<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Tùy bút</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/category/sangtac/tuy-but/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Thu, 24 May 2012 10:32:47 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.3.1</generator>
		<item>
		<title>C&#243; Một Lo&#224;i B&#244;ng Tr&#244;i Tr&#234;n S&#244;ng</title>
		<link>http://damau.org/archives/23142</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23142#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 18 Jan 2012 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Hai Trầu</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Tùy bút]]></category>
		<category><![CDATA[Văn hóa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/23142</guid>
		<description><![CDATA[Những năm tháng loạn lạc, người ta thường bỏ của chạy lấy người thì tất cả những gì quý giá như lư đồng, ngựa gõ, chén bát tô tộ đủ loại sành sứ ... đều được nhấn lút chôn dưới bùn trong các ao hồ dày đặc lục bình ấy ....]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>Bạn ơi, có bao giờ bạn nghe ai kể về loài bông trôi nổi bềnh bồng vô định trên những dòng sông chảy xiết như loài bông lục bình chúng tôi lần nào chưa? Tên gọi lục bình của tôi có lẽ rất quen nhưng cũng làm bạn rất đỗi ngạc nhiên, phải không? Thiệt tình ra, mọi tên gọi các loài vật trên mặt đất này, tự thân sự vật không cần biết tên mình là gì bạn à; mà tất thảy đều là do loài người đặt để ra ráo trọi!</p>
<p>Chẳng hạn riêng như loài lục bình, thì ở xứ xở vùng nhiệt đới gió mùa như miền sông nước miền Tây Nam nước Việt của bạn với tên gọi lục bình hay lộc bình (1) vì có người cho rằng cuốn lá của chúng tôi giống hình dáng những chiếc lục bình chưng bông trong nhà; có người còn gọi chúng tôi là bèo tây vì người ta tìm thấy chúng tôi đến đất Việt từ bên trời Tây (2); còn từ nước nào thì chúng tôi không rành; nhưng cũng nghe kể chúng tôi ở tuốt từ bên xứ sở Ba Tây (Nam Mỹ) lận…</p>
<p>Thiệt tình ra, ngay như bên Nam Mỹ, chúng tôi có mặt ở nhiều vùng đất thuộc khí hậu nhiệt đới có, mà ôn đới cũng có; rồi chúng tôi cũng có mặt ở châu Phi nữa, nhiều nhất là vùng hồ Victoria của xứ Kenya; chúng tôi còn hiện diện các vùng Châu Á như Nhựt Bổn, Ấn Độ, Phi Luật Tân, Tân Guinéa, bên Cao Miên và rồi cũng có ở phía nam nước Pakistan; còn ở Bắc Mỹ với những ao hồ đầm lầy vùng Texas, Louisiana, Florida của Hoa Kỳ thì loài lục bình này cũng đã sống qua nhiều mùa mưa nắng khá lâu rồi&#8230;</p>
<p>Sự hiện diện ở những xứ xở Hoa Kỳ này chúng tôi bị cản trở hơi bộn vì sự phát triển khá nhanh của bản tính của loài bèo sống trôi nổi của mình, phần nào làm cho các vùng thiên nhiên nơi đây bị trở ngại về các đường thoát nước. Do vậy, để tránh các tai nạn làm kẹt cứng các đường mương thoát nước nên một vài nơi tại các vùng này chúng tôi bị các luật lệ các địa phương nơi ấy cấm cư dân không được nuôi dưỡng loài lục bình này. Thành ra, sự có mặt của giống lục bình các vùng này giống như những người nhập cư không có đủ giấy tờ nên việc đi lại cũng gặp nhiều khó khăn trắc trở dữ lắm!</p>
<p>Về đặc tính của lục bình, chúng tôi có những thân hình ống mọc cao khoảng vài ba tấc mang lá hình hơi bầu tròn màu xanh lục, mặt trên của lá rất láng. Một bụi lục bình trung bình có từ sáu tới tám lá hình bầu tròn; cuống lá nở phình ra như bong bóng xốp ruột giúp thân lục bình nổi trên mặt nước dễ dàng. Rễ lục bình trông như bộ râu ông già chưa bạc nhiều thả lửng lơ trong nước, dài ngắn tuỳ nơi chúng tôi dừng lại mà ở nơi chốn ấy có mực nước sâu hoặc nước cạn. Sâu thì rễ dài ra thành thủy sinh vật, còn cạn thì rể bám luôn vào đất giống như các loài nê thực vật. Chỗ nước sâu rễ có khi dài năm sáu tấc là thường. Nhiều sách vở nói rễ lục bình dài một thước, nhưng thực tế bộ rể dài như vậy cũng không phải lúc nào cũng dễ tìm. Đến mùa nắng, lục bình trổ bông màu tím lợt, cánh bông giữa có đốm màu vàng và bao quanh đốm vàng ấy là một vòng màu tím; có 3 tiểu nhụy với lông mịn; noãn sào chừng 6 ly. Nang có ba ngăn với lớp da mỏng, hột nhiều sắp nằm ngang. Cuống bông đứng thẳng đưa bông vươn cao lên khỏi những chiếc lá màu xanh (3).</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Lc-bnh-ni-bn-sng-LTT.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="Lc-bnh-ni-bn-sng-LTT" border="0" alt="Lc-bnh-ni-bn-sng-LTT" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Lc-bnh-ni-bn-sng-LTT_thumb.jpg" width="379" height="285" /></a></p>
<p align="center"><em>Lục bình nơi bến sông Sa Đéc</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Chúng tôi sinh sản hơi nhanh. Một cây cái có thể nẩy ra nhiều chồi con rất mau và cứ thế sinh sản ào ào; các nhánh con này phát triển từ một cọng thân cứng cỡ bằng ngón tay thả dài trên mặt nước cách thân mẹ chừng vài tấc là mọc ra một bụi lục bình con và từ cây con này lại mọc ra cây con khác và cứ thế chúng tôi sanh sản mau lắm, tuỳ theo môi trường sống, nếu thích hợp với chùm rễ trôi trong nước chúng tôi có thể sanh sôi nẩy nở không biết đường nào mà tính cho xuể…</p>
<p>Còn bảo rằng lục bình có hai loại: <em>“loại thân thẳng như một đoạn gậy và cao chừng 5-6 tấc, lá lớn thường được hái để gói đồ thay cho lá chuối, lá sen; loại nhỏ hơn thân phình rộng chính giữa và túm nhỏ hai đầu, cao nhất khoảng một gang tay người lớn, lá cũng nhỏ hơn, loại này thân mềm nên được chuộng làm thức ăn gia súc hơn.”</em> (4) thì cũng hổng trật nhưng chưa đủ…</p>
<p>Thưa bạn, nếu căn cứ vào việc cao thấp của thân mà phân biệt chúng tôi hai loại như vừa kể thì chưa chắc lắm. Nói thế chẳng qua là vì ở sông nước miền Tây Nam Việt Nam chúng tôi phần lớn là loại lục bình có tên quen thuộc là <em>Eichhornia Crassipes</em> (<em>Common Water Hyacinth</em>); nhưng vì ở trong các mương vườn tàn cây che bóng mát, lục bình chúng tôi phải vươn mình lên cao hầu hứng chút ánh nắng mặt trời nên thân hình chúng tôi có hơi cao, còn các nơi ngoài chỗ nắng nhiều, những cọng lục bình không cần phải chen vai hít thở ánh nắng như trong các chỗ rậm rạp nên lá cũng nhỏ mà mấy cuống lá cũng thấp hơn các anh chị nằm trong bóng mát quanh năm là nhờ vậy.</p>
<p>Thiệt tình ra, các nhà nghiên cứu về lục bình cho biết chúng tôi có tới bảy loại dù cùng mang chung tên là lục bình. Điều này cũng dễ hiểu vì cùng loài nhưng khác giống là bình thường. Chẳng hạn có giống lục bình mang tên <em>Eichhornia Crassipes</em> (<em>Common Water Hyacinth</em>) mà chúng tôi vừa kể. Loại này chiếm đa phần trong các giống lục bình nơi miền sông nước Cửu Long. Rồi có giống lục bình với cái tên rất lạ là <em>A</em><em>n</em><em>chored Water Hyacinth</em> (<em>Eichhornia Azurea</em>); rồi lại có loại <em>Variable Leaf Water Hyacinth</em> (<em>Eichhornia Diversifolia</em>); và cũng có giống lục bình với cái tên rất Ba Tây như Brazilian <em>Water Hyacinth</em> (<em>Eichhornia paniceulata</em>) (5) …</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/waterhyacinth.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="waterhyacinth" border="0" alt="waterhyacinth" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/waterhyacinth_thumb.jpg" width="354" height="214" /></a></p>
<p align="center"><em>Common Water Hyacinth (Eichhornia Crassipes)(theo Wikipedia)</em></p>
<p align="center"><em></em></p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/anchorewathya.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="anchorewathya" border="0" alt="anchorewathya" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/anchorewathya_thumb.jpg" width="382" height="210" /></a></p>
<p align="center"><em>Anchored Water Hyacinth (Eichhornia azurea)</em> <em>(theo Wikipedia)</em></p>
<p align="center"><em></em></p>
<p><em></em></p>
<p align="center"><em><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/brawathya.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="brawathya" border="0" alt="brawathya" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/brawathya_thumb.jpg" width="329" height="221" /></a></em></p>
<p align="center"><em>Brazilian Water Hyacinth (Eichhornia Paniculata)(theo Wikipedia)</em></p>
<p align="center"><em></em></p>
<p>Thưa bạn, đó là lược kể về vài giống khác nhau cùng mang tên chung là lục bình, nhưng còn họ lục bình mà các nhà khoa học tìm ra và đặt tên chung là họ <em>Pontederiaceae</em> (6) thì ngoài lục bình (<em>Eichhornia</em>), chúng tôi còn có bà con với rau mác (<em>Monochoria</em>) nữa. Cũng như lục bình, các anh chị rau mác có rất nhiều loại khác nhau như rau mác thon (<em>Monochoria Hastata</em>), rau mác lá bầu (<em>Monochoria Ovata</em>), rau mác bao (<em>Monochoria Vaginalia</em>), rau mác cao (<em>Monochoria Elata</em>), rau mác lam (<em>Monochoria Cyanea</em>)…</p>
<p>Dù cho lục bình bình hoặc rau mác, khi cần bạn có thể tước những mầm non dùng làm rau trong các bữa ăn đạm bạc nơi miền quê đồng ruộng được. Người ta có thể ăn bông lục bình nhưng bông thì lạt, không ngon bằng những đọt non mềm mới nhú ấy. Mấy anh chị em chúng tôi trong dòng họ lục bình rau mác này là những loài cỏ nội hoa đồng chỉ mang đến cho bạn chút ít chất tươi non hầu lót lòng khi trưa nắng chiều mưa vùng gió mùa của bạn; có được một chút hữu dụng như vậy nhiều lúc chúng tôi cũng tự an ủi mình và mừng trong bụng lắm rồi, không mơ ước gì hơn.</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/raumacthon.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="raumacthon" border="0" alt="raumacthon" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/raumacthon_thumb.jpg" width="260" height="311" /></a></p>
<p align="center"><em>Rau mác thon (Monochotia hastata)(theo Wikipedia)</em></p>
<p align="center"><em></em></p>
<p><em></em></p>
<p>Ngoài ra, trong những vạt đất có nhiều bùn và rơm rạ cặp theo các mé mương, cạnh bên những đám lục bình và rau mác, chúng tôi thỉnh thoảng cũng bắt gặp các anh chị cù nèo mọc lá non xanh mơn mởn với những bông vàng rất xinh xắn. Những bụi cù nèo mập mạp này cũng góp phần làm những món rau đạm bạc trong các bữa cơm của dân ruộng thêm chất tươi với nhiều vị mát trong lành.</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/bongcuneo.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="bongcuneo" border="0" alt="bongcuneo" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/bongcuneo_thumb.jpg" width="339" height="218" /></a></p>
<p align="center"><em>Bông cù nèo</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Bạn ơi,</p>
