế độ cực quyền Á đông đang phô bày trước nhân loại: khủng bố tinh thần những ai không đồng quan điểm với mình là quay về với thói dã man trung cổ. Nhưng họ cũng quên một điều: tấm khiên của nặc danh không thể che chở họ suốt đời.</p>
<p>Ở đây các ban biên tập mạng giữ một vai trò quan trọng cần thiết, vừa ngăn chặn sự chiếm đoạt, lạm dụng không gian diễn đàn vừa thực thi quyền tự do ngôn luận của người đọc. Những công việc này đòi hỏi một nghệ thuật điều hành nhạy bén và sáng suốt. Tôi hình dung một ban biên tập như thế như một bồi thẩm đoàn chín chắn đồng thời là một tiểu ban điều tra pháp lý nhiều kinh nghiệm. Chính thông qua công việc điều hành nhiều thử thách này mà bản lĩnh cũng như sự công tâm và lương thiện tri thức sẽ hiện rõ trong tình cảm độc giả và uy tín của ban biên tập trong nền cộng hòa văn chương tư tưởng internet.</p>
<p>Trong nền cộng hòa liên mạng cần có hiến pháp liên mạng. Đây là qui chế ưu tiên cho một sân chơi văn minh mà mọi website VN phải cam kết tôn trọng để ngăn chặn, thảo trừ những Hắc Long đang tàng hình trong không gian ảo. Hiến pháp liên mạng là điều đang được thảo luận ,chủ yếu trên các mạng và hội nghị học thuật ở Hoa Kỳ nơi internet chào đời.(5) Đó là<b> đạo lý internet (</b>internet ethics), điều kiện tối cần thiết để dân chủ không biến thành mị dân, và văn hóa không trở thành <b>dã man số hoá (</b>digital barbarism).</p>
<p><b>&#160;</b></p>
<p><b>II. VẤN ĐỀ DỊCH THUẬT</b></p>
<p><b></b></p>
<p>Văn chương, đặc biệt thi ca, là lẽ sống và niềm vui của tôi; điều này<b> </b>bằng hữu văn nghệ thân quen từ nhiều năm qua đều biết. Nhận định phê bình là nghề tay trái; còn dịch thuật là khổ hạnh bất đắc dĩ! Vài dịch phẩm thất thường của tôi chỉ là một đóng góp cá nhân nhỏ trong bối cảnh chung của dịch thuật hải ngoại mà Da Màu, Tiền Vệ, Talawas, và các nơi khác đã làm từ lâu nay. Các bản dịch kịp thời từ nguyên tác đóng vai trò đắc lực, giúp người đọc VN ở mọi nơi có thể đồng hành với thế giới về mặt tư tưởng và nhận thức. Chúng mở ra những cánh cửa quan sát, những chân trời tiếp cận cho phép chúng ta bổ túc và điều chỉnh tri kiến để hiểu biết thời đại mình đang sống. Đó là lý do đã khiến tôi dịch bài của Alan Kirby,một tài liệu còn nóng tính thời sự học thuật. Ngoài ra tôi chẳng có tham vọng gì khác, ngoài việc trở lại với sở thích của mình là làm thơ và đọc thơ.</p>
<p>Tôi không mong gì hơn là các quan điểm mới của học giả ,trí thức phương Tây được tất cả các dịch giả VN , không riêng gì ở Pháp hay ở Mỹ, phổ biến kịp thời đến các diễn đàn và độc giả VN. Đây là một công trình tập thể thường xuyên, một dự án văn hóa chung đòi hỏi sự tham gia và ủng hộ của mọi người Việt có khả năng và một tấm lòng.(6)</p>
<p align="center">***</p>
<p>Năm mới sắp đến. Hi vọng chúng ta có thể cùng thảo luận về các vấn đề mới của văn hóa thế giới trong hòa khí và tinh thần xây dựng. Và hi vọng đạo lý internet sẽ trở thành ý thức mới của các diễn đàn internet VN!</p>
<p><em>&#160; <br />Cambridge, Feb. 7, 2010</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160; </p>
<p>CHÚ THÍCH</p>
<p>1,2,3.-Mark Helprin,<i> Digital Barbarism,</i> HarperCollins, NY, 2009, Chương 2 ,33.</p>
<p>4-Cảm ơn trước những ai đang cung cấp miễn phí các văn bản, tài liệu công kích hay xuyên tạc tôi. Tôi đang tập hợp hồ sơ để soạn thảo về văn hóa internet của dân Việt hải ngoại. Rút kinh nghiệm của Mark Helprin tôi và những bằng hữu cộng tác sẽ có thể đóng góp cho cộng đồng VN một biên khảo hay hồi ký tương tự như thế.</p>
<p>5-Tham khảo trên Google hay Bing các từ <i>digital ethics, internet ethics</i>.</p>
<p>6-Một sự hiểu lầm không lành mạnh đang diễn ra giữa bài dịch của tôi và một số anh em văn nghệ, đặc biệt trên Tiền Vệ. Đây là sự kiện vô cùng đáng tiếc đối với riêng tôi, làm sứt mẻ tình cảm tôi từng có với các bạn ấy từ thời<i> Tập Hợp, Tạp Chí Việt…</i>Tôi đâu phải là kẻ mù để không nhìn thấy những việc làm văn hóa bổ ích cũng như khí thế sáng tạo của các bạn. Riêng Hoàng Ngọc Tuấn và Nguyễn Hưng Quốc, cùng nhiều nhà văn nhà thơ khác trên TV, đều là chỗ quen biết thân tình một dạo, vì cớ gì tôi lại đi tranh chấp hoặc chống phá các người bạn cũ. Chỉ là những gương mặt giới thiệu và phổ biến các trào lưu hay sinh hoạt văn nghệ phương Tây, chúng ta đâu chịu trách nhiệm hoặc có thẩm quyền về sự thịnh suy của chúng.Còn cảm tình của một số ngòi bút VN đối với postmodernism là quyền chọn lựa của các bạn. Các phương thức và kỹ thuật sáng tác mà chủ nghĩa này đã triển khai từ các trường phái văn nghệ trước nó, đặc biệt là chủ nghĩa hiện đại, nay là vốn văn hóa chung cho giới sáng tác VN tùy nghi vận dụng. Đây là lời nói cuối của một bài trần tình. Hi vọng các bạn gần xa, không riêng gì Tiền Vệ, tránh được và chấm dứt mọi hiểu lầm đáng tiếc. Và rất mong gặp lại nhau quanh một bàn rượu hay một bàn tròn hội thảo để hàn huyên trong tinh thần huynh đệ của một nước cộng hòa văn chương.</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/10839/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>15</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>b&#244;ng s&#250;ng nở giữa hồ nơi xứ lạ</title>
		<link>http://damau.org/archives/10395</link>
		<comments>http://damau.org/archives/10395#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 25 Dec 2009 08:01:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Lương Thư Trung</dc:creator>
				<category><![CDATA[Da Màu và Bạn]]></category>
		<category><![CDATA[Giữa Người Viết & Người Đọc]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/10395</guid>
		<description><![CDATA[Tôi không hiểu Lâm Chương muốn nói gì qua mấy chữ "hồi ký vẫn là hồi ký", nhưng lại sợ Lâm Chương nhức đầu, nên tôi bắt qua chuyện đồng quê với hồ bông súng trước mặt. Tôi giải thích thêm cho anh về cách rê cá lóc trên những vạt bông súng bằng mồi nhái như vạt bông súng này.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Cuối tháng bảy rồi mà vùng bắc Mỹ này vẫn đang là mùa Hè. Trời nắng gắt. Gió thổi rào rào nhưng không khí cứ nóng hầm hập như lò gạch đỏ lửa. Thịt da người như muốn khô rang khô khốc trong cái nắng cháy bỏng của nơi chốn này. Đi loanh quanh tìm bóng mát dưới những hàng phong, hàng thông già, tôi lại gặp nhà văn Lâm Chương nơi bờ hồ Mystic vùng Medford, đang đứng ngắm nghía một cái đầm lầy đầy những bụi lác, bồn bồn, rau mác&#8230;</p>
<p>Tôi biết Lâm Chương từ vài năm nay, nhưng có lẽ tôi quí mến anh vì anh có nhiều khí chất một người nhà quê mê ruộng vườn, đặc biệt hai ngón tay kẹp điếu thuốc rặt người miền quê. Đời sống của Lâm Chương thanh đạm như cái dáng vẻ bình dân, mộc mạc hằng ngày. Gặp tôi bất chợt nơi cái đầm bùn lầy này anh vui lắm. Anh hỏi tôi loại lục bình này, bụi cỏ kia mà chừng như lâu lắm rồi anh mới được gặp lại. Tôi cũng thích nói chuyện với anh về cỏ cây, vì, so với Lâm Chương, tôi có những năm tháng gần gũi với đồng ruộng khá lâu, dễ chừng có đến mấy mươi năm cày sâu cuốc bẩm chứ ít ỏi gì! Lâm Chương chỉ mấy bụi rau mác có hoa màu tím, nói với tôi:</p>
<p><em>&quot;Ông Trung ơi, mấy bụi lục bình này tôi thấy ở chợ họ có bán nhiều lắm&quot;; </em>rồi anh tiếp<em>: &quot;chừng nào dìa, tui bứng vài bụi để trồng thử.&quot;</em></p>
<p>Dường như với ai, trong những anh em quen biết với anh, anh đều gọi người đối diện bằng chữ &quot;ông&quot; vừa rồi như vừa quen thân vừa sơ ngộ, vừa gần gũi vừa xa lạ mà vẫn giữ được chỗ thân tình, tương kính lẫn nhau. Như &quot;ông Phan Xuân Sinh&quot;, &quot;ông Trần Trung Đạo&quot;, &quot;ông Dư Mỹ&quot;, &quot;ông Thanh&quot;, &quot;ông Nguyễn Trọng Khôi&quot;, &quot;ông Trần Doãn Nho&quot; v.v&#8230; Và anh cũng đã gọi tôi bằng &quot;ông&quot; như vậy.</p>
<p>Tôi ôn tồn nói với anh<em>: &quot;Mấy bụi này là rau mác, không phải lục bình anh à! Lục bình là loại thủy thực vật nổi với căn hành dài, lá có cuống phù xốp, phiến lá láng; còn rau mác thuộc loại nê thực vật có củ, lá thon hoặc lá bầu; do đặc tính đó nên lục bình thì lang bạt nổi trôi trên mặt nước, còn rau mác lại thích bám rễ sống trên mặt bùn như cái vũng lầy này, nhưng cả hai đều có bông màu tím và đều có thể ăn sống được, nhất là ăn với mắm kho càng bắt cơm lắm!&quot; </em></p>
<p><em></em></p>
<p><em></em></p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/bngsngngiahnixl_9791/clip_image002.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto" title="clip_image002" border="0" alt="clip_image002" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/bngsngngiahnixl_9791/clip_image002_thumb.jpg" width="415" height="308" /></a></p>