<p>Giờ xin trở lại kiếp phiêu bồng trôi giạt của loài lục bình chúng tôi thêm chút nữa nơi vùng sông nước miền Tây Nam Việt Nam này hầu có thêm vài ba câu chuyện giải buồn. Có tài liệu cho rằng chúng tôi tới vùng đất này từ năm 1905 (7). Việc này thực hư khó biết cho chính xác vì các tài liệu ấy cũng chỉ nói vậy thôi chứ người ta không đưa ra nhũng giấy tờ gì chứng minh về điều này; vả lại, người ta căn cứ vào thời Tây vô đất Việt nên mới có bèo Tây. Nghe thì nghe vậy nhưng chưa lấy gì làm chắc chắn lắm bởi ai đem chúng tôi vô đây và đem vô xứ xở đồng ruộng bao la bát ngát với sông rạch chằng chịt nơi này bằng cách nào? Dĩ nhiên rồi, nếu từ bên Ba Tây, bên Kenya mà trôi qua Việt Nam thì làm sao chúng tôi trôi cho nổi vì đường xá quá xa mà lại là đường biển đại dương với sóng cao gió lớn nữa thì lại càng cách trở biết là bao! Nhưng có phần chắc là chúng tôi đã có mặt nơi vùng đồng bằng Cửu Long này kể ra cũng lâu lắm rồi, lâu đến độ hết biết năm tháng nào là năm tháng khởi đầu của những dề lục bình trôi miên man trên những dòng sông nước ngọt bốn mùa …</p>
<p>Thế rồi những năm giặc giã loạn ly hồi đầu thập niên 1940, chúng tôi lan tràn khắp các kinh mương sông rạch. Dường như nơi nào có kinh mương là có lục bình. Lục bình lan ra cả trên đồng sâu ruộng thấp. Lục bình có trong những mương ruộng, mương vườn. Lục bình trong những ụ chà, trong những búng đập, trong những ao hồ. Lục bình trong những đăng bửng chờ cá bắt tôm. Lục bình trên những mé sông, mé cồn, mé bãi. Dường như đâu đâu lục bình cũng có mặt như một loài cỏ nổi khá thân quen với dân quê, dân ruộng và cũng khá thân quen với ghe xuồng xuôi ngược nơi những bến sông ghé lại của khách thương hồ…</p>
<p>Ở những nơi chốn ấy, chúng tôi cũng có biết bao niềm vui và nỗi lo. Nếu là cư dân nơi đìa mương nào đó chẳng hạn như mương ông Nhà Lầu vùng Mặc Cần Dưng hoặc xa xa dưới kia miệt Đìa Bèo hay miệt lung Ngọc Hoàng vùng Ngã Bảy (Phụng Hiệp) thuộc Cần Thơ, thì chúng tôi là những mái nhà che mát cho biết bao thế hệ cá lóc cá rô sống lưu lai nơi những vùng nước ngọt pha chất phèn chua nơi những lung vũng kinh mương ấy. Bạn có biết, khi mùa nắng bắt đầu tháng giêng tháng hai là lúc mùa tát đìa khởi sự, đó cũng là lúc dưới những chùm rễ dài hai ba tấc của chúng tôi giống như bộ râu người già chưa bạc nhiều ấy cá ôi thôi là cá . Có nhiều đoạn kinh mương nước sắc lại, chưa cần phải dùng gàu dai tát cạn, bạn chỉ cần lấy một cái nôm và cái giỏ bằng tre, rồi bạn theo những kinh mương cạn ấy bạn lôi những cụm lục bình bỏ qua một bên và cá nằm phơi mình đen mun trên những mặt bùn khô nước ấy. Lúc bấy giờ bạn chỉ cần lấy nôm úp mấy con cá nằm phơi mình và thò tay bắt cá trong nôm bỏ vô giỏ là cách bắt cá gọn nhất của những năm tháng cá tôm trù phú nơi này. Cá rất ưa nằm ẩn mình dưới những dề lục bình như vậy vừa mát mình vừa khỏi phải chúi xuống bùn sâu làm gì cho bị ngộp, khó thở.</p>
<p>Đó là cá nơi những mương cạn vào mùa nắng tháng hai với những vạt lục bình che khuất mặt mương. Còn mương vườn, mương ruộng, rồi đìa cạn, đìa sâu vào mùa nắng những lúc làm lóng tát mương tát đìa, lục bình cũng làm cho cá tôm có nơi trú ngụ thật vô cùng lý tưởng. Khỏi phải nói rồi, như bạn biết, là mỗi khi tới giai đoạn bắt cá sau khi đìa mương tát cạn, chúng tôi nghe dưới lớp rễ của mình cá chen nhau lách mình đầy nhóc hết biết đường trở về sông sâu nước chảy.</p>
<p>Cái dở của các giống cá đen là cứ mê lục bình, không chịu rời khỏi những mương đìa ấy để ra sông sơm sớm mà còn có dịp mùa mưa năm sau trở lại những cánh đồng ngập nước vào tháng bảy, tháng tám để có thời giờ lo quậy ổ đẻ trứng nở ròng ròng cho những đời sau như chu kỳ mưa nắng cùng mùa màng của trời đất mà thong dong bơi lội giữa dòng đời .… Cái dở đó là do cá cứ ỷ y lục bình che chở chúng mãn đời, trong lúc đó lục bình giữ cho mình còn chưa rồi nói gì che chở cho ai được. Phải thế không bạn?</p>
<p>Rồi bạn ơi, có những năm tháng quá loạn lạc, nơi những hầm hố ao hồ, lục bình chúng tôi còn là những nơi kín đáo với biết bao lư đồng, ngựa gõ, chén bát tô tộ đủ loại sành sứ bên Tàu của những nhà giàu có phải bỏ nhà tản cư chạy giặc. Lúc túng cùng, người ta thường bỏ của chạy lấy người thì tất cả những gì quý giá ấy đều được chôn sâu dưới những hầm chứa trong vườn hoặc là đem nhấn lút dưới bùn trong các ao hồ dày đặc lục bình ấy để giấu bớt các vật quí ấy nhằm khi yên giặc trở về có mà dùng trong nhà. Loạn ly bạn ơi, ở đâu lục bình cũng vun chùn vì đâu có ai dám trở lại tát mương tát hầm gì được, nên lúc bấy giờ lục bình sống vững vàng lắm &#8230;. Cũng vào cái buổi loạn ly những năm 1939-1945, có một điều chúng tôi luôn luôn kinh hoàng phải chứng kiến những cảnh thây người trôi trên sông bám vào các dề lục bình mà mỗi lần hồi tưởng lại, lần nào cũng như lần nào, chúng tôi vô cùng ớn hồn, biết sợ cảnh đời chung quanh sao nhiều lúc quá điêu linh, điên đảo!</p>
<p>Không như lúc loạn lạc, khi thanh bình người ta sau mấy năm tản cư xa nhà nay đã trở về, người này lên liếp làm rẫy, người kia đào mương lập vườn, tới tháng nắng đám lục bình chúng tôi dày đặc lúc loạn ly nay bị chủ vườn vớt lên ủ vào các gốc cam gốc quít, bụi chuối, vườn trầu, đâu đâu lục bình vừa che nắng cho cây ấm gốc vừa làm phân cho cây khi rễ và thân chúng tôi mục rệu thành đất thành bùn. Vì vậy lục bình chúng tôi trong lúc khô chết cũng không thành vô ích nơi những kinh mương sông nước miệt vườn ruộng ấy. Phải thế không bạn?</p>
<p>Đó là đời sống của loài lục bình trên đìa mương nước không sâu cho lắm, nhưng nơi các sông sâu như sông Cửu Long từ Châu Đốc theo hai nhánh Tiền Giang, Hậu Giang dòng sông chạy dài xuống các địa danh xuôi dòng ra biển, loài lục bình vì rễ ngắn không bám vào đất bùn được nên chúng tôi lại tấp vô các mé sông nơi những đống chà, những vàm rạch mà lênh đênh trên mặt nước những tháng ngày. Thế rồi chúng tôi không có nơi nào là quê là nhà cố định hết. Chính vì thế vào những năm xa xưa có một hồn nghệ sĩ nhận ra kiếp sống bình bồng ấy và ông đã viết:</p>
<blockquote><p><em>Bèo giạt về đâu hàng nối hàng?        <br /></em><em></em><em>Mênh mang không một chuyến đò ngang.        <br /></em><em></em><em>Không cầu gợi chút niềm thân mật,        <br /></em><em></em><em>Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng…”(8)</em></p>
</blockquote>
<p>Bạn thử nhớ lại mà xem, lục bình chúng tôi có nơi nào là nhà là cửa gì đâu! Tháng chín, tháng mười người ta bắt đầu chặt cây chất chà cho cá vô ở cũng là lúc người ta vớt lục bình bỏ vô đống chà. Ở đó chúng tôi sanh sôi nẩy nở mau lắm và làm các dống chà ấm cúng thêm. Rồi cá trên sông thấy chỗ này ấm áp, yên tĩnh coi bộ an cư được nên chúng rủ nhau ghé lại rồi ở luôn hổng chịu bơi đi. Có đứa còn đào bùn quậy ổ trong đống chà để đẻ như cá ngát, tôm càng là mê mấy ụ chà dày đặc lục bình này dữ lắm. Những cái ổ tròn tròn miệng rộng bằng miệng thúng dê dùng để dê lúa, đáy ổ cá tôm láng coóng. Đang ở yên ấm như thế, cá tôm đâu biết gì bên dòng nước miên man trôi qua lại mỗi ngày. Bỗng một hôm nước kém, xuồng ghe tấp lại, người buông lưới, kẻ cắm say, người thả đăng, kẻ bao chà và rồi lục bình chúng tôi sống thành một rừng xanh mướt ấy bị mấy người dỡ chà tốc chúng tôi lên và ném ra giữa dòng sông nước chảy để chuẩn bị cho một kỳ gạn lưới dỡ chà vào những ngày nắng tháng giêng, tháng hai nơi vùng sông nước Cửu Long. Thế là chúng tôi mất nơi trú ngụ và trôi theo dòng nước xiết chẳng biết về tới bến nào!</p>
<p>Ngoài ra, cảnh đời bèo giạt của loài lục bình như câu thơ vừa kể còn là do những lúc dân ruộng nơi vùng lúa mùa này họ cần xã mương dọn cỏ vào những mùa vụ phát cỏ dọn mương, nên lục bình cũng ào ào được đùa đi, xô đẩy ra khỏi những kinh mương sông rạch nhỏ để trôi về sông lớn vào những tháng sắp sửa tát mương, tát đìa hoặc những tháng nước bắt đầu giựt sau mùa nước ngập. Do vậy mà mới có cảnh <em>“bèo giạt về đâu hàng nối hàng” </em>trên những dòng sông nước chảy xiết. Hai tiếng “<em>lục bình</em><em>,</em>” chúng tôi thiển nghĩ, chữ <em>“bình”</em> ngoài nghĩa đen chỉ định về một loài cỏ nổi có hình dáng như những chiếc lục bình để chưng bông mà người đời thường dùng nơi miền sông nước này, nó còn mang nghĩa bóng khác nhằm chỉ dòng đời loài cỏ chúng tôi luôn trôi giạt bềnh bồng vô định và chúng tôi thiển nghĩ, đây mới đích thực là một tên gọi rất phù hợp với kiếp sống phiêu bồng vô định của lục bình&#8230;</p>
<p>Bạn ơi, ngoài ra, được biết ở những nơi như các vùng đất Hoa Kỳ mà chúng tôi vừa kể bên trên, thỉnh thoảng có ai đó thích màu sắc thiên nhiên thì họ thường tìm đến các nơi bán cây cỏ sống trong nước nuôi trong ao hồ rồi mua chúng tôi về nuôi làm cảnh thi lúc bấy giờ lục bình lại có giá. Thường thường, mỗi nhánh lục bình vừa vừa với ba bốn lá và một chùm rễ không dài lắm, khách mua có khi phải trả với giá 10 đôla cho một nhánh nhe bạn chứ không có <em>“</em><em>giá bèo</em><em>”</em> như các nơi tràn ngập lục bình thuộc vùng sông rạch Cửu Long.</p>
<p>Thế mới biết dù chúng tôi vốn là bèo, nhưng vài dịp người ta lại bán mắt thấu trời. Nhắc về điều này, chúng tôi chợt nhớ nhiều món hàng rất cũ, rách te tua như sách cũ, tem thư cũ vậy mà có lúc có người mê nó cũng phải trả giá rất cao mới mang các bạn ấy về nhà được. Khi mua được món hàng mình mê rồi, ai mà không vui, trừ khi gặp món hàng dỏm thì mới buồn cho một giá mắt; nhưng lục bình chắc ít ai mua lục bình giả vì lục bình giả thì tự thân nó đã vô hồn vô cảm rồi làm sao mà dụ dỗ cảm hoá ai được&#8230;</p>
<p>Dĩ nhiên rồi, người có ý đập đổ thì mấy lúc gặp được những người có chút đam mê như vậy họ sẽ vui vì kiếm được thêm cho cái túi của họ một số tiền khá nặng. Thành ra, thường thường việc mua bán mắt rẻ là do luật cung cầu, nhiều thì rẻ, ít thì mắt nhưng cũng còn tùy nơi sở thích của người mua nữa. Khi người ta không thích cho dù là vàng, kim cương, ngọc ngà châu báu quyền cao tước trọng gì mà đem bán rẻ đi nữa, người ta vẫn không muốn mua…</p>
<p>Nhắc điều ấy thật tình chúng tôi cũng không có ý muốn tự tâng bốc mình làm gì vì ai ai cũng biết trên mặt đất này không có vật nào trời đất sanh ra nhằm mục đích bán chác, trao đổi mà mọi bán chác trao đổi ấy đều là do con người bày ra ráo trọi &#8230;</p>
<p>Bạn ơi,</p>
<p>Giữa dòng đời với biết bao phong ba bão táp này, lục bình chúng tôi cũng còn có chút an ủi là các nhà nghệ sĩ còn nghĩ tới mình chút chút. Những vần ca dao của giới bình dân nơi các làng quê miền Tây còn nhớ tới chúng tôi khá bộn. Chẳng hạn như:</p>
<p><em>Hạc giao đầu, phụng lại giao đuôi,      <br /></em><em></em><em>Anh về ở dưới bỏ tui một mình.      <br /></em><em></em><em>Nước trôi cuốn cụm lục bình,      <br /></em><em></em><em>Anh đi sông biển biểu mình đừng nhớ thương.</em></p>
<p>Có một bạn trẻ vùng Cà Mau cũng nhắc về lục bình, cô ấy viết<em>:</em><em> </em><em>“Có lần đi Kiên Giang, qua phà Tắc Cậu, tôi</em> <em>lại thấy ở lục bình một hình ảnh khác, rất “đời”. Nơi này gần cửa biển, lục bình từ các sông trôi đến dìu dập. Nhưng lạ, bầy đàn đông đúc, mà có vẻ tan tác cô đơn. Hăm hở trước biển khơi mà như dùng dằng nuối tiếc dòng nước cũ. Lựa chọn nhưng vẫn hoài nghi, hoang mang. Hay lục bình chỉ là lục bình thôi, chỉ tôi gởi tâm trạng của mình vào rồi thấy mình là lục bình trôi trôi ngơ ngác.</em></p>
<p>xxx</p>
<p><em>Và chiều nay, trong cái quán lạ bên dòng sông xa lạ, tôi hơi đắn đót bởi ý nghĩ, con người ta còn tự cầm tù mình bằng những ảo vọng ngông cuồng được thì sá gì đám lục bình hèn mọn này, sá chi con chim trong lồng kia… Thôi, trở vô bàn ăn sướng hơn. Mình cũng bị nhốt như đám lục bình đó, mắc gì tiếc thương cho chúng.”(9)</em></p>
<p>Và cũng từ miền Rạch Giá, Kiên Giang ấy, có một nhà nghệ sĩ với cái tên là Lý Dũng Liêm, đã nhân cách hoá tôi với một người con gái qua lời bài hát <em>“Hoa Tím Lục Bình”</em> trữ tình, tha thiết biết bao:</p>
<blockquote><p><em>Có một loài hoa buồn trôi lững lờ        <br /></em><em></em><em>Theo nước hững hờ trôi mãi về đâu</em><em>        <br /></em><em></em><em>Mãi trôi, trôi chẳng hết sầu        <br /></em><em></em><em>Nên loài hoa ấy đượm màu tím (tìm) thương</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Có một loài hoa vừa đi vừa nở        <br /></em><em>Em lấy chồng rồi anh ở vậy thôi        <br /></em><em>Nữa mai trông đứng nhớ ngồi        <br /></em><em>Biết loài hoa ấy vừa trôi vừa buồn</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Loài hoa ấy, Lục bình        <br /></em><em>Loài hoa ấy là đời em        <br /></em><em>Dòng sông ấy vô tình        <br /></em><em>Chở hoa về bên anh</em></p>
<p><em>Loài hoa ấy, Lục Bình        <br /></em><em>Loài hoa ấy là tình em        <br /></em><em>Tình yêu ấy âm thầm        <br /></em><em>Niềm vui cũng lặng câm</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Em ơi em, sao em không nói lời nào        <br /></em><em>Cho anh ru thành lời ca dao        <br /></em><em>Nở chi hoa tím Lục Bình        <br /></em><em>Trôi chi trôi giữa dòng tình đôi ta” (10)</em></p>
<p><em></em></p>
</blockquote>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/nsLyDungLiem.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="nsLyDungLiem" border="0" alt="nsLyDungLiem" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/nsLyDungLiem_thumb.jpg" width="329" height="234" /></a></p>
<p align="center"><em>Nhạc sĩ Lý Dũng Liêm (Hình do Huỳnh Công Tử tặng)</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Thưa bạn,</p>
<p>Qua câu chuyện về một loài bèo như lục bình mà chúng tôi vừa tự thuật để làm quà cùng bạn thật ra lục cũng chỉ là một loài cỏ nổi như bao loài cỏ khác trên mặt đất này, chẳng lấy gì làm đặc biệt &#8230;. Qua bao vật đổi sao dời, qua bao bận sông sâu sông cạn, qua bao mùa nắng cháy mưa dầm bùn lầy nước đục, thân phận của loài bông trôi trên sông chúng tôi cũng theo dòng đời mà trôi nổi phong trần. Đó có lẽ là kiếp bèo giạt rất hợp với câu thơ của thi sĩ Quách Tấn trong một lần tâm sự cùng nhà văn Nguyễn Hiến Lê thuở nào:</p>
<p><em>“Đục trong phú chẳng thua bần,      <br /></em><em></em><em>Gặp phong trần cũng phong trần như nhau.”(</em><em>11</em><em>)      <br /></em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Kinh xáng Bốn Tổng ngày 10 tháng 12 năm 2011</em></p>
<p><em></em></p>
<p><strong>Cước chú:</strong></p>
<p><em>1</em><em>&amp;2/ Theo</em><em> </em><em>“Những Cây Thuốc và Vị Thuốc Việt Nam” của giáo sư Đỗ Tất Lợi, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, năm 2005, trang 129.</em></p>
<p><em>3/ Theo Cây Cỏ Miền Nam của giáo sư Phạm Hoàng Hộ do Trung tâm học Liệu Bộ Giáo Dục xuất bản, quyển II, năm 1972, trang 639.</em></p>
<p><em>4</em><em>/</em><em> Bài “Lục Bình Tim Tím” của tác giả Tạ Phong Tần, trang mạng tạp chí Trẻ News, mục Hương Vị Quê Hương, ngày 21-07-2011.</em></p>
<p><em>5</em><em>/</em><em>Theo Tự Điển Bách Khoa Mở Wikipedia</em></p>
<p><em>6</em><em>/</em><em> Theo “Cây Cỏ Miền Nam” của giáo sư Phạm Hoàng Hộ (sđd).</em></p>
<p><em>7</em><em>/</em><em> Theo “Những Cây Thuốc và Vị Thuốc Việt Nam” (sđd ở cước chú 1).</em></p>
<p><em>8</em><em>/</em><em> Thơ Huy Cận, theo cuốn Du ký và Biên khảo “Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười” của Nguyễn Hiến Lê, loại sách Học Làm Người xuất bản, năm 1954, trang 93.</em></p>
<p><em>9/Trích bài Lục Bình của Nguyễn Ngọc Tư trong tập “Sống Chậm Thờ @” của Nguyễn Ngọc Tư &amp; Lê Thiếu Nhơn, nhà xuất bản Thanh Niên, năm 2006, trang 5.</em></p>
<p><em>10/ Nhạc phẩm “Hoa Tím Lục Bình” do nhạc sĩ Lý Dũng Liêm quê Rạch Giá sáng tác, nhờ sự chép lại theo trí nhớ của thi sĩ Ngu Yên, một bản nhạc mà Ngu Yên rất thích và mỗi khi có buổi họp mặt các bạn thường đề nghị Ngu Yên ôm đàn và hát bản nhạc này với giọng trầm buồn, tha thiết và truyền cảm.</em></p>
<p><em>Ngoài ra, chúng tôi còn tìm thấy thêm lời bài hát này trên internet nguyên văn dưới đây, nhưng khi hát, ca sĩ hát giống như lời của Ngu Yên ghi có câu: </em><em>“Có một loài hoa vừa đi vừa nở”(không phải “trôi” và theo Ngu Yên chữ “đi” mới là lạ và hay trong trường hợp này):</em></p>
<blockquote><p><em>Có một loài hoa buồn trôi lững lờ        <br /></em><em></em><em>Theo nước hững hờ xuôi mãi về đâu        <br /></em><em></em><em>Vẫn trôi trôi chẳng hết sầu        <br /></em><em></em><em>Nên loài hoa ấy đượm màu tím thương</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Có một loài hoa vừa đi vừa nở        <br /></em><em></em><em>Em lấy chồng rồi anh ở vậy thôi        <br /></em><em></em><em>Nữa mai thương đứng nhớ ngồi        <br /></em><em></em><em>Biết loài hoa ấy vừa trôi vừa buồn</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Loài hoa ấy lục bình        <br /></em><em></em><em>Loài hoa ấy đời em        <br /></em><em></em><em>Dòng sông nỡ vô tình        <br /></em><em></em><em>chở hoa về bến mới</em></p>
<p><em>Loài hoa ấy lục bình        <br /></em><em></em><em>Loài hoa ấy đời em        <br /></em><em></em><em>Tình yêu ấy âm thầm        <br /></em><em></em><em>niềm đau cũng lặng câm</em></p>
<p><em>Em ơi sao không nói lời nào        <br /></em><em></em><em>Cho anh ru thành lời ca dao        <br /></em><em></em><em>Nở chi hoa tím lục bình        <br /></em><em></em><em>Trôi chi trôi giữa dòng tình đôi ta</em></p>
<p><em>(Lý Dũng Liêm)</em></p>
</blockquote>
<p><strong><em></em></strong></p>
<p><em>11</em><em>/ Thơ của Quách Tấn, trích trong “Những </em><em>B</em><em>ức </em><em>T</em><em>hư </em><em>Đ</em><em>ầm </em><em>Ấ</em><em>m”, do nhà xuất bản Tổng Hợp Tp. HCM xuất bản, năm 2010, trang 162, lá thư gởi Nguyễn Hiến Lê đề ngày 10-6-1978.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23142/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ăn tết nơi m&#244;?!</title>
		<link>http://damau.org/archives/23060</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23060#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 11 Jan 2012 07:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thái Kim Lan</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Tùy bút]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/23060</guid>
		<description><![CDATA[... [Gió] lạnh đêm trừ tịch ùa đến, làm sởn gai da thịt. Bỗng thấy trơ trọi vô biên, chợt như hiện thân chiếc bóng mình đang đứng trên ngọn đồi đã thẫm đen một buổi chiều cuối năm đợi xe về nhà trọ. Năm Tết đầu tiên xa Huế, xa nhà, gió buốt thốc từng cơn lạnh lòng nhớ nhà nhớ mẹ.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em>Tháng giêng ăn tết ở nhà …</em></p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/HoaGiayngayTet_thumb1.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto" title="Hoa-Giay-ngay-Tet_thumb1" border="0" alt="Hoa-Giay-ngay-Tet_thumb1" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/HoaGiayngayTet_thumb1_thumb.jpg" width="285" height="372" /></a></p>
<p><em></em></p>
<p align="center"><em>Bình Giấy Hoa Thanh Tiên ngày Tết (Ảnh: Thái Kim Lan)</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Cuối cùng, sau bao lần lầm thầm mơ ước một mình, nhiều lần ấp úng bâng quơ, nhiều phen nói rõ to cái điều mong muốn được ăn Tết ở nhà sau mấy mươi năm xa Huế, chồng tôi đồng ý gật đầu, Mai Lan cũng gật gật cái đầu be bé, cười tí toe cho mạ đi, và tôi khăn gói về quê Ăn Tết.</p>
<p>Khi kéo chiếc va li ra khỏi phi trường Phú bài, lòng tôi hớn hở, tim tôi nhảy thót, tai tôi nghe loảng xoảng cái “bồng binh dồn” nhớ Tết quê hương đang vỡ vụn dưới chân … Mỗi bước là mỗi huy hoàng xua bóng tối, cái tâm bệnh nhớ Tết quê hương sẽ thôi không còn lộng hành dằn vặt người xa quê mô nữa, có nghe bước chân … ta về …</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/Dan-Lang-Thanh-tien-Pham-Ba-Thinh.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="Dan Lang Thanh tien Pham Ba Thinh" border="0" alt="Dan Lang Thanh tien Pham Ba Thinh" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/Dan-Lang-Thanh-tien-Pham-Ba-Thinh_thumb.jpg" width="504" height="337" /></a></p>
<p align="center"><em>Dân làng Thanh Tiên đưa hoa giấy đi bán chợ Tết (Ảnh: Phạm Bá Thịnh)</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Tôi đang về đây, đến đó … gấp bước mà đi … vì tôi đang … về … “về nhà”… với một nỗi hăm hở chưa từng, hăm hở sẽ ngốn ngấu hết những điều mà trong cơn mơ nhớ nhà nhớ Tết đã mấy mươi năm lận đận không nguôi ….</p>
<p>27 Tết! Tuy đã muộn nhưng vẫn còn kịp chán thì giờ để làm mứt. Trái mứt me chạy hàng đầu trong trí nhớ. Thuở học trò thích ăn chua! Mứt me! Ơi me dầm chua chua ngọt ngọt thèm chảy nước miếng. Còn nhớ ngày nào chị tôi bắt tôi ngồi cạo lớp vỏ me nâu nơi sân mà tôi nhất định trốn vào một góc để đọc cho xong cuốn tiểu thuyết Nhất Linh, khi ngẩng đầu lên được là chỉ biết há hốc mồm trầm trồ thẩu mứt của chị khéo làm sao!</p>
<p>28 Tết …. Ta hãy làm mứt bí đao như mẹ ngày nào. Mẹ làm mứt bí đao trắng trong như miếng ngọc thạch được bà khen hoài mỗi năm ngày mồng Một Tết. Ai đã thử cắn miếng mứt bí đao chưa nhỉ? Tôi thì sợ nó vì nó vừa quá đẹp vừa quá ngọt! Nói ra thì Bà với Mẹ chê ngu, ngon rứa mà sợ!</p>
<p>Tôi thì tôi chỉ thích nhất bánh măng, thơm mùi măng thiên nhiên, hầu như đang tuyệt gốc vì khó làm, nhưng tại sao không làm lần này? Lại còn bao nhiêu thứ bánh Huế: bánh mận, bánh sen tán, bánh phục linh, bánh su sê, bánh ít đen …. Năm nay “đơm quả bồng” giao thừa và cúng ông bà đầu năm phải lộng lẫy cao ngất hơn năm nào! Còn nhớ các bác gái trổ tài trên nhà thờ họ ở gần chùa Linh Mụ &#8211; rực rỡ làm sao những quả bồng chưng ngày tết!</p>
<p>Còn dư ngày 29 Tết, dành cho việc chuẩn bị gói bánh chưng bánh tét, chơ chi nữa! Ngâm nếp, ngâm đậu, đặt thịt heo tươi, bẻ lá…Còn nhớ thời xưa, ngày cuối năm mẹ bảo các anh đạp xe lên vườn nhà thờ xin mệ lá dong, lá chuối, lá dừa. Thế là cả bọn rủ nhau đua xe đạp trong gió lạnh, qua cầu Gia Hội, qua Phú Văn Lâu, chợ Kim Long, vừa đạp vừa cười dòn hơn bắp rang!</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/mo_hang_dau_Nam.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="mo_hang_dau_Nam" border="0" alt="mo_hang_dau_Nam" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/mo_hang_dau_Nam_thumb.jpg" width="460" height="333" /></a></p>
<p align="center"><em>Bán hàng Tết trước Phú Văn Lâu (Ảnh: </em><a href="http://c1quochoc.web.officelive.com/c17.aspx" target="_blank"><em>C1 Quốc Học Huế</em></a><em>)</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>A! tôi sắp sửa chui người vào … trong một cái Tết thật sự ở nhà!</p>