<p align="center"><em>Bông lục bình</em></p>
<p>Lâm Chương &quot;à&quot; một tiếng rồi vứt tàn thuốc lá xuống bụi cỏ gần đó sau khi rít một hơi dài. Như đang theo đuổi cái ý nghĩ sẽ nhổ vài bụi rau mác, vài bụi lác mang về nhà trồng vào cái chậu nhỏ, Lâm Chương nhìn những bụi rau, bụi lác bên rìa cái đầm lầy lấp xấp nước đến mắt cá chân như người bị bùa. Trông anh có vẻ đang mê ly mấy loài cỏ nội hoa đồng này lắm. Mà anh mê thật, vì chừng như lâu lắm rồi, Lâm Chương mới gặp lại những loài cỏ mà ngày nào chiến tranh còn mịt mù khói súng đạn bom trên khắp cùng quê hương, mỗi bước chân người lính đi ngang qua vùng hành quân đều phải nhiều phen vướng bận những đầm lầy đầy những cánh hoa màu tím của loài lục bình phiêu bạt, giang hồ. Bây giờ, bắt gặp những loài cỏ hoang dã cũ, làm anh nhớ lại những vùng quê heo hút, hoang rậm tiêu điều, và cũng gợi anh nhớ về một thời binh lửa xa xăm&#8230; Những vùng thôn dã mà đã biết bao lần người dân phải chạy bườn lên nhau để tìm chỗ trú đạn rú, súng gầm nghe như rượt đuổi sát rạt từ phía sau lưng nóng bỏng&#8230;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/bngsngngiahnixl_9791/clip_image004.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto" title="clip_image004" border="0" alt="clip_image004" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/bngsngngiahnixl_9791/clip_image004_thumb.jpg" width="404" height="245" /></a></p>
<p align="center"><em>Bông súng, u du, rau mác và lục bình</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Lâm Chương hỏi tôi cỏ bồn bồn là loại cỏ gì? Tôi nhắc anh còn nhớ truyện ngắn &quot;<em>Rừng Mắm</em>&quot; của Bình Nguyên Lộc không? Ở trong truyện này có nhắc cảnh hai vợ chồng ở xa, nghe đâu từ trên miệt Sa Đéc, bơi xuồng xuống vùng Ô Heo nhổ bồn bồn về làm dưa để bán kiếm tiền mua gạo, rồi gặp thằng Cộc giữa vùng hoang dã ít người này. Lâm Chương <em>&quot;à&quot;</em> một tiếng như vừa nhớ ra câu chuyện Rừng Mắm rồi. Tôi nói tiếp, cỏ bồn bồn cũng là một loại nê thực vật đa niên. Lá dẹp, dài, cứng, thẳng đứng và có bẹ ôm thân; bồn bồn thường mọc và sống nơi đầm lầy, lung vũng, ao hồ cạn; dưa bồn bồn ăn giòn giòn như dưa ngó sen vậy mà! Rồi tôi chỉ cho anh mấy bụi bồn bồn gần chỗ anh đang đứng. Lâm Chương gật gật đầu như vừa đồng ý, vừa không mường tượng được dưa bồn bồn ra làm sao vì anh chưa ăn dưa bồn bồn lần nào, nhưng anh có ăn dưa ngó sen mà má anh đã mua ở chợ làng cho anh ăn hoài hồi anh còn nhỏ lúc ở nhà quê. Lâm Chương vừa bật cái hộp quẹt ga, châm thêm điếu thuốc mới. Anh hít một hơi dài . Khói thuốc gắt làm anh hơi sặc nhẹ. Tôi thấy anh hơi đỏ mặt. Không biết có phải vì nắng nóng hay vì anh mới vừa hắt hơi mấy cái&#8230; Và rồi, khi vừa tàn điếu thuốc, Lâm Chương rủ tôi nhổ vài bụi rau mác về trồng cho vui . Tôi thấy anh hì hục lựa lựa, chọn chọn một hồi rồi cũng nhổ được mỗi loại một bụi còn xanh dờn, và anh bỏ vào cái túi nylon gọn gàng, tâm đắc. Nhưng anh than với tôi: <em>&quot;Bây giờ sao tui yếu quá ông Trung; mới nhổ có vài bụi bồn bồn, rau mác mà nghe trái tim đập đùi đụi, thở không kịp ông Trung à!&quot;</em> Tôi nói với Lâm Chương, mình bây giờ già rồi anh. Vả lại, ai cũng vậy, giống nhau, &quot;sanh, lão, bịnh&#8230;&quot; là con đường ai cũng phải qua mà, làm sao tránh khỏi! Tui cũng đâu hơn gì anh. Sau nhiều năm lội thụt mạng trong rừng tràm vùng U-Minh Thượng rồi về quê làm ruộng cơ cực, bây giờ chưn tay cũng rã rời, bủn rủn như con bún thiu. Lâm Chương nhìn tôi thông cảm như có bạn đồng hành trên con đường lận đận tuổi ngoài năm mươi này&#8230;</p>
<p>Phía trước mặt chúng tôi, cách cái đầm lầy nhỏ này chừng vài mươi thước là hồ Mystic thênh thang nước mát. Tôi đề nghị Lâm Chương đến mé nước rửa tay vì vừa dính chút bùn non. Bước qua khỏi con lộ nhỏ, bờ hồ nằm sát bên mé lộ. Tôi sững sờ nhìn xuống mặt hồ khi tình cờ bắt gặp một mảng lớn bông súng xanh lặt lìa chạy dài gần giáp chu vi cái hồ rộng. Những chiếc lá bông súng hình tròn lớn bằng cái dĩa bàn, nhỏ bằng cái miệng chén che khuất mặt nước bít chịt xen lẫn nhiều chiếc bông đã nở màu trắng nhụy vàng rải rác khắp mặt hồ. Tôi mừng như chưa bao giờ được mừng khi được đứng bên mé nước nhìn những bụi bông súng đang ngâm mình trong hồ nước mát này.</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/bngsngngiahnixl_9791/clip_image006.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto" title="clip_image006" border="0" alt="clip_image006" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/bngsngngiahnixl_9791/clip_image006_thumb.jpg" width="404" height="247" /></a></p>