<p>Khi cô nhân viên cắt miếng giấy hành lý trước khi ra cửa, mắt tôi rực ánh lửa đêm Giao thừa nấu bánh sắp tới, chấp chóa cả cái khung cửa ra sân bay, làm chao đảo mắt nhìn. Tôi giao cái va li vào tay anh cả, người lạng đi như say.</p>
<p>Nắng Phú bài vẫn như độ nào, vừa hanh hanh bóng núi, vừa lộng gió đồng quê … hơi nóng bất thần phả vào mặt, bóp nghẽn con tim, ngưng máu trong nửa giây, hoa hoa mắt, cơ thể chớp nhoáng như rơi tòm vào một lỗ hổng, rồi vùng lên hối hả…</p>
<p>Vẫn như thế mỗi khi bước chân trên nền ga Phú bài … cái cảm giác tê người trong nắng … nhớ ấy. Và tiếng rù máy rè rè của chiếc Landrover cũ kỹ … Anh tôi mỉm cười trong khi mày mò vặn chìa khóa xe, tìm cho được điểm chạm đã mòn của động cơ. Chiếc xe chồm lên đột ngột rồi lúc lắc chạy như người đi cà nhắc. Tôi níu tay nơi khung xe, nhìn sang anh, vẻ trầm tĩnh hiền hòa của anh, chẳng bốc một tí ti gì hơi Tết, pha nguội phần nào cái nóng bếp lửa Giao thừa đang hừng hực trong tôi .…</p>
<p>Dần dà từng chặn, qua luống đồng ngập nước loang loáng bóng núi chạy ngược về Nam, cho đến khi đến nhà thì … cái bếp lửa hầu như tắt ngấm … theo với cái bếp ga lạnh tanh trong nhà. Một nỗi hiu quạnh nào đó xông lên đột ngột len vào người, mặc cho buổi tái ngộ anh em làm vui lòng không nhỏ, nhưng ngó quanh thì thật là đơn chiếc.</p>
<p>Căn nhà rộng, vắng người, trẻ không có, người già … cũng không, (tôi vẫn xếp anh tôi thuộc thế hệ trẻ … có lẽ để mình cũng đừng già theo), nếu có mẹ ngồi cạnh bà nơi sập gỗ, thì căn nhà chắc đã rộn ràng tiếng chào hỏi…</p>
<p>Ðêm nằm ngủ nghe lạnh một bên lưng.</p>
<p>Sáng sớm thức giấc, tôi gọi điện cho con: “Bé ơi, mạ đã đến Huế rồi! Ui chao nhà vắng quá! E cái tết ni mạ ăn một mình con nờ, vì ai cũng bận rộn lo Tết cho gia đình riêng cả. Tết ở Muenchen coai rứa mà e vui hơn con ơi!”</p>
<p>Tôi nghe đứa con cười nhỏ nhỏ bên kia. Hắn hay thương hại “người Mạ” nớ vì những chuyện loay hoay, có những cơn nhớ nhà ray rứt lạ lùng mà hắn không có, hắn cũng thương Huế từ khi lọt lòng, nhưng không bị dằn co giữa hai đầu múi Huế &#8211; Muenchen vô ích như rứa.</p>
<p>“Rứa thì đáng kiếp Mạ rồi! Ai biểu mạ đoài về! Chừ lại kêu chắc ăn tết buồn xo!” Giọng Huế của Bé rặt giọng bà ngoại xưa, nghe như có lẫn tiếng mắng của Mạ ngày nào! Nhưng tiếp theo, đứa con từ tâm an ủi, biết chia lòng với mẹ “Thôi mạ cứ ăn Tết cho vui chơ,” vì hắn biết rõ tính của người Mạ ni không chịu thua hoàn cảnh. Hắn còn tiên tri “Không can chi mô, rứa rồi Tết hắn vui cho Mạ coai. Mạ đừng buồn. Vài bữa về đây Mạ lại nhớ cái tết ni cho mà coai!”</p>
<p>Hắn cười biết nói đúng tim đen “Con thương Mạ hí!” Tôi cũng cười, một nửa miệng bên kia gần như mếu. Tôi muốn chạy về ôm con…</p>
<p>Nói cho đúng, ngoài đường người ta đi sắm Tết xôn xao. Huế rộn rịp thấy rõ trên các nẻo đường. Nào chợ hoa, chợ trái cây, hàng mứt hàng bánh, muôn sắc tưng bừng, dù cát bụi nghèo nàn của trận lụt vừa qua vẫn còn quấn chân. Người đi đông nghịt, xe honda chạy rào rào. Tất bật – stress cho Lễ Tết thấy rõ nơi từng dáng đi. Ấy vậy mà quay lưng vào nhà, tôi cảm nghe nỗi bất lực chạy trên sống lưng, tôi biết, cái chương trình ăn tết đồ sộ trong đầu của tôi đang xìu như cái bong bóng.</p>
<p>Còn lại ba anh em – 2/3 người thân nay tản mác nơi những góc trời Âu Mỹ, kẻ đi người ở, có người đã về với đất &#8211; chụm lại với nhau trong buổi cơm nơi căn nhà rộng, chúng tôi bàn chuyện ăn Tết và chia công. Chưa có buổi chia công nào đơn giản hơn: ba đứa thì mỗi đứa lo một nhà: anh cả nhà thờ họ, em tôi nhà thờ ba mẹ, còn tôi lo bàn thờ giao thừa trong nhà đang ở.</p>
<p>Chia rứa là biết: đêm Giao thừa là mỗi đứa một nơi, hết cái cảnh tụm đầu vào nhau đêm ba mươi Tết ngồi canh nồi bánh kể chuyện ma như thuở nào thơ ấu! Vì bàn thờ nào cũng cần có hương khói, cúng thổ thần đất đai, các vong linh tổ tiên, người khuất mặt nơi mỗi nhà, nếu không có mặt thì thôi, có mặt là có bổn phận phải lo trong giờ phút linh thiêng bắt đầu năm mới.</p>
<p>Tôi là người đã từng điều khiển, không phải “ba quân” mà nhiều lần “ba buổi” Tết ở tha phương. Cũng đã từng dựng lều dựng rạp, làm cây nêu, chưng mai (giả hiệu!), chưng hồng, gầy thủy tiên, hì hục gói bánh chưng bánh tét, viết câu đối dán lên khung sân khấu làm cổng làng đón xuân, làm thơ ông táo chầu trời, nấu những buổi cỗ thịnh soạn cho con cháu và bạn bè đến thưởng thức hương vị Tết theo đúng những hoài niệm đã có về những cái tết trong thời thiếu niên.</p>
<p>Nhưng khi nghe chia công việc hôm 27 Tết, nhìn căn nhà xưa trống trải với những cái cột gỗ đen gầy guộc âm thầm, cái bếp ga lạnh lùng, xa lạ, tôi biết mình không thể nào huy động “phép thần” để biến những ngày tết hôm nay thành những ngày Tết hôm qua.</p>
<p>Nhìn quanh, cái chi cũng thiếu &#8211; thiếu tiếng cười trẻ thơ, thiếu tiếng guốc khua rộn ràng từ nhà dưới lên nhà trên của bà, của mẹ, của chị, thiếu tiếng la rầy chỉ vẻ của Mệ nội, thiếu tiếng trò chuyện của mấy cô mấy bác về những món ăn đang nấu, thiếu tiếng khóc đòi của mấy đứa cháu chắt đang chập chững đi, thiếu bồn chồn chờ áo mới … thiếu hết những thứ ấy thì nỗi hồi hộp chờ Tết không còn … và Tết còn chi là Tết nữa?</p>
<p>Thật tình, nếu muốn “kêu gọi” các anh em bà con thì cũng có thể bày biện tổ chức kiểu hội hè đình đám ăn Tết như ở các khách sạn nơi nơi đang rộ quảng cáo. Có tiền mua tiên cũng được huống hồ là sắm Tết. Ấy thế mà không dễ! Dịp thường thì may ra, dịp Tết thì kẹt. Năm hết tết tới ai cũng lo mua mua sắm sắm, chẳng có ai rảnh rỗi. Người nào cũng búi việc cho gia đình. Có lòng nghe tôi về thì cũng tạt qua vài giờ, ai cũng hẹn chị: “sau Tết nghe!” Thật xa vời cái chữ “sau” ấy!</p>
<p>Mà muốn làm mứt làm bánh nào phải dễ, nồi niêu song chảo thất lạc tứ táng mỗi nhà, bếp núc không quen…vật liệu phải mua sắm từ lâu.</p>
<p>Chợ Ðông Ba cái chi cũng có mà mình đi vô chợ thì cứ luớ quớ như chơi trò “vuốt hột nổ, đổ bánh bèo, xao xác vạc kêu, nồi đồng, vung méo….”</p>
<p>Chừ đây 28 Tết, cái chi cũng chưa chi cái gì!!!</p>
<p>Tôi rảo một vòng chợ Ðông Ba xem hàng Tết. Thôi thì thiên hô vạn hát: những núi mứt trên các thúng chưng bày, không thiếu loại mứt gì, bánh thì cũng trăm thứ, người chen không lọt. Gạo, nếp, bột đường không thiếu. Nào ai có thì giờ để tự làm? Mua là mau nhất!</p>
<p>Tôi đi qua hàng hoa quả. Năm nay quýt thật nhiều, mãn cầu cũng lắm, từ Bắc vô từ Nam ra, thanh long tươi rói từ Phan Rang, đu đủ từ vùng quê, xoài từ Nam Bộ, Thái lan, dưa hấu lại đủ màu vàng đỏ rất chi là…thời trang.</p>
<p>Tôi thích nhất từ thuở bé những trái quýt nhỏ có lá xanh trên những chiếc thúng nhà quê, vị ngọt thanh quýt Hương Cần. Thuở đó có được một trái quýt Hương Cần vỏ xanh ướm vàng là như có của báu. Như bù vào những hiếm hoi thơ dại, tôi mua một lần 5 ký quýt về đơm bàn thờ! Chẳng giống ai, lôi thôi cái kiểu “quýt làm cam chịu” vào ba bữa Tết như tôi!</p>
<p>Còn chuối, thì eo ơi! Càng gần ngày tết, chuối leo thang cao ngất, còn nhanh hơn ông Táo lên trời! Nhất là chuối cau, chuối mật. Ðến ngày 30 Tết, một nải chuối vẻn vẹn 10 trái đến sáu chục, 1 trăm ngàn, ngày thường 5, 7 ngàn chớ mấy! Giá ni thì chỉ có cán bộ xịn mới kham nổi … còn người nghèo thì oằn cổ. Cô em họ tôi lắc đầu thè luỡi bảo.</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/chuoi-cho-dong-ba.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="chuoi-cho-dong-ba" border="0" alt="chuoi-cho-dong-ba" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/chuoi-cho-dong-ba_thumb.jpg" width="349" height="349" /></a></p>
<p align="center"><em>Chuối chợ Đông Ba      <br /></em></p>
<p>Người Huế không đơm quả bồng với chuối bà lùn, nên nhớ!</p>
<p>Chuối “cau” đọc theo kiểu Huế hay kiểu Quảng trật bét thành ra cao, “cao” …quí … sang … chắc, còn “mật” là ngọt ngào, trù phú. Câu nguyện đầu năm trên bàn thờ ông bà nằm nơi nải chuối, cũng như cầu dừa đủ xoài và hấu, ngũ quả trong Nam. Ở bên tây thì chỉ có chuối bà lùn … quanh năm! Mà nào có thấy ông bà rầy la, tụi trẻ con thì lớn phồng như cây nêu, có đứa mô bị lún bị lùn mô!.</p>
<p>Tổng kết buổi đi chợ quẩn quanh 28 tết là cái bếp ga nhà tôi được huy động triệt để vì tôi quyết định làm mứt. Mứt me? Cô em can chị. Mứt bí? Ui chao, hắn quày quâỵ lắc đầu, làm răng được, thì giờ mô? Thôi thì mứt gừng!</p>
<p>Chi thì chi cũng phải có một món mứt tự làm trong ngày Tết, để…có chuyện Ăn Tết Huế mà kể cho Mai Lan nghe trong điện thoại như chuyện đời xưa. Cô em họ đã nhanh nhẩu giúp tôi đem gừng đi xắt thành lát mỏng, mua đường, mua chanh. Luộc gừng, xả gừng, ngào đường với gừng, mà phải để lửa riu riu, mới khó với bếp ga! Không như bếp củi có thể ủ tro đều.</p>
<p>Lâu quá mới được thấy nhánh gừng uốn luợn với chồi lá, thơm ấm cả lồng ngực khi chúi mũi vào đám rễ vàng mọng nhựa đất. Cô em thấy tôi lễ mễ, ráng thêm một chút thời gian, trong lúc chân cẳng chỉ muốn chạy vì còn khối việc phải làm. Ui chao nói dễ mà làm thì khó. Lọ lem, cô Tấm đâu??? Khi đường tan thì cô em biến mất để tôi lại với chảo mứt gừng còn ướt nhèm nhẹp. Cầm hai cái đũa bếp to tướng, tôi nghĩ chẳng bao giờ chảo gừng sẽ khô ….</p>
<p><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/Mut-Gung.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="Mut Gung" border="0" alt="Mut Gung" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/Mut-Gung_thumb.jpg" width="404" height="304" /></a></p>
<p align="center"><em>Chảo Mứt Gừng (Ảnh: Thái Kim Lan)      <br /></em></p>
<p>Đưa cả cái mặt hơ trên hương gừng bốc lên, mới nhớ mạ và chị làm sao! Những bàn tay khéo léo ấy nay đã tan biến trong đất. Hơi gừng cay làm nhoè mắt, nhấp nháy giọt nhớ giọt thương. Mạ ơi! Chị ơi, có về ăn Tết với em không?. Tôi nói chuyện với từng lát mứt gừng vàng óng trong chảo, tưởng như đang nói với từng gương mặt người thân, những người đã ăn tết với tôi năm não năm nao. Những tiếng cười quanh bàn bài vụ, những con trâu xanh, voi trắng, heo đen ngựa đỏ một thời làm mê đến vào trong giấc ngủ. Những tiếng hô “Con Ầm,” “Con Ngủ Trưa” nơi sòng bài Tới với các bà O ăn trầu miệng đỏ, lúm đồng tiền sâu khi bị ăn gian “mẹ cha mi ăn gian bài bà cô” cùng tiếng cười ngặt nghẽo của lũ cháu. Tiếng reo đổ xâm hường được Trạng như quanh quất đâu đây. Mỏi tay trở mứt, lại nhớ chị ngồi canh hai ba chảo mứt ngày nào, tóc dài theo với giấc mộng con gái một sáng mùa xuân ….&#160; Còn tôi, tên trốn bếp, thu mình với cuốn sách ngồi trong góc tối nhìn ra thấy chị ôm luôn chảo mứt của đứa em, với đôi mắt bồ câu đen láy hiền thục mà thương ơi là thương!</p>
<p>Thế rồi như được phép mầu Tấm Cám, Phạm Công Cúc Hoa, mạ và chị đã đẩy lửa, đẩy tay tôi riu riu rim mứt. Chảo mứt gừng của tôi đến hồi cũng ráo đường. Tuy không đẹp bằng mứt gừng mẹ và chị làm, lát gừng cong cong không thẳng thớm, nhưng tinh khiết, không bị chất tẩy hóa học, ăn vào thật đúng là gừng Huế, vừa cay vừa thơm mùi gừng làm ấm thêm chén trà đầu năm.</p>