<p align="center"><em>Bông súng loại lá nhỏ gần giống như củ co</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Tôi kể cho Lâm Chương nghe về những cánh đồng bông súng của miền đồng bằng sông Cửu Long. Hằng năm, vào những mùa nước nổi, nhà nghèo thường giạt về miệt Ba Răng, Đốc Vàng, Đồng Tháp Mười, Cầu Số Năm, Tri Tôn hoặc qua An Phú, Hồng Ngự, Lỳnh Quỳnh, Ba Thê để nhổ bông súng về bán. Bông súng mọc vượt theo nước. Nơi nào nước sâu bông súng có cọng dài, nơi nào nước cạn bông súng ngắn; có nơi bông súng dài đến bốn, năm thước là thường. Bông súng nở vào buổi sáng khi mặt trời vừa mọc. Người ta nhổ bông súng là nhổ những cọng nào có bông, dù bông búp hay bông nở. Do đó mà những xuồng ghe nhổ bông súng thường bắt đầu lên đồng vào sáng sớm tinh sương để chiều về tìm nơi trú ngụ, phòng khi mưa bão vào ban đêm và sáng hôm sau lại đi nhổ bông súng tiếp cho đến khi đầy ghe, đầy xuồng mới về đem bán khắp các chợ. Cánh đồng bao la với nước là nước, khi có mưa chướng sóng to là mối nguy cho những ghe xuồng bềnh bồng trên đồng trống&#8230; Tôi kể cho Lâm Chương nghe thêm, ở trên đồng có hai loại bông súng. Đó là bông súng ta và bông súng ma. Bông súng ta cọng lớn, đài hoa xanh, cánh hoa trắng, nhụy hoa vàng; còn bông súng ma cọng nhỏ, rất mảnh mai, bông nở nhỏ. Vì phần đông từ các nơi phải đi xa nhổ bông súng là để bán, nên người ta chỉ nhổ bông súng ta mà thôi. Bông súng ma nhổ lâu đầy xuồng mà bán cũng chẳng được mấy đồng nên ít người nhổ là vậy.</p>
<p>Lâm Chương hỏi tôi: <em>&quot;Vậy chớ bông súng ngoài việc ăn cái cọng, mình còn ăn được gì nữa không ông Trung?&quot; </em></p>
<p>Tôi trả lời anh: <em>&quot;Được chớ anh, lá non ăn với cá kho, mắm kho, cá lóc nướng trui cũng ngon lắm.&quot; </em></p>
<p>Rồi tôi kể cho Lâm Chương nghe tiếp vào những năm đồ khổ, ở miệt dưới tôi, người nghèo bị đói lên đói xuống vì loạn lạc, vì ruộng nương thất bát quá mạng, người ta còn hái trái bông súng về ăn nữa anh à! Lâm Chương tỏ vẻ nghi ngờ người ta mà ăn trái bông súng nữa sao! Tôi giải thích thêm, trái bông súng tròn bằng cườm tay, hột nhỏ rứt như hột é tía, người ta gọt vỏ rồi nấu chín ăn cũng đỡ khổ. Có một loại gần giống với bông súng về hình dáng, về cách mọc, về môi trường sống nhưng chỉ khác với bông súng là bông của chúng rất nhỏ và gốc của chúng có củ. Và loại củ này, ở miệt ruộng vào những tháng nước giựt, người nhà quê hay đi móc những củ này về nấu chín rồi lột vỏ ăn, rất ngon. Đó là những bụi củ co mọc rải rác khắp các lung vũng trên đồng, một loai cỏ thủy sinh đa niên nhỏ, lá có màu xanh đậm mặt trên và màu nâu ở mặt dưới. Có củ nhỏ bằng ngón chân cái, nhưng có củ cũng lớn bằng cườm tay nữa. Loại củ co này ăn gần giống củ nưa, hoặc như củ khoai môn đúm, khoai cao. Nhiều lúc người ta cũng ăn củ co cho đỡ đói nữa!</p>
<p>Đang nói chuyện bông súng, củ co, Lâm Chương nhìn xuống nước thấy hai con ốc đang đeo bụi bông súng nhúc nhích cử động. Tôi vói tay vớt hai con ốc đưa cho Lâm Chương và tôi nói loại ốc này là ốc bươu vì có cái đít nhọn, vỏ mỏng.</p>
<p>Lâm Chương tò mò hỏi thêm, &quot;<em>còn ốc lác là ốc gì ông Trung</em>?&quot;</p>
<p>Tôi lại giải thích: <em>&quot;Ốc lác là ốc có cái đít bằng, vỏ ốc dày, sống chui dưới đất vào mùa nắng, mùa mưa bò lên theo các vũng nước.&quot; </em></p>
<p>Sẵn có Lâm Chương hỏi, tôi như có dịp nhớ đồng, nhớ ruộng kể luôn cho anh nghe về cách bắt ốc, hái rau ở nhà quê. Tôi thí dụ cho anh thấy, chẳng hạn như đám bông súng trước mặt đây, ốc đeo theo mấy lá bông súng khuất bên dưới. Muốn bắt ốc chỉ cần chống cái xuồng rà ngang cho lá bông súng chìm xuống là bao nhiêu ốc đều rời khỏi nơi nó đang đeo rồi nổi lên mặt nước. Cứ thế mà lượm ốc bỏ vô xuồng. Hết vạt rong này đến đám bông súng khác, nếu đi suốt ngày ốc có khi đầy xuồng hoặc ít nữa cũng được vài thùng, vài giạ.</p>