<p>Còn gói bánh chưng bánh tét thì…thôi, xin giã từ vũ khí! Thay vì nấu bánh, tôi nảy ra ý bắt chước bà tôi, thường có lệ cuối năm tặng cho bà con nghèo, hàng xóm láng giềng và chùa chiền nếp, đậu (bánh chay) và thịt (bánh mặn) để mỗi nơi có thể gói bánh tét cúng đầu năm. Khi gửi quà đi, tôi bỗng bằng lòng với “sáng kiến” ấy và vui với hình ảnh cái bếp Giao thừa của tôi tiếp tục ngời lửa nơi mấy mươi cái bếp ở trên thôn dưới biển trong đêm ba mươi, còn tôi thì …“tập vồng vông tay không tay có” ….</p>
<p>Ba muơi Tết, anh tôi đem về một cành đào chưng ở phòng khách. Tôi nhìn cành đào với một con mắt, con mắt bên kia bỗng hiện lên cành mai vàng một thời đã xa. Năm nay trời lạnh sớm, mai không chịu nở, nên người ta chưng đào. Nhìn tôi, anh bảo, trên nhà thờ Linh Mụ anh chưng mai, dưới phố chưng đào cũng được, năm nay mai vừa hiếm vừa không đẹp, mà đầu năm không chịu nở thì … xui cho mình. Anh nói như hù doạ đứa em đang tụng trong lòng bài kinh Ăn Tết.</p>
<p>Tôi biết anh nói an ủi, nhưng có điều anh không biết là từ hôm về nhà, tôi đã bỏ dần những ước lệ “ăn Tết” trong tôi, chỉ làm những gì cần làm nhất.</p>
<p>Buổi trưa cô em họ dẹp mâm quýt của tôi, vừa dẹp vừa bảo, ngày tết cúng ngũ quả chị nờ. Cô sắp mâm ngũ quả cho hợp qui lễ ngày Tết. Hương đèn, giấy tiền, giấy bạc, áo binh, hột nổ cũng đã được bày biện. Cũng thấy Tết ra phết! Cô đứng lên, đội mũ mặc áo. Anh tôi chần chừ. Tôi biết giờ hoàng đạo sắp đến, năm mới bước tới trong từng giây.</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/Hot-No-Ngay-Tet.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="Hot No Ngay Tet" border="0" alt="Hot No Ngay Tet" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/Hot-No-Ngay-Tet_thumb.jpg" width="404" height="304" /></a></p>
<p align="center"><em>Hột nổ ngày Tết (Ảnh: Thái Kim Lan)      <br /></em></p>
<p>Tiễn cô em và anh tôi là người cuối cùng ra cửa, gió lạnh đêm trừ tịch ùa đến, làm sởn gai da thịt. Bỗng thấy trơ trọi vô biên, chợt như hiện thân chiếc bóng mình đang đứng trên ngọn đồi đã thẫm đen một buổi chiều cuối năm đợi xe về nhà trọ. Năm Tết đầu tiên xa Huế, xa nhà, gió buốt thốc từng cơn lạnh lòng nhớ nhà nhớ mẹ.</p>
<p>Hôm nay được ở Huế &#8211; ở nhà- mà sao lạ, tôi nhớ quá cánh tay mềm ấm choàng qua vai của đứa con ở &#8230; nhà &#8230; bên kia!</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23060/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>2</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>lạc ở h&#224;nh tinh trung quốc</title>
		<link>http://damau.org/archives/23031</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23031#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 07 Jan 2012 07:06:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>J. Maarten Troost</dc:creator>
				<category><![CDATA[Chuyên Đề]]></category>
		<category><![CDATA[Dịch Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Du Lịch]]></category>
		<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Sang Việt ngữ]]></category>
		<category><![CDATA[Tùy bút]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/23031</guid>
		<description><![CDATA[Lang thang trong Quảng Trường Thiên An Môn, tôi cảm giác như đi vào một quá khứ thụt lùi nhanh chóng. Có lẽ cũng vì mùi than cháy nồng trong không khí Bắc Kinh, một thứ mùi mà cho tới ngày nay tôi vẫn kết hợp với thứ Chủ Nghĩa Cộng Sản mà tôi nhớ được từ chuyến thăm viếng Tiệp Khắc thuở ấu thơ.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/lostchina.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto" title="lost china" border="0" alt="lost china" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/lostchina_thumb.jpg" width="236" height="332" /></a> </p>
<p align="center">J. Maarten Troost là tác giả các cuốn <i>Getting Stoned with Savages, The Sex Lives of Cannibals, Lost on Planet </i><i>China</i>. Cộng tác với Atlantic Monthly, Washington Post, Prague Post. Đã từng sống ở Kiribati (Equatorial Pacific), Fiji, Vanuatu, và hiện tại California (Hoa Kỳ). Bản tiếng việt chuyển ngữ từ nguyên bản <em>Lost on Planet China</em>.</p>
<p>&#160;</p>
<p>chương 3</p>
<p>Hãy bắt đầu với chủ tịch Mao. Nước Trung Hoa cận đại có quá nhiều thứ bắt đầu và kết thúc với nhà độc tài đầy màu sắc gốc Hồ Nam này. Khi nhà Thanh, cái triều đại èo uột cai trị nước Trung Hoa bước vào buổi hoàng hôn, và cuối cùng sụp đổ với sự thoái vị của vị vua non trẻ, cậu hoàng đế tội nghiệp Phổ Nghi, thì Mao đã sừng sững trổi bật như kẻ cuối cùng còn sót lại sau nhiều thập niên nội chiến. Hiển nhiên những người cho đó là điều tốt đẹp từ căn bản, sẽ biện luận rằng một nước cứng đầu và lạc hậu như Trung Hoa chỉ có thể bước vào thời cận đại dưới sự chỉ đạo sắt thép của một kẻ vĩ cuồng như Mao Trạch Đông mà thôi. Thực ra, quan điểm này thường được diễn tả một cách thực nghiệm bằng tỉ số 70:30 – 70 phần trăm những gì Mao làm thì tốt đẹp hết biết, trong khi 30 phần trăm còn lại thì có hơi quá mức. Đó, thực ra, cũng là quan điểm chính thức ở Trung Hoa.</p>
<p>Dĩ nhiên, thỉnh thoảng, nhà cầm quyền cũng nhìn nhận là đã mắc phải những lỗi lầm. Khi nhìn lại, Bước Đại Nhảy Vọt rõ ràng chẳng phải là sáng kiến hay ho gì. Mùa xuân 1958, Mao quyết định Trung Hoa phải là một siêu cường. Không phải như bất kỳ một siêu cường vớ vẩn nào khác, bạn phải nhớ điều đó; Mao sẽ chẳng là gì nếu không có những tham vọng. Khi phát động Bước nhảy Vọt, Mao thảnh thơi vạch kế hoạch cho cái mà ông ta gọi là Uỷ Ban Kiểm Soát Đất Đai. Thời đó Trong Hoa còn là xứ sở của nông dân, còn quay cuồng từ những năm tháng chiến tranh và nhiều thế kỷ nghèo nàn. Vậy mà Mao cho rằng Trung Hoa nên làm bá chủ thế giới. Ông ta chỉ cần một hay hai năm để vực Trung Hoa dậy và chuẩn bị cho nó thống trị toàn cầu. Và thế là Bước Nhảy Vọt ra đời, một cuộc chạy đua hấp tấp để biến đổi một quốc gia nông nghiệp thành một quốc gia công nghiệp. Từ ngôi cao trong Cấm Thành, nhìn ra khung cảnh của những đền đài lăng miếu, Mao tuyên bố: “Trong tương lai, ta muốn nhìn chung quanh, và thấy những ống khói mọc lên khắp nơi!”</p>
<p>Lệnh đã phán truyền. Trên toàn lãnh thổ Trung Hoa, những tường thành đã từng ngăn chặn bước tiến của quân Mông Cổ bị phá hủy và thay vào đó bằng những xưởng đúc thép. Cấu trúc nền tảng cổ xưa của đô thị bị san bằng và những nhà máy năng lượng được xây lên từ tro than. Dĩ nhiên, có nhiều người phản đối việc cố tình hủy diệt di sản văn hóa Trung Hoa. Để đáp lại, Mao chỉ định họ vào đội đập đá phá gạch. Trong khi đó ở thôn quê, một nửa tỉ nông dân bỗng dưng thấy đời sống của mình chìm vào hỗn loạn. Những công trình thủy lợi quy mô được áp đặt trên toàn quốc, trong đó có đập nước ở tỉnh Hà Nam mà khi sụp đổ vào năm 1975 đã giết hai trăm năm chục ngàn người. Thôn làng biến thành công xã, nơi tên gọi của người dân bị thay bằng con số. Những con số, dù sao cũng tiện dụng hơn những cái tên. Dụng cụ và những đồ dùng trong bếp được nấu chảy trong hàng triệu những lò đúc thép ở sân sau, để Mao có thể tuyên bố đã tăng gấp đôi sản lượng thép trong vòng một năm. Thép ấy, dĩ nhiên là vô dụng, và bất kỳ phi công nào lái những chiếc máy bay làm bằng thép lấy từ những lò đúc sau nhà không lâu sau đều bỏ mạng. Nhưng chỉ tiêu sản suất thép đã đạt được, và đó mới là điều bận tâm của Mao.</p>
<p>Chỉ tiêu sản xuất lúa gạo cũng tương tự. Các siêu cường xuất cảng lúa gạo. Vậy thì Trung Hoa phải xuất cảng lúa gạo. Để đạt mục tiêu này, Mao tuyên án tử hình tất cả chim sẻ ở Trung Hoa. Chim sẻ ăn thóc; vậy thì chúng phải chết. Điều này trên giấy tờ có vẻ hợp lý. Ai có thể ngờ sự tiêu diệt lũ chim sẻ thấp hèn kia lại có thể dẫn tới một trong những tai ương khủng khiếp nhất từng đổ xuống nhân loại? Trong vòng ba năm sau đó, Trung Hoa phải đương đầu với nạn đói chưa bao giờ có quốc gia nào phải gánh chịu như thế. Dĩ nhiên cũng có những nhà khoa học, những nhà kinh tế, những chuyên viên luyện thép và nông dân muốn can gián với Mao rằng đó không phải là những điều nên làm. Nhưng không ai dám bày tỏ sự lo âu của mình với ông Chủ Tịch, người luôn khinh miệt giới trí thức, bọn người khó chịu đã sở hữu kiến thức là một trong những thứ vô cùng đáng ghét.</p>
<p>Thực vậy, năm 1956, trong cái gọi là Chiến Dịch Trăm Hoa Đua Nở, Mao khuyến khích những người bất đồng ý kiến phát biểu, và những người ấy đã lên tiếng. Sau khi nhận diện những kẻ bất đồng chính kiến, Mao phát động chiến dịch thanh trừng. Cuối cùng ông ta đã khen ngợi tỉnh Hồ Nam là đã “tố giác một trăm ngàn người, bắt giam mười ngàn và giết một ngàn,” rồi kết luận, “những tỉnh khác cũng làm giống như thế. Vậy là những vấn đề của chúng ta đã được giải quyết.” Chỉ riêng trong thập niên 50, khi Mao củng cố xong quyền lực, những cuộc thanh trừng đã kết liễu trên tám trăm ngàn mạng người. Kết quả là không còn ai dám phê phán là thép mà dân quê được chỉ thị sản xuất từ những lò đúc sau nhà là vô giá trị nữa, hoặc việc tiêu diệt chim sẻ đã dẫn tới dịch châu chấu, hoặc những thay đổi cách mạng ông ta đem ra áp dụng chỉ căn cứ trên những mộng mơ vô nghĩa. Khi nạn đói xảy ra sau đó, hơn 30 triệu người chết. Đó là trận đói duy nhất tàn khốc hàng đầu trong lịch sử nhân loại. Tuy vậy, Mao vẫn giữ ngôi vị độc tôn. “Chết chóc cũng có cái lợi,” ông ta nói. “Chúng mang lại phân bón cho đất đai.” Và đây mới là điều thực sự gây sửng sốt: Trong khi dân Trung Hoa chết đói, Mao tiếp tục <i>xuất cảng</i> lúa gạo.”</p>
<p>Dĩ nhiên, còn những tư tưởng khác nữa không đưa đến thành quả tốt đẹp. Sự tôn thờ cá nhân Mao lên đến cực độ vào thời Cách Mạng Văn Hóa, một cơn điên loạn có tính toán vào cuối thập niên sáu mươi sang đầu thập niên bảy mươi được thực hiện bởi những kẻ yểm trợ cực đoan, hung bạo của Mao với mục đích củng cố quyền lực và bẻ gẫy các thế lực chống đối. Ngay cả Đặng Tiểu Bình, người sau này cai trị Trung Hoa, cũng đã bị lưu đày ở tỉnh Giang Tây xa xôi, nơi ông ta lao động cực nhọc trong một xưởng chế tạo máy cày. Nhưng đó không chỉ đơn thuần là sự tranh dành quyền lực, và từ ngữ <i>cách mạng văn hóa</i> không diễn tả đúng mức nỗi kinh hoàng của thời kỳ ấy. Đó là cuộc đấu tranh chống “Bốn Cái Cũ” – phong tục cũ, tư tưởng cũ, tập quán cũ, và văn hóa cũ &#8211; được thực thi bởi bọn thiếu niên điên cuồng đã bị tẩy não, của cái gọi là Vệ Binh Đỏ, từng bọn thiếu niên mà bản năng bạo dâm tiềm ẩn bỗng dưng được buông lỏng dây cương. “Hãy tàn bạo,” Mao ra lệnh cho bọn chúng, và bọn chúng đã đem hết sức mình để thi hành. Công an và quân đội được chỉ thị không can thiệp khi bọn vệ binh tung hoành khắp nơi, đánh đập và tra tấn thầy cô giáo của chúng cùng bất kỳ những ai chúng nghi ngờ là “hữu khuynh.”</p>
<p>“Bắc Kinh chưa đủ bạo tàn,” Mao nói về Bắc Kinh, dùng cái tên cũ Peking lúc đó, trong lúc cái gọi là Tháng Tám Đỏ được phát động. “Bắc Kinh còn quá văn minh.” Nội trong tháng đó chỉ riêng ở Bắc Kinh gần hai ngàn người bị giết. Mao hủy bỏ trường học và chỉ thị cho Vệ Binh Đỏ được tự do di chuyển, chẳng bao lâu nước Trung Hoa run sợ trước hình ảnh những toán thiếu niên điên loạn trong đồng phục màu xanh ô-liu may tại nhà và băng đỏ đeo trên cánh tay. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Trong tỉnh Quảng Tây, bọn Vệ Binh Đỏ không chỉ tra tấn và giết thày cô giáo, mà còn ăn thịt họ. Trong nhà ăn tập thể. “Đập tan văn hóa cũ,” Mao ra lệnh. Các bức họa bị phá hủy, sách vở bị phóng hỏa. Bất kỳ ai bị bắt gặp cùng với một nhạc cụ có thể sẽ bị tra tấn hoặc ngay cả giết bỏ. Hàng ngàn di tích lịch sử bị hủy diệt. Toàn quốc bị cuốn vào cơn động kinh kinh hoàng khi Mao nỗ lực xóa bỏ lịch sử Trung Hoa.</p>
<p>Cuối cùng, sự kinh hoàng của thời kỳ ấy chỉ thực sự kết thúc khi Mao qua đời vào năm 1976. Khoảng 70 triệu người đã bỏ mạng dưới thời cai trị của ông ta, một thành tích cho phép ông tranh dành một cách nghiêm túc với Adolf Hitler và Joseph Stalin để lấy danh hiệu Bạo Chúa Tàn Ác Nhất của nhân loại. Nhưng điều làm cho nước Trung Hoa hiện đại trở nên kỳ quái là cho tới ngay cả ngày hôm nay, người ta vẫn không thể tránh né bộ mặt nung núc của ông ta. Tôi nghĩ sẽ rất công bằng khi nói rằng cái ngày Hitler tự sát trong hầm chỉ huy, bao quanh bởi một quốc gia tan nát cùng với một triệu quân Sô Viết, hầu hết người dân Đức xem như đã sẵn sàng với cuộc sống của họ, bỏ Hitler lại cho quá khứ, và thực sự họ đã làm như thế. Dĩ nhiên họ không thay đổi được những điều đã xảy ra, nhưng ba mươi năm sau khi Hitler chết, con số những tên đầu trọc ngu độn tụ tập nồng nhiệt chào <i>Heil Hitler</i> chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Khi Joseph Stalin mà tên cúng cơm là Joseph Vissarionovich Dzhugashvili (bạn hãy thử đọc thật nhanh xem), chết vào một buổi tối u ám năm 1953, thì chẳng bao lâu sau ông ta bị hạ bệ bởi Nikita Krushchev, người tiến hành một chiến dịch Bài-Trừ-Stalin rộng rãi. Chủ nghĩa Cộng Sản tiếp tục dây dưa thêm 40 năm, nhưng sẽ rất khó tìm thấy một bức tượng chân dung <i>Bác Stalin</i>.</p>
<p>Điều này hoàn toàn trái ngược với Trung Hoa. Mỗi khi tôi mở ví ra là tôi được Mao chào hỏi, với vẻ trang trọng và tự tin bởi khuôn mặt ông ta in đặm trên tất cả những đồng tiền giấy. Hầu như tất cả mọi thành phố đều có Quảng Trường Nhân Dân, và đại đa số vẫn bị chiếm ngự bởi một bức tượng khổng lồ của Mao, với vẻ hãnh diện và dũng cảm. Một bức tượng chân dung khổng lồ của Người Cầm Lái Vĩ Đại chế ngự Quảng Trường Thiên An Môn, và làm nổi gai ốc hơn nữa là, mắt nhìn của pho tượng hướng về lăng của ông ta, nơi hàng ngày ông đón tiếp khách viếng thăm. Điều này làm tôi hài lòng, bởi không phải ngày nào người ta cũng có thể gặp một trong những tên đại gian ác của lịch sử. Thế nên một buổi sáng tinh mơ, tôi quyết định ghé qua cho biết.</p>
<p>Nhưng trước tiên, tôi phải đi đến đó. Khách sạn tôi cư trú, có vẻ rất phổ biến với du khách thuê bao trọn chuyến từ Đông Âu, tọa lạc trong khoảng cách có thể đi bộ tới Quảng Trường Thiên An Môn và Cấm Thành. Tôi bước ra cửa, nhìn người gác cửa làm cái công việc thông lệ hàng ngày của anh ta, bao gồm việc gom góp và tống khứ tất cả những thứ gì nhờn và nhớt từ trong ruột gan anh ta, và tiếp tục bằng việc xì nước lòng thòng từ lỗ mũi bên này đến lỗ mũi bên kia, rồi, sau khi đã hài lòng với việc tống khứ chất nhờn này mới mồi một điếu thuốc. Và chào ông buổi sáng, tôi nghĩ, trong lúc len lỏi qua đám khói khét nghẹt, thận trọng bước qua những vũng đàm nhớt và mũi rãi thải đầy lối vào khách sạn. Tôi không thể quyết định thứ nào làm mình khó chịu hơn – đàm tung tóe hay nước mũi lòng thòng – nhưng trong khi len lỏi giữa làn khói mù ban mai của thành phố về phía lăng Mao, rõ ràng là chẳng bao lâu tôi sẽ phải chấp nhận những phương pháp người Hoa dùng để tống khứ chất đọng trong mũi và trong phổi của họ. Người Hoa đã phát minh ra nhiều thứ, ngoại trừ khăn tay. Tôi rảo bước và nhìn cư dân Bắc Kinh, trẻ hay già, đàn ông và ngay cả một số phụ nữ có tuổi, chào mừng một ngày mới bằng một cú khạc rầm rộ và nột cú nhổ vang rền, và sau đó, ngay khi tôi nghĩ đường phố Bắc Kinh không thể nào có thể bị làm ô uế hơn được nữa, thì tôi đụng đầu một gã đàn ông ngồi bệt bên lề đường. Ông ta bế một đứa bé mặc quần thủng đáy phía trên đường cống nước để thằng bé ỉa xuống đó, ngay trung tâm Bắc Kinh, chỉ cách đám xe đạp dập dìu và những xe gắn máy phành phạch vài phân. Lạ thật, tôi thầm nghĩ khi nhớ về những chứng bệnh có thể đang lẩn lút ở Trung Hoa năm nay &#8211; SARS, cúm gia cầm, kiết lỵ. Những chứng bệnh có chốn định cư yên ổn ở Trung Hoa.</p>
<p>Sau khi băng qua đường tôi ghi nhận quan sát thứ nhì của mình về đời sống ở Bắc Kinh: Đừng giỡn mặt với tài xế người Hoa. Ngay cả dù có trông thấy bạn, họ cũng không cho xe chạy chậm lại. Ngay cả khi đèn cho người đi bộ đã đổi qua màu xanh, họ cũng không cho xe chạy chậm lại. Vì vậy đừng giỡn mặt với tài xế Trung Hoa. Nếu bạn không muốn bỏ mạng.</p>
<p>Một lát sau, tôi có thêm ghi nhận thứ ba về đời sống ở Bắc Kinh: <i>Đừng giỡn mặt với dân chạy xe đạp người Hoa. Xin coi lại ghi nhận số 2. Điều đó cũng áp dụng ở đây. Bạn sẽ bỏ mạng.</i></p>
<p>Ấy là thời điểm mà đa số dân Bắc Kinh vẫn còn ngái ngủ.</p>
<p>Trong đời, chưa bao giờ đi bộ trên đường phố mà tôi lại sợ hãi như buổi sáng tinh mơ ấy. Sau khi tránh né những bọng đàm nhớt vùn vụt bay qua, tôi đến một ngã tư. Tôi thận trọng chờ đèn cho người đi bộ, hình người đàn ông chớp nháy, đổi qua màu xanh, và rồi, sau khi chắc chắn mình có quyền ưu tiên, tôi tự tin nhấc bàn chân ra khỏi lề đường, để suýt nữa mất toi bàn chân khi một chiếc xe phóng vụt qua, xua tôi ngược trở lại lề đường. Một lát sau, khi cái hình người bé nhỏ kia vẫn còn màu xanh, tôi rình chờ một khoảng trống trong đám xe cộ và bước xuống đường, và tôi nhận ra mình lọt một cách hiểm nghèo vào giữa đám người đi xe đạp, mà nhiều người có lẽ đang chửi tôi. Tôi cũng không chắc lắm. Cuốn <i>Chinese for Dummies</i> không có phần những câu chửi thề thông dụng.</p>
<p>Tôi tự hỏi ở Trung Hoa làm cách nào người ta có thể băng qua một con đường có bốn làn xe cộ, một con đường mà xe hơi xếp hàng sáu, thêm hai hàng nữa chèn chặt bởi một biển xe đạp và xe gắn máy? Làm sao người ta có thể di chuyển qua cái đống hỗn mang của một thành phố ở Trung Hoa nhỉ? Phải hết sức cẩn thận, tôi suy diễn. Băng qua đường không có nghĩa đơn giản là đi thẳng từ lề đường bên này sang lề bên kia. Đó là một vấn đề cần được chia thành sáu phần. Trước hết, tôi sẽ phóng qua cái khối xe đạp và xe gắn máy chèn lòng đường, ôm sát lề kia. Từ đó, tôi sẽ băng qua đường từng làn một trong lúc xe cộ phóng vùn vụt sát bên mình, và tôi khổ công cố gắng không nghĩ tới sự kiện đáng ghi nhận rằng Trung Hoa có tỷ lệ thương vong do tai nạn xe cộ cao nhất thế giới tính theo đầu người. Và tôi di chuyển, từng bước dài một; trong khi đoàn xe cộ vùn vụt lao quanh, những chiếc xe lái bởi những người, theo như tôi biết, biết lái xe cũng chưa lâu lắc gì cho lắm.</p>
<p>Rồi, với một chút ngạc nhiên, tôi bỗng dưng thấy mình lọt vào cái mênh mông của quảng trường Thiên An Môn. Tôi rất hồi hộp và khích động khi đến được nơi này, không chỉ vì đã băng qua được hàng chục ngã tư mà vẫn còn sống, nhưng vì quảng trường Thiên An Môn là một trong những địa danh mang tính biểu tượng mà tôi vẫn muốn có dịp ghé thăm. Nó đem lại sự thỏa mãn quen thuộc đại khái như đã thăm được một công viên giải trí quy mô kiểu Cộng sản vậy. Đây là nước Trung Hoa Đỏ &#8211; chân dung chói lọi của Mao treo trên chỗ vinh dự trên cổng Thiên An, những lá cờ đỏ bay phần phật, Đại Sảnh Đường Nhân Dân rộng thênh thang. Tháp đài tưởng niệm các Anh Hùng Nhân Dân, và dĩ nhiên, Cung Văn Hóa Công Nhân bởi vì bất cứ lễ đài đỏ nào mà không có một Cung Công Nhân thì sẽ bị coi là thiếu sót. Xe cộ không được phép giao thông trong quảng trường, dù xe tăng thì được xem như ngoại lệ, vào buổi sớm mai, mù mịt khói, chỉ có lẻ tẻ vài nhóm du khách người Hoa tụ tập ở đó. Với quá ít người thăm viếng, cái mênh mông của quảng trường trở nên lộ liễu. Hơn một triệu người có thể xếp một cách thoải mái vào quảng trường. Thỉnh thoảng, Mao thưởng ngoạn việc triệu tập đám Vệ Binh Đỏ, và trong lúc rảo bước người tôi nổi gai ốc khi nghĩ tới lời hiệu triệu của Mao và sự đáp ứng của hàng triệu đứa thiếu niên sát nhân. <i>Hãy thẳng tay! Hãy tiêu diệt văn hóa cũ! </i></p>
<p>Nhưng hôm nay chỉ có những du khách Trung Hoa. Họ rất dễ nhận diện. Mỗi nhóm được cấp một thứ mũ chơi dã cầu riêng biệt. Có nhóm đỏ, nhóm xanh lá cây và nhóm xanh nước biển, mỗi nhóm vây quanh một người hướng dẫn cầm cây dù. Trong khi lang thang, trố mắt nhìn cảnh vật một cách thích thú, tôi bày một trò chơi thú vị là thử cố nhận diện đám công an chìm, và khi đến lăng Mao Chủ Tịch, tôi đếm được trên hai chục, dù tôi có thể sai. Có thể đám đàn ông mặc áo khoác Thành Viên dáng vẻ rất ngầu ấy chỉ là những người đi dự hội thảo chứ không phải bọn đâm thuê chém mướn của nhà nước. Dù vậy, chớ có dại dột mà lỡ miệng nói “Hãy trả tự do cho Tây Tạng!” – Thiên An Môn, dĩ nhiên, là một trong những nơi tốt đẹp nhất trên thế giới để bị đánh vì phản kháng.</p>
<p>Tôi thấm nhuần sự biểu dương chủ nghĩa Xã Hội Hiện Thực, một thứ cấu trúc vinh danh vô sản bằng cách thu gọn cá nhân lại thật nhỏ. Lúc tới gần cửa lăng, tôi bị đón đầu bởi một người thanh niên mặc áo dành riêng cho thành viên màu mật ong.</p>
<p>“Ông không được mang túi vào đây,” anh ta nói bằng tiếng Anh, tay chỉ cái túi đeo vai của tôi.</p>
<p>“Tôi có thể để đâu đó được không?” tôi hỏi.</p>
<p>“Để tôi dẫn ông đi,” anh ta đề nghị.</p>
<p>Tôi hoàn toàn không biết hắn ta là công an, nhân viên coi sóc lăng, một tên gạt gẫm, hay chỉ là một anh chàng tốt bụng muốn giúp một du khách ngoại quốc đang bối rối. Tôi đi theo anh ta, và cố dẹp bỏ ý nghĩ hắn sẽ dẫn tôi băng qua sáu lằn xe cộ, tôi trở thành cái bóng của hắn, nhưng không sao bởi vì, như tôi đã khám phá trước đây, người Hoa rất uyển chuyển trong vấn đề xâm phạm khoảng cách riêng tư của người khác. Hắn dẫn tôi tới một dinh thự nơi tôi có thể gửi cái túi xách.</p>
<p>“<i>Xie xie</i>,” tôi nói, phát âm trật lất hai chữ “Cám ơn.”</p>
<p>“Ông có tiền không?” hắn hỏi sau khi chúng tôi đã phóng qua đường.</p>
<p>“Có, tôi giữ lại cái ví. Cám ơn anh đã hỏi.”</p>
<p>“Hai chục Nhân Dân Tệ,” hắn vừa nói vừa cười một nụ cười đầy hy vọng.</p>
<p>Tôi cho hắn mười, số tiền vượt quá giá trị công việc hắn làm cho tôi, nhưng tôi còn lạ nước lạ cái ở Trung Hoa và chưa đạt tới cái mức cương quyết một cách cộc cằn để giằng co giá cả. Tôi xếp hàng; còn sớm, chưa tới chín giờ, và nói theo tiêu chuẩn Trung Hoa thì hàng người còn khá ngắn. Có đâu khoảng năm trăm người chờ đến phiên mình diện kiến ông Chủ Tịch. Chúng tôi nghe máy phóng thanh liên lục kể lại cuộc đời và sự nghiệp Mao Trạch Đông trong lúc chờ những người gác với nét mặt cau có trong đồng phục xanh da trời và găng tay trắng dẫn chúng tôi vào. Thực ra tôi chẳng biết họ nói gì trên máy phóng thanh. Có lẽ họ thông báo cho chúng tôi biết đang có đồng hồ Mao hạ giá dán nhãn xanh da trời trên lối số ba của tiệm bán đồ kỷ niệm. Ai mà biết? Tôi thì chắc chắn là không rồi.</p>