<p>Rồi tôi kể cho Lâm Chương cách bắt ốc khác cũng dễ dàng lắm, là chặt những cây đu đủ già lão, rồi chẻ làm hai đem bỏ những thân đu đủ này xuống mương, xuống lung vũng để vài hôm sau trở lại, ốc đeo đầy mấy thân cây đu đủ này. Chỉ còn có cách lượm ốc bỏ vô xuồng đem về luộc với lá ổi, lá chanh, lá bưởi, lá sả rồi dùng gai cam, gai bưởi lể ốc béo ngậy chấm nước mắm sả ớt đưa cay vài lít rượu trắng mới ra lò là hết sẩy.</p>
<p>Lâm Chương vốn ưa rượu, nghe tôi kể, bèn bảo: &quot;<em>Ông Trung nói làm tui thèm quá mạng!&quot;, </em>rồi anh hỏi tiếp<em>: &quot;Còn ốc gạo là ốc gì nữa?&quot; </em></p>
<p>Tôi trả lời anh: &quot;Khác với hai loại ốc bươu, ốc lác ở trên đồng, ốc gạo lại sống dưới sông cái dọc theo các đuôi cồn mới nổi. Đặc biệt, vùng sông Tiền Giang, dưới Sa Đéc, Vĩnh Long người ta mò hoặc cào ốc gạo để bán cho khách bộ hành qua lại hai bên bờ bắc Mỹ Thuận nhiều lắm. Những con ốc này lớn bằng ngón tay, hoặc ngón chân, vỏ màu xanh lợt, ruột ốc trong ngần trông thấy phát thèm. Người ta bán ốc bằng cái lít đong gạo. Khi mua ốc gạo coi chừng ốc bị chết vì người ta rộng lâu ngày. Trong một nồi ốc mà có vài con ốc chết là mất ngon.&quot;</p>
<p>Tôi đề nghị Lâm Chương cầm hai con ốc bươu này về cho vô bếp lửa là anh sẽ có hương vị ốc bươu nướng ngon lành. Nhưng anh nói hai con ít quá, thôi phóng sanh cho nó sống làm phước. Tôi nhìn vẻ thành khẩn của anh. Lâm Chương nói tội nghiệp nó. Hai con ốc được anh bỏ dưới nước và chúng từ từ bò đi vài tấc&#8230; Đứng gần mé nước, tôi thấy da mặt mát lại.</p>
<p>Lâm Chương vì biết tôi nhà quê, nên có dịp là anh hay hỏi tôi đủ điều, nhất là những chữ dùng ở địa phương, những loài bông hoa, những tên gọi một vài vật dụng vào thời điểm cách xa bây giờ để anh dùng cho những truyện ngắn anh đang viết. Có lần anh hỏi bông sao, bông dầu khác nhau thế nào; cào cào khác châu chấu ra làm sao; cái &quot;cạt- vẹt&quot; xe còn gọi là gì nữa; chệt đai con sau lưng khác với đồng bào thượng mang gùi không? và còn nhiều câu hỏi nữa&#8230;</p>
<p>Là một nhà văn với tập truyện đầu tay <em>Đoạn Đường Hốt Tất Liệt</em> do Văn Mới xuất bản, Văn Nghệ tổng phát hành tại Hoa Kỳ (1998), được văn giới biết đến như một luồng gió mới, một tác giả tạo được uy tín hiện nay trên văn đàn nhưng Lâm Chương vẫn giữ được cái đức tính khiêm cung đáng quí, luôn lắng nghe những nhận xét của người đọc. Trong các truyện của anh, cái cẩn trọng luôn luôn được anh quan tâm từng chữ dùng, từng dấu chấm, dấu phết, làm thế nào, dù người đọc khó tính vẫn khó mà bắt bẻ anh được. Câu văn của anh luôn ngắn gọn. Họa hoằn lắm người đọc mới có dịp bắt gặp một câu tương đối dài, nhưng ở đó cũng có nhiều dấu phết ngắt đoạn. Độc đáo nhất, ở truyện của Lâm Chương là những câu đối thoại gần như những câu mà anh đối đáp, trao đổi với bằng hữu hằng ngày, tạo cho người đọc có ấn tượng mình phải theo hoài những mẩu đối thoại có duyên, hấp dẫn để tìm ra cá tính của mỗi nhân vật. Dịp này, tôi có đưa ra nhận xét một cách tổng quát vừa nêu trên đối với các văn phẩm của anh như vậy.</p>
<p>Lâm Chương trầm ngâm một hồi, rồi không chần chừ, anh hỏi tôi: <em>&quot;Ông Trung dạo này có đọc mấy báo Văn và Văn Học không?&quot;</em></p>
<p>Tôi nói: &quot;có.&quot;</p>
<p>Anh hỏi tiếp: <em>&quot;Ông thấy &quot;Trường Sơn, Gửi Lòng Ở Lại&quot; của tôi trên Văn Học số Tháng 7-99 được không?&quot;</em></p>
<p>Với một câu hỏi quá đột ngột về một truyện mới nhứt của anh, nói đúng hơn đây là một loại ký sự, hoặc tùy bút, tôi không thể nói dối anh được, nên đành trả lời: <em>&quot;Tôi thấy thích &quot;Thượng Du, Niềm Thương Nhớ&quot; hơn &quot;Trường Sơn, Gửi Lòng Ở Lại&quot;, dù cả hai cùng viết về những năm tháng cùng với núi rừng, một đằng núi rừng Hoàng Liên Sơn, một đằng với núi rừng Trường Sơn. Nhưng dù là &quot;niềm thương nhớ&quot; hay &quot;gửi lòng ở lại&quot;, cả hai đều nói lên cái tính cách nhân bản, tình người của chính tác giả.&quot;</em></p>
<p>Lâm Chương dường như không phải suy nghĩ và gật đầu như đồng ý với nhận xét của tôi. Dường như Lâm Chương là một trong hai nhà văn mà tôi được gặp luôn luôn lắng nghe ý kiến của người đọc và chịu khó xem kỹ lại bản thảo của mình khi cần. Người thứ hai là bạn văn của anh, nhà văn Trần Hoài Thư. Trường hợp truyện ngắn &quot;<em>Những Ngày Mắc Cạn</em>&quot; của Lâm Chương, trên Văn Học, là một thí dụ về bản thảo được anh sửa đi sửa lại nhiều lần sau khi bạn bè anh đọc thử và có đưa ra vài nhận xét.</p>
<p>Dưới mặt hồ có vài con cá đang ụp móng. Theo kinh nghiệm những tháng năm giăng câu trên đồng, tôi đoán dọi cá ụp móng như vậy là cá lớn.</p>
<p>Tôi khều tay chỉ cho Lâm Chương và nói như tôi đang nhớ những ngày đi giăng câu, giăng lưới hồi còn ở bên nhà: <em>&quot;Mấy con cá này, nếu có một tay lưới cá trắng bủa cập mé bông súng là dính liền đó nghe anh!&quot;</em></p>
<p>Lâm Chương hỏi tôi cá dính lưới rồi làm sao gỡ. Tôi trả lời anh, lo gì anh, mình nằm xấp xuống mũi xuồng, cứ thủng thẳng nắm con cá cho chắc ăn rồi gỡ cá bỏ vô khoang xuồng mấy hồi. Cá nào lớn hơn lỗ lưới mình gỡ ngược. Cá nào vừa bằng lỗ lưới mình gỡ xuôi.</p>
<p>Tôi sẵn dịp nói đùa với Lâm Chương chơi cho vui: &quot;<em>Chẳng khác nào như anh viết văn vậy mà! Có cảm hứng về một đề tài nào, lo gì không có tác phẩm hay, hấp dẫn.&quot;</em></p>
<p>Như nhớ lại gần cả tháng nay anh thường bị chứng &quot;nhức đầu đông&quot;, Lâm Chương tâm sự:&quot; Gần tháng nay tôi bị nhức đầu quá mạng ông Trung. Bác sĩ cho thuốc uống thì đỡ đỡ, nhưng uống thuốc này lại bị ngầy ngật quá!&quot; Rồi anh tiếp: &quot;Ông có đọc &quot;<em>Hồi Ký Viết Trên Gác Bút</em>&quot; của Nguyễn Thụy Long chưa?&quot; Tôi trả lời anh: &quot;Có đọc rồi.&quot; Lâm Chương hỏi tôi thấy sao? Tôi nói với anh, làm nhà văn như Nguyễn Thụy Long, nghĩ cũng quá lận đận phải không anh? Lâm Chương chậm rãi một hồi, rồi đưa ra nhận xét:&quot;Đọc quyển sách đó mình biết thêm về nhiều điều lúc mình không có mặt ở Sài Gòn sau năm 75, nhưng theo tôi, dường như tác giả bây giờ già quá rồi và rượu làm hại ông quá mạng, nên <em>&quot;hồi ký vẫn là hồi ký</em>&quot;.</p>
<p>Tôi không hiểu Lâm Chương muốn nói gì qua mấy chữ <em>&quot;hồi ký vẫn là hồi ký&quot;,</em> nhưng lại sợ Lâm Chương nhức đầu, nên tôi bắt qua chuyện đồng quê với hồ bông súng trước mặt. Tôi giải thích thêm cho anh về cách rê cá lóc trên những vạt bông súng bằng mồi nhái như vạt bông súng này. Nhất là mấy chỗ nào người ta chưa đến câu, mình rê một hồi là đầy giỏ như chơi. Lâm Chương dường như nhớ lại hồi còn trẻ, mỗi lần từ Tây Ninh xuống thăm người chú ở miệt kinh xáng Bốn Tổng, anh cũng thường theo xách giỏ cho ông chú rê cá lóc dọc theo bờ kinh xáng, hoặc mấy cái lung, mấy miệng đìa, mà nhiều lúc cá nhiều quá anh quẩy không muốn nổi.</p>
<p>Rồi Lâm Chương nói nhanh như đã suy nghĩ từ lâu lắm: <em>&quot;Ông Trung là một người làm ruộng rặt, không ai nông phu hơn ông.&quot; </em>Tôi cười và tiếp lời anh: <em>&quot;Tôi mừng nhứt là ai ai cũng biết mình làm ruộng. Tôi thích nghề này lắm anh, vì làm ruộng là nghề của mọi nghề mà!&quot;</em></p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/bngsngngiahnixl_9791/clip_image008.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto" title="clip_image008" border="0" alt="clip_image008" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/bngsngngiahnixl_9791/clip_image008_thumb.jpg" width="370" height="210" /></a></p>
<p align="center"><em>Giăng lưới cá rô tháng 9 âm lịch</em></p>
<p>Tôi nhìn một lượt qua mặt hồ và đếm thử có bao nhiêu bông súng đang nở nhưng mắt tôi không làm sao đếm nổi vì cả mặt hồ này như một cánh đồng nước nổi tháng tám, tháng chín, tháng mười ở vùng đồng ruộng quê tôi. Tôi đếm đi đếm lại nhiều lần nhưng đành bất lực. Nhìn cái túi nylon đựng mấy bụi rau mác, bồn bồn Lâm Chương đặt gần mé nước còn tươi rói, tôi rủ anh cùng về với tôi. Chúng tôi đi về ngang qua con lộ nhỏ, và tôi còn nhìn ngoái lại những vạt bông súng xanh rì phía sau lưng. Bất chợt, tôi bắt gặp Lâm Chương tay xách túi nylon đựng rau mác cũng nhìn những bông súng trắng nhụy vàng lớp lớp trên mặt hồ Mystic giữa trưa hè&#8230; Đi ngang qua mấy người bạn Quảng Nam đang vui chơi trên một nền cỏ cạnh bờ hồ, như một buổi picnic, các anh Phan Xuân Sinh, Trần Trung Đạo, Dư Mỹ, Nguyễn Ngọc Thanh và nhiều người quen khác, ai cũng hỏi Lâm Chương về mấy bụi bồn bồn, rau mác đựng trong túi nylon. Lâm Chương rất vui vẻ chỉ chỗ cái đầm lầy kế bên bờ hồ còn đầy dẫy những bụi cỏ quen quen với màu xanh của đồng ruộng chưa cày phơi đất.</p>