<p>Một người bán bông bán hoa hồng giả, và khá nhiều người trong đám đông mua. Tôi đoán phần lớn du khách đến từ những vùng sâu vùng xa của Trung Hoa. Đã từng sống ở Sacramento, tôi có thể nhận ra một anh chàng nhà quê bất kỳ ở đâu.</p>
<p>Sau cùng, chúng tôi nhích tới và bước vào. Bên trong, chúng tôi được đón tiếp bởi bức tượng trắng của Người Cầm Lái Vĩ Đại, và đây là nơi khách thăm viếng đặt hoa hồng, trong lúc cúi đầu thật thấp. Mao cũng như Đức Phật. Tôi tự hỏi người ta sẽ làm gì với đống hoa hồng bằng nhựa chất đống mỗi ngày. Tôi đoán người ta sẽ quét gom lại và bán cho những người đến viếng sau đó. Đi đứng thong dong là điều không nên, đám đông ùn về phía trước, do sức xô đẩy của chính nó tạo ra. Trong căn phòng kế cận chủ tịch Mao nằm đó, cuộn ấm cúng bằng lá cờ đỏ có hình búa liềm.</p>
<p>Thông thường, ở gần người chết tôi thấy rờn rợn, nhưng với Mao, tôi không thấy vẻ gì ma quái hay rùng rợn. Đó là vì ông ta có màu vàng cam &#8211; một thứ vàng cam đình đám, như món đồ chơi, như thể ông ta không là gì khác hơn một hình nhân bằng sáp đang yên nghỉ. Và có lẽ đó là tất cả những gì làm thành con người ông ta ba chục năm sau khi ông ta chết. Tôi gần như thấy tội nghiệp ông ta, một tên độc tài hiểm ác thu gọn thành một thứ vật trưng bày bệnh hoạn. Nhưng rồi tôi nhận ra phản ứng của những bạn đồng hành người Hoa của tôi. Tôi đã chờ đợi câu bông đùa kiểu – <i>Coi ông ấy vàng khè kìa. Bạn có nghĩ đấy là người giả không? Ở Trung quốc khó biết đâu là thật đâu là giả. </i>Mao đã chết hơn ba chục năm rồi. Chắc hẳn người ta có thể châm chọc nhà độc tài mập ú ấy chứ. Nhưng tôi đã sai lầm trầm trọng. Người ta cúi đầu trước ông ta. Vài người lớn tuổi còn khóc nữa. Ngay cả trước linh cữu ông bà nội ngoại của họ, họ cũng không cung kính được như thế, cơn mê hoặc chỉ bị phá vỡ khi chúng tôi qua phòng bên cạnh, sảnh đường bán đồ kỷ niệm, nơi chúng tôi được mời mọc mua những hàng thật, sản xuất tận nguồn, nào là đồng hồ Mao, nút gài tay áo của Mao, chân dung Mao và dĩ nhiên, cuốn sách <i>Lời Dạy Của Mao Chủ Tịch</i> còn được gọi là cuốn <i>Sách Đỏ Nhỏ</i>. Hơn 900 triệu bản đã bán hết từ lần xuất bản đầu tiên năm 1964. Và đó là điều hiển nhiên. Trong thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa, ra khỏi nhà mà quên mang sách theo là giao mạng cho đám côn đồ thiếu niên và có thể đi trại cải tạo lao động. Đứng trước Mao Trạch Đông, dù ông ta đã chết, vẫn là một trải nghiệm thích thú cho những người mà cả một thời thơ ấu đã được nhồi sọ rằng không có thần thánh nào khác ngoài Mao.</p>
<p>Tôi nhận lại cái túi và trở ra quảng trường, nơi lúc này, chỉ sau một giờ đồng hồ, đã sôi sục những người là người. Có thêm rất nhiều người bán cuốn Sách Đỏ Nhỏ. Tôi bước qua những dân quê cụt chân ngồi trên xe đẩy. Một người đàn ông gạ bán cho tôi chân dung vẽ bằng than của Mao, Vladimir Putin, và George W. Bush. Biết chọn ai đây? Phía xa, nơi những bức tường bề thế của Cấm Thành, những người lính diễn hành qua chân dung lù lù đe dọa của vị chủ tịch quá cố. Tôi về khách sạn, nhận thấy một lô xe Audi sơn đen kính màu tối, loại xe dành riêng cho viên chức Đảng Cộng Sản. Tài xế Trung Hoa nhường đường cho những xe này, trong khi theo như tôi chứng kiến, họ chẳng nhường cho bất kỳ ai khác.</p>
<p>Một nơi chốn khác thuờng, tôi nghĩ. Lang thang trong Quảng Trường Thiên An Môn, tôi cảm giác như đi vào một quá khứ thụt lùi nhanh chóng. Có lẽ cũng vì mùi than cháy nồng trong không khí Bắc Kinh, một thứ mùi mà cho tới ngày nay tôi vẫn kết hợp với thứ Chủ Nghĩa Cộng Sản mà tôi nhớ được từ chuyến thăm viếng Tiệp Khắc thuở ấu thơ. Tôi mang một nửa dòng máu Tiệp Khắc, và năm 1968 khi chiến xa Liên Sô xâm lăng Tiệp Khắc, hầu hết thân nhân tôi đều nghĩ đó là thời cơ thuận lợi nhất để bỏ xứ mà đi. Tuy nhiên ông tôi ở lại, và mẹ tôi, người xuất cảnh hợp pháp sau khi kết hôn với ông bố người Hoà Lan của tôi, vẫn thường đem chị tôi và tôi về thăm trong những năm u ám sau đó khi Tiệp Khắc nhận ra rằng nó chưa thể gỡ bỏ chủ nghĩa Mác-Lê. Quảng Trường Thiên An Môn, với những ngôi sao đỏ và cấu trúc theo kiểu Stalin, gợi nhớ cho tôi về những năm tháng ấy, ngoại trừ sự kiện không có thời điểm nào trong lịch sử Tiệp Khắc mà người dân lại tôn thờ một tên độc tài hung hiểm như Mao Trạch Đông. Nhưng có lẽ cũng nhờ dân Tiệp ít bị bưng bít thông tin hơn. Thực ra hiện nay ở Trung Hoa, người ta vẫn có thể vào tù với tội danh “xách động lật đổ chính quyền” chỉ vì phát tán những thông tin về cuộc Cách Mạng Văn Hóa vượt ra ngoài khuôn khổ cho phép, rằng sự quá mức trong thời kỳ ấy cho thấy nếu để công chúng tham gia vào chính trị thì sẽ phải đương đầu với những nguy cơ. Ít ra chính quyền cũng nhìn nhận là Mao hơi quá đáng. Tuy vậy, sự kiện mà cho tới hôm nay ở Trung Hoa có những người &#8211; đúng ra là đa số, nhìn lên Mao với sự ngưỡng mộ, trong khi những kẻ thừa kế của ông ta đi làm bằng những chiếc xe màu đen đắt tiền &#8211; gợi cho tôi thấy nước Trung Hoa hiện đại mà người ta đề cập tới thực sự chưa hiện hữu nơi đây.</p>
<p>Và rồi, tôi về khách sạn, mở máy truyền hình.</p>
<p>Trong tất cả những điều tôi không bao giờ nghĩ có thể thấy ở Trung Hoa lại xảy ra, nhân vật Tweety Bird nói tiếng Phổ Thông là một trong những thứ ấy. Tôi xem thêm một lần con chim Tweety làm rối trí chú mèo hay phun phì phì có tên Sylvester. Thật là kỳ cục, tôi nghĩ, khi nghe con mèo hoạt họa nói tiếng Phổ Thông ngọng ngịu. Rồi tôi bấm đài khác. Chương trình phát hình thương mại quảng cáo Kem Duy Trì Sức Khỏe, một loại kem mới rất mạnh có tác dụng làm tăng kích thước vú. Trên màn hình một phụ nữ bị châm chọc một cách tàn nhẫn bởi những cô bạn có ngực lớn. Cô ta đã dùng hết loại thuốc xoa làm lớn ngực này đến loại khác nhưng không kết quả. Cho đến khi cô dùng thử Kem Duy Trì Sức Khỏe. Đoạn quảng cáo trình bày một cách có nghệ thuật tác dụng làm căng phồng của thuốc bằng cách chiếu hình đôi vú hoạt họa phồng lên sau khi thoa kem. Kết thúc bằng những chứng từ của khách hàng, những người được quay phim một cách cẩu thả lúc đang cúi xuống trên sa lông, đang đọc báo, đang khom người tưới nước cho cây cảnh – và tất cả những thứ đó sẽ là của bạn với giá 99 Nhân Dân Tệ.</p>
<p>Cũng được. Nội trong một buổi sáng tôi đã chu du từ Mao Trạch Đông đến Kem Làm Tăng Ngực. Có lẽ nước Trung Hoa chẳng đơn giản như tôi nghĩ.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23031/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>3</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>những hồi tưởng lang thang</title>
		<link>http://damau.org/archives/22946</link>
		<comments>http://damau.org/archives/22946#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 06 Jan 2012 07:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Hồ Như</dc:creator>
				<category><![CDATA[Chuyên Đề]]></category>
		<category><![CDATA[Du Lịch]]></category>
		<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Tùy bút]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/22946</guid>
		<description><![CDATA[Chỉ lâu lâu, khi tiếng súng săn vịt trời vọng lên đâu đó chung quanh, hay một cuộc tranh chấp nào đấy diễn ra trong bầy chim, vài con hạc, hay nhiều hơn thế, vụt bay lên, vẽ thành một đường cong lảo đảo, rồi dần dần thành một chữ v chao lượn.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/800pxMonarch_butterflies_in_Santa_Cruz11_thumb.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px" title="800px-Monarch_butterflies_in_Santa_Cruz-11_thumb" border="0" alt="800px-Monarch_butterflies_in_Santa_Cruz-11_thumb" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/800pxMonarch_butterflies_in_Santa_Cruz11_thumb_thumb.jpg" width="571" height="393" /></a> </p>
<p align="center">Bướm ở Santa Cruz – Ảnh: <a href="http://home.comcast.net/~milazinkova/Fogshadow.html">Mila Zinkova</a></p>
<p align="center">&#160;</p>
<p>Trải nghiệm ăn uống, với tôi, tùy thuộc vào ba yếu tố: thức ăn, người ăn chung, và khung cảnh. Khung cảnh bao gồm trang trí tiệm ăn, cách phục vụ, phong cảnh bên ngoài nếu có. Trong ba yếu tố, đôi khi chỉ cần một yếu tố vượt trội để tạo thành một bữa ăn thú vị, nhưng thường phải có hai hoặc cả ba để có một kỷ niệm.</p>
<p>1. Burger ở Lodi</p>
<p>Lodi? ở đâu thế? Là những câu hỏi đầu tiên tôi hỏi khi bạn tôi rủ tôi đến nơi này. Một tỉnh nhỏ nằm phía bắc San Jose, trên đường đến Sacramento. Không có núi cao, biển rộng, hay mặt hồ, những cảnh đẹp không thiếu ở Cali. John Fogerty (Creedence Clearwater Revival) viết bài nhạc mang tên Lodi nhưng lại ngầm ý chê bai: Oh Lord, stuck in Lodi again, và viết bài nhạc ấy khi chưa hề ghé đến Lodi. Thế thì tại sao là Lodi? Bạn tôi cười, mắt lấp lánh vẻ tinh quái quen thuộc. Và cho tôi thêm một cái tên nữa. Hạc Sandhill. Chẳng phải tôi mới nhắc đến bài báo mới đọc về những loài chim di qua mùa lạnh ở vùng châu thổ sông Sacramento hay sao? Hạc Sandhill, những con chim lớn chân dài màu nâu xám, con trống có một vệt màu đỏ trên đầu, sẽ bay từ Alaska đến Isenberg Crane Reserve sát bên Lodi. Lễ hội hạc Sandhill được tổ chức vào tuần lễ đầu tháng 11, nhưng chúng tôi thuộc loại sợ đám đông, nên đã chọn một cuối tuần khác.</p>
<p>Hôm ấy nắng đẹp, thứ nắng mùa đông mang cảm giác ấm áp nhưng gay gắt ngầm. Bạn tôi đậu xe ngoài vòng rào khu Reserve, chia với tôi cặp ống nhòm để quan sát bầy hạc mấy ngàn con. Bình thường chúng như một bầy ngỗng lớn nâu xám, đầu chúi xuống tìm ăn, vô vị và nhạt nhẽo như burger chỉ có thịt và hai miếng bánh. Chỉ lâu lâu, khi tiếng súng săn vịt trời vọng lên đâu đó chung quanh, hay một cuộc tranh chấp nào đấy diễn ra trong bầy chim, vài con hạc, hay nhiều hơn thế, vụt bay lên, vẽ thành một đường cong lảo đảo, rồi dần dần thành một chữ v chao lượn. Cũng đôi khi, vài con trống xòe đôi cánh rộng, hai chân dài nhịp nhàng trong vũ điệu tán tỉnh, và các con mái bên cạnh giương mắt nhìn thờ ơ, thậm chí không buồn ngẩng đầu lên. Ngược với loài người, trong đa số loài vật, phái nam là phái phải làm đẹp, phải chứng tỏ giá trị cho phái nữ để ý, trong khi phái nữ, đã rất tự tin với giá trị của mình, xem xét và lựa chọn với vẻ thực tế và hoàn toàn không có chút màu mè làm dáng.</p>
<p>Trưa đến, chúng tôi vào phố Lodi kiếm quán ăn. Tỉnh nhỏ, không có bao nhiêu quán, chúng tôi tạt vào một tiệm bán burger. Tiếp viên niềm nở, sự niềm nở hồn hậu của tỉnh nhỏ chứ không phải chào mời xã giao của thành phố lớn. Bàn ghế kiểu quán ăn Mỹ thông thường, ghế nệm dài hai bên những chiếc bàn dọc theo tường. Cửa kính lớn để nắng vào và tôi ngắm người qua lại trên con phố bên ngoài. Burger ngon tuyệt, đúng độ chín vừa còn tái như tôi đòi hỏi, một điều hiếm có trong các tiệm ăn Mỹ hay nấu đến xám xịt miếng thịt bò đỏ tươi. Không có gia vị lung tung như các burger “dân sành ăn” (gourmet), chỉ có vị thịt bò, cà chua, rau salad. Khoai chiên có thể chọn khoai lang, món tôi luôn luôn gọi nếu gặp, sợi khoai dài, chiên đúng mức, không bị cháy (rất dễ xảy ra vì khoai lang nhiều đường hơn khoai tây). Ăn nửa cái burger, thưởng thức gần no nê phong vị của thức ăn và vẻ tươi mát bất ngờ của khung cảnh trong tiệm, tôi mới để ý đến cái tên tiệm: Moo Moo’s Burger Barn, hay The Moo.</p>