<p>Trên đường về, trời nắng chang chang. Ngọn gió nóng hầm hập lùa vào cửa xe, nhưng tôi thấy dường như Lâm Chương không để ý mấy. Anh cứ giữ chặt cái túi nylon vì sợ mấy cây cỏ nội hoa đồng của anh bị héo giập vì trời quá nóng. Tôi chợt tự hỏi mình: <em></em></p>
<p><em>“Làm sao có thể hiểu được một người xa cố hương đang nghĩ gì khi họ tình cờ gặp lại những loài cỏ nội hoa đồng quen thân cũ cũng đang có mặt ở một hồ nước u tịch xa lạ này!!!”</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Hồ Mystic, Medford, 25-7-1999</em></p>
<p><em>Houston, sau hơn 10 năm, đọc lại và bổ túc ngày 20-12-2009</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/10395/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>ĐỌC KỊCH kẻ phá cầu của LỮ KIỀU</title>
		<link>http://damau.org/archives/9908</link>
		<comments>http://damau.org/archives/9908#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 10 Nov 2009 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Khuất Đẩu</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giữa Người Viết & Người Đọc]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học Miền Nam Việt Nam 1954-1975]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/9908</guid>
		<description><![CDATA[Nhưng, qua lời nói hổn hển của người chỉ huy bị thương trở về, chứng nhân cuối cùng của cuộc ám sát, ta bỗng thấy dung nham của sự thật đang trào lên sau tiếng nổ lớn. Như đêm bỗng sang ngày. Như chết bỗng thành sống. Tất cả đã quay ngoắt 180 độ.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><b></b></p>
<p>Người đọc : <b><i>Khuất Đẩu</i></b></p>
<p><b><i></i></b></p>
<p>Kịch được viết năm 1969, sau Mậu thân đúng một năm. Cứ cho là vào những ngày giỗ đầu của hàng vạn con người đã chết oan để làm nên một tiếng nổ lớn còn hơn bom nguyên tử. Chiếc cầu tuy không gọi tên nhưng ai cũng biết là cầu Trường Tiền. Cây cầu yểu điệu thục nữ đưa những bờ vai “như giấy mới” bắc qua hai bờ sông Hương, con sông như kiếm dựng trời xanh dưới mắt nhìn Cao Bá Quát.</p>
<p>Cây cầu còn là một niềm kiêu hãnh như một nét mày cong vẽ trên tâm hồn Huế.</p>
<p>Vậy mà có kẻ muốn phá, dám phá!</p>
<p>Kẻ ấy là Trung, tổ trưởng đặc công, là người từng lớn lên bên bến sông ấy, từng tắm dưới chân cầu kia.Trung còn là bạn của Miên một thương binh “ngụy” mù mắt và đã từng thầm yêu Kim, chị của Miên, từng biết Văn chồng của Kim, từng lui tới đề huề coi mẹ Kim như mẹ. Anh cùng đồng chí chọn đúng ngôi nhà thân quen để làm nơi xuất phát cho cuộc tàn sát một cây cầu.</p>
<p>Khi biết được nhiệm vụ của anh, Kim và Miên ra sức cản ngăn. Nhân danh tình bạn, một thời đã rất lãng mạn cùng ầm ĩ hát bài <em>Chiều vàng</em> dưới nắng vàng để tương tư một người con gái, Miên đã tranh luận với Trung, quyết liệt đến nỗi, <i>ngày mai, khi nghe tin cầu gãy, nếu tôi còn sống, tôi xem như cậu đã chết</i>. Nhưng Trung vẫn khẳng định là cầu phải bị phá hủy. Để chi vậy? Để ngăn đường tiến quân của địch? Không! Để xác tín bọn họ có mặt ở thành phố này và để cho thế giới biết được sức mạnh của họ. Cuộc chiến ý thức giữa hai người một thời là bạn dữ dội không kém những cuộc đấu kiếm hay đấu súng. Cuối cùng kẻ mù loà nhưng sáng suốt đã thua kẻ sáng mắt có sức mạnh mù quáng.</p>
<p>Cây càu đã bị giựt sập. Và Trung đã chết cùng với cây cầu.</p>
<p>Gần một phần tư của vở kịch, tác giả để Trung khạc nhổ vào quá khứ, hận thù hiện tại, nhưng lạ một điều là Trung không thuyết giảng về tương lai, một tương lai màu hồng như ta thường nghe thấy từ miệng lưỡi của “những đứa con mang gươm đao về xóm làng”. Từ lời nói, từ cử chỉ, rắn và lạnh như thép súng. Trước mặt người chỉ huy và đồng chí Út, Trung có vẻ sừng sững cao ngạo của một kẻ mà lập trường đã được trui rèn trong lửa đạn. Ở đây ta thấy sức mạnh của ngụy tín đã áp đảo những mong manh yếu đuối của tâm hồn.</p>
<p>Trung cho thấy dưới mắt nhìn của cả hai phía, tâm hồn anh đã hoá thạch. Một tâm hồn còn chai cứng hơn cả Martha trong<em> Malentendu</em> của Camus.</p>
<p>Nếu Trung còn sống trở về hay bị tử thương vì chất nổ thì toàn bộ những sự kiện, những nhân vật chỉ là vật chứng, người chứng dể tôn vinh là anh hùng của phía bên kia, hay để kết tội là kẻ phá hoại của phía bên này.</p>
<p>Nhưng, qua lời nói hổn hển của người chỉ huy bị thương trở về, chứng nhân cuối cùng của cuộc ám sát, ta bỗng thấy dung nham của sự thật đang trào lên sau tiếng nổ lớn. Như đêm bỗng sang ngày. Như chết bỗng thành sống. Tất cả đã quay ngoắt 180 độ.</p>
<p>Giật mình nhớ lại một phần tư vở kịch, ta thấy Trung đóng kịch. Anh đóng kịch trước Miên, trước Kim, trước đồng đội. Đóng kịch quá giỏi. Không ai có thể moi ra lời nào, cử chỉ nào để xác tín anh là kẻ sẽ chết theo cây cầu. Vậy mà chỉ một lời như trối trăng của người chỉ huy, phía bên kia Không thể tôn vinh anh là anh hùng, phía bên này không thể kết án anh là kẻ phá hoại.</p>
<p>Anh là kẻ tuẩn tiết.</p>
<p>Anh chết theo cây cầu như trước đó anh nói với Miên,<em> tôi còn thân thiết cây cầu hơn cả cậu</em>.Từ một kẻ tâm hồn tưởng chừng hoá thạch, bỗng trở nên nóng ấm vì sự phục sinh của một tâm hồn đắm đuối.</p>
<p>Cái quyết định bi tráng ấy không phải bỗng dưng mà có. Nó bùng nổ trong tâm hồn Trung khi được biết cây càu sẽ bị phá để gây một tiếng vang lớn trên toàn thế giới sau khi cuộc tổng tấn công đã bị thất bại. Trung được chọn, còn hơn thế, tự nguyện trở về để làm cái việc mà trước khi lên núi anh không hề nghĩ đến. Anh vẫn tưởng làm cách mạng là lau rửa khuôn mặt Huế đã nhớp nhơ, xấu xí vì bàn tay lông lá của ngoại xâm, để giữ cho nét mày cong ấy đẹp hơn, tô điểm cho xứ Huế thêm yêu kiều lộng lẫy.</p>
<p>Cái chết của anh chính là một thức tỉnh sau những đêm dài ngộ nhận. Nó còn là một lời tạ tội với những người thân quen cũ, là sự đoạn tuyệt dứt khoát với những người “bạn” mới, mặc dù dưới mắt họ, trước đó anh là một anh hùng. Cái chết của anh bỗng dưng bi tráng hơn cả Kinh Kha. Vì sao? Vì Kinh Kha còn có cả ba ngàn tân khách tiễn đưa bên bờ sông Dịch, còn tỏ được cái hào khí trên sông lạnh với những câu hát làm tóc trên đầu tân khách dựng ngược. Còn Trung lặng lẽ, âm thầm. Một mình mình biết, một mình mình hay. Khi bơi đến đặt chất nổ vào lòng cầu, trái tim Trung chắc đập dữ dội. Cây cầu bình yên ôm lấy anh như đã ôm anh suốt cả thời thơ ấu. Lúc này anh như một kiếm khách, một tay ôm chặt người yêu, mặt sát mặt, môi sát môi, một tay đâm cây kiếm bén ngót từ phía sau, xuyên qua tim nàng và xuyên qua tim mình !</p>
<p>Từ trong sâu thẳm, nhân vật Trung cho ta thấy vẫn còn chất người. Còn rất nhiều. Một người dám chết với những gì mình dấu yêu còn người hơn một người sống thấp hèn với những gì mà mình căm ghét. Chỉ một cái chết nhưng dưới hai mắt nhìn, một bên cho Trung là kẻ phản bội, một bên có thể gọi Trung là kẻ chung tình.</p>
<p>“Đọc” tới đây tôi bỗng nhớ đến phim <em>Cầu sông Kwaii</em>. Nhớ viên thiếu tá công binh người Anh. Ông ta biết rằng cây cầu của mình được dựng nên bằng máu và nước mắt sẽ bị quân du kích đồng minh phá hủy. Biết trước cái chết của cây cầu mà vẫn miệt mài làm ngày làm đêm không phải vì khuất phục trước sự bạo tàn của viên thiếu tá Nhật. Mà làm, vì danh dự của một quân nhân người Anh. Làm, để rồi cùng chết với cây cầu. Chết như thế cũng quả thật bi tráng.</p>
<p>Còn một nhân vật khác, cô đọng như một giọt máu khô. Đó là mẹ Kim, một người đàn bà câm (hay bỗng dưng bị câm?). Bà chỉ kêu lên A! A!, những tiếng kêu quái dị khi nhìn những xác chết. Bà là hình ảnh tượng trưng của Linh Hồn Huế. Trước nỗi đau sâu dài khiến bà hoá câm, chỉ phát ra những tiếng kêu đứt ruột.</p>
<p>Đọc xong vở kịch, tôi mơ hồ tưởng như mình đang ngồi trước một sân khấu mà ánh sáng và bóng tối được sử dụng bởi những kỹ sư tài giỏi, một dàn nhạc biết rải vào khoảng lặng những âm thanh nhiều màu sắc, những nhân vật được thể hiện bởi những nghệ sĩ đích thực, và tất cả được phù phép dưới bàn tay của một đạo diễn bậc thầy. Tôi như trông thấy ngọn lửa của cây cầu đã hóa thân trong đó có máu thịt của Trung. Ngọn lửa ở phía sau và người Mẹ câm ốm yếu, đen đúa ở phía trước. Bà đưa hai tay lên trời kêu A!A! trong khi màn từ từ hạ. Tôi nghe như Ôi Trời! Oh my God!</p>
<p>Tiếc rằng đó chỉ là giấc mơ. Cũng như tiếc rằng tác phẩm ai điếu cho một cây cầu này của Lữ Kiều chỉ là những trang bản thảo cho dù đã được bạn in thành sách như một tiếng thở dài.</p>
<p><em>14, 15, 16 /05/09</em>     <br /><em>Khuất Đẩu</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/9908/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