<p>Tôi không biết tôi sẽ nhớ The Moo lâu như thế. Chỉ sau này, tôi mới dần dà nhận ra mỗi khi gọi burger tôi lại nghĩ đến bữa ăn tưởng là qua loa ấy. Thực ra, tôi không rõ mình nhớ đến chi tiết nào trước, mùi vị miếng burger đầu tiên ở The Moo, hay đôi cánh hạc Sandhill chao đi, che khuất ánh nắng chói trên bầu trời xanh man mác tơ trời.</p>
<p>2. Thịt thỏ ở San Francisco</p>
<p>Tôi thường không chú ý đến các con số trên tờ lịch quá mức cần thiết, và từ lâu đã quăng những ngày trọng đại kiểu sinh nhật, giáng sinh&#8230;vào loại tầm phào, nên bây giờ tôi không nhớ nổi ngày hôm ấy là dịp quan trọng nào. Lễ Valentine, hay sinh nhật của tôi nhỉ? Tôi không biết. Tôi chỉ biết đấy phải là một dịp quan trọng theo định nghĩa thông thường, nếu không bạn tôi đã không chọn Il Fornaio cho bữa ăn tối của chúng tôi. Có thể gọi bạn tôi hà tiện, hay kỹ tính, vì bạn tôi cẩn thận chi tiêu và tránh những nhà hàng đắt tiền. Tôi chưa hề than phiền, không phải vì không muốn mà vì cảm thấy không có đủ cớ để than phiền. Làm sao than phiền, khi nếp sống chặt chẽ ấy dựa trên niềm tin vào phần đẹp nhất của tôn giáo: sống không xa hoa, năng làm việc thiện. Tôi là kẻ vô thần khá triệt để, nhưng trong đời lại gặp nhiều tín đồ. Phải chăng đấy là hấp lực của đối nghịch?</p>
<p>Quanh chỗ tôi ở cũng có một chi nhánh Il Fornaio, nhưng chúng tôi đến chi nhánh ở San Francisco vì bạn tôi là San Franciscophile, mê thích thành phố vịnh bạn tôi và những San Franciscophile khác gọi là The City, ngầm thách thức thành phố vịnh nổi tiếng hơn là NewYork. Theo diện tích, San Francisco khá nhỏ, nhưng du khách đến San Francisco có cảm tưởng như nó rất rộng nhờ những khu phố khác nhau và những ngọn đồi mang lại cho thành phố nhiều dáng vẻ khác nhau. Những góc cạnh đẹp như tranh (hay một tấm postcard) của San Francisco thì nhiều lắm. Sương mù che nửa thân cầu Goldden Gate, những nhịp cầu lấp lánh của Bay Bridge. Dáng dấp thành phố lung linh trên bầu trời từ Treasure Island. Biển và phố từ Coit Tower. Những ngôi nhà cổ sơn đủ màu viền những con đường nhỏ&#8230;Nếu có ai hỏi, tôi thích góc cạnh nào nhất, tôi sẽ không thể chọn một, cũng như tôi không thể chọn cuốn sách hay nhất, bài nhạc hay nhất&#8230;</p>
<p>Bàn của chúng tôi nằm bên ngoài phòng ăn chính, bên cạnh hoa cỏ và dưới mái dù che. Lúc ấy tôi còn thích đám đông, nên những người tiếp viên tất bật qua lại và thực khách đông đảo chung quanh khiến tôi gần như quên cả người bạn trước mặt. Bạn tôi cũng biết thế, nên yên lặng để mặc tôi nhìn ngắm. Khu Piazza nơi chúng tôi ngồi không có cái đẹp lộng lẫy phô bày của phòng ăn chính không dấu giếm chi tiết nào trong ánh đèn rực rỡ. Ở đây, những mảng bóng tối lẫn giữa ánh đèn vàng mờ ảo quyện vào nhau thành một vẻ mời mọc kín đáo. Bên kia bàn, người bạn tôi ngồi giữa vùng sáng lung linh của ly nến nhỏ, không thoải mái lắm, lâu lâu nhúc nhích trên ghế và di gọng kiếng trên mũi. Con người không muốn và cũng chưa bao giờ có vẻ lịch lãm ấy, thường tránh né khung cảnh thỏa thuê và thừa mứa như tiệm ăn này, đang ngồi đây vì đoán là tôi muốn biết nó như thế nào.</p>
<p>Món thịt thỏ không có gì đặc biệt, những món ăn khác chúng tôi gọi, tôi cũng không nhớ được món nào. Nhưng tôi vẫn nhớ cái tên Il Fornaio có nghĩa là người làm bánh trong tiếng Ý, nhớ vầng âm thanh và ánh sáng lơ lửng chung quanh, và nhớ nỗi ân cần ấm áp choàng lấy tôi trong suốt bữa ăn hình như là duy nhất của tôi ở Il Fornaio.</p>
<p>3. Tôm và kem ở Santa Cruz</p>
<p>Tôi thích con đường đến Santa Cruz nhiều hơn Santa Cruz. Vòng vèo qua những ngọn đồi, ngang qua một hồ chứa nước, con đường viền thông xanh và dễ có sương mù. Vì con đường ấy, tôi đến Santa Cruz khá thường xuyên. Chúng tôi có thể vào khuôn viên trường đại học Santa Cruz, nhiều cỏ xanh, vẻ thôn dã, và những con nai xem đó là địa hạt của mình thường ghé qua gặm cỏ, đôi mắt ngơ ngác nhưng hoàn toàn không có vẻ giật mình khi nhìn thấy những chiếc xe qua. Dọc theo bãi biển quá khu vui chơi Boardwalk tôi thường tránh, con đường West Cliff Drive có rất nhiều chỗ dừng lại để ngắm biển, ngắm hoàng hôn, và những chàng trượt sóng. Cuối đường là Natural Bridges State Beach, nơi những con bướm Monarch bay từ Canada đến trú đông. Phố Santa Cruz có vài con đường nho nhỏ. Chúng tôi lang thang trong tiệm sách, tiệm đĩa nhạc, ngắm những vật trang trí thủy tinh, và đi ăn.</p>
<p>Ngay bên cạnh khu đậu xe cách con phố chính Pacific Avenue là tiệm ăn Little Shanghai, gọn ghẽ, khiêm nhường, bình dân. Tiệm nhỏ, khoảng mươi bàn, sau này có thêm vài bàn bên ngoài. Thực đơn ngắn hơn các quán Tàu thông thường, có vài món lạ tôi không thấy ở những nơi khác, chẳng hạn như món mì Dan Dan và món tôm Nhung (Velvet). Tôm cỡ trung, xào với lòng trắng trứng đổ lên rau broccoli hấp. Hương vị khá đơn giản, gừng và tỏi đặc trưng trong các món tàu, theo thực đơn thì có lẫn rượu. Trên màu xanh của broccoli, những con tôm màu đỏ cam khuất nửa trong màu trắng mượt mà của lòng trắng trứng. Ăn với cơm trắng ngon tuyệt. Món tôm Nhung trở thành món ăn tôi gọi mỗi khi đến Little Shanghai, và Little Shanghai trở thành quán ăn Santa Cruz tôi đến nhiều nhất.</p>
<p><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/icecream.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 0px 11px 0px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="icecream" border="0" alt="icecream" align="left" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/icecream_thumb.jpg" width="310" height="242" /></a>Thỉnh thoảng, thèm ăn kem, tôi sẽ nhờ bạn tôi ghé qua Marianne’s. Quán rất nhỏ, nằm trong một khu buôn bán cũng rất nhỏ, chỗ đậu xe hoàn toàn là chuyện rủi may. Thế mà Marianne’s lúc nào cũng đông, mười một giờ đêm vẫn có thể phải đứng xếp hàng và lấy số. Trong lúc xếp hàng, tôi có thì giờ nghiền ngẫm những cái tên kem (hơn 70 loại khác nhau) viết trên những tấm bảng gỗ treo kín bức tường sau lưng mấy người bán hàng. Lần nào tôi cũng ước mình có thể ăn nhiều hơn để thử được nhiều hơn những vị kem khác nhau. Nhờ rất chăm chỉ học tập mấy miếng gỗ mang tên kem ấy mà tôi nếm được những hương vị lạ như kem gừng, kem bí đỏ&#8230;</p>
<p>Sau khi xếp hàng (hay đứng bên cạnh người xếp hàng, luôn miệng tự hỏi không biết phải chọn vị kem nào), thường tôi sẽ cầm trong tay một cái chén giấy nhỏ có hai vị kem khác nhau để nhấm nháp trên đường về. Lúc nhỏ, tôi thích ăn kem đến nỗi anh tôi có lần đùa bảo khi tôi lớn mẹ tôi nên gả cho anh bán cà rem. Lớn lên, tôi thấy anh tôi cũng có lý lắm, nhưng thay vì lấy anh bán kem hay anh làm kem, có lẽ chỉ cần lấy anh xếp hàng mua kem cho mình là đủ rồi. Người xếp hàng ấy được nếm vài muỗng kem trong khi lái xe, và tôi được co gối trên ghế của mình, vị kem lạnh mát trong miệng, con đường uốn lượn trước mặt loáng thoáng trong ánh đèn xe, những gốc thông cao vút lên bầu trời đêm bây giờ mang vẻ đe dọa, không còn ấm vàng màu nắng như lúc đi. Cái thú vị vừa ăn một món ngon vừa ngắm cảnh đẹp đi qua trước mắt không khác bao nhiêu phòng ăn trên xe lửa hoặc du thuyền. Nhịp rung của xe lửa, cảm giác chòng chành của chiếc tàu, và độ chao nghiêng bất ngờ của chiếc xe khi bạn tôi lái sát độ cong của con đường. Tôi không ước ao luôn được thưởng thức hương vị món ăn như thế , vì nếu chuyện ấy xảy ra thường xuyên, nó sẽ chẳng còn là đáng nhớ, và tôi sẽ mất niềm vui khi lục lọi kỷ niệm và tìm ra vài khoảnh khắc ảo diệu, khi sự hài hòa trong cảnh, người và vị mang lại cho tôi một cảm giác no đủ tràn đầy hiếm có.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/22946/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>vực dậy từ tro than &#8211; đi qua những c&#225;nh đồng chết</title>
		<link>http://damau.org/archives/22913</link>
		<comments>http://damau.org/archives/22913#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 05 Jan 2012 07:02:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ngô Thế Vinh</dc:creator>
				<category><![CDATA[Chuyên Đề]]></category>
		<category><![CDATA[Du Lịch]]></category>
		<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Tùy bút]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/22913</guid>
		<description><![CDATA[Không với tính cách du lịch mà là một du khảo/ fieldtrip tới với một khúc đoạn khác của con sông Mekong, khúc sông đã từng loang máu và nổi trôi những chùm xác không đầu của người Việt. Cáp Duồn luôn luôn như một mối ám ảnh.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="left">&#160;</p>
<p align="left"><em></em></p>
<p align="left"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/VtthngChintranh_thumb.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto" title="Vt-thng-Chin-tranh_thumb" border="0" alt="Vt-thng-Chin-tranh_thumb" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/VtthngChintranh_thumb_thumb.jpg" width="333" height="464" /></a> </p>
<p align="center"><i>Vết Thương Chiến Tranh &#8211; </i>Ảnh: Ngô Thế Vinh</p>
<p align="center">&#160;</p>
<p align="center"><em></em></p>
<p align="right"><i>Nỗi thống khổ của thần dân là nỗi đau của đấng quân vương &#8211; Jayavarman VII</i></p>
<p><strong>TRỞ LẠI THĂM XỨ CHÙA THÁP</strong></p>
<p>Hơn 30 năm sau trở lại thăm đất nước Cam Bốt vẫn là một thứ kinh nghiệm “độc nhất vô nhị.” Năm 1970 là đi vào một đất nước Cam Bốt đang chìm đắm trong chiến tranh từ Việt Nam tràn sang. Thị trấn Krek không xa biên giới Việt Nam thường xuyên là mục tiêu của những trận mưa pháo và hỏa tiễn. Tiếp theo đó là những năm tháng kinh hoàng của chiến dịch “cáp duồn” người Việt dưới chính quyền Lon Nol, rồi là những năm “tẩy sạch chủng tộc” của Pol Pot. Năm 2001 trở lại một đất nước đã trải qua những năm tháng ác mộng của mênh mông những Cánh Đồng Chết mà tưởng như mới hôm qua. Một đất nước với nền hòa bình còn non trẻ và mìn bẫy thì đầy rẫy sau những năm nội chiến đẫm máu. Nhưng Cam Bốt đang vực dậy từ tro than và hướng về tương lai. Đối với du khách thì Cam Bốt nay thực sự trở lại với bản đồ Đông Nam Á do sự kỳ vĩ của các khu đền đài Angkor, một tụ điểm du lịch mà có lẽ không một nước Á Châu láng giềng nào có thể sánh bằng. Lại thêm triển vọng từ 2002 mở ra một cuộc du lịch đầu tiên bằng thuyền hovercraft [ACV / Air Cushion Vehicle] 14 ngày khởi hành từ giang cảng Tư Mao/ Simao tỉnh Vân Nam xuống Cảnh Hồng qua khu Tam Giác Vàng [Miến Điện, Thái, Lào] xuống tới Luang Prabang &#8211; Vạn Tượng &#8211; Pakse vòng qua thác Khone xuống Cam Bốt &#8211; lên Biển Hồ tới Siem Reap &#8211; Angkor trở lại Nam Vang trước khi xuống ĐBSCL Việt Nam và bến đỗ sẽ là cảng Cần Thơ. Tuy chưa phải là cuộc hành trình suốt dọc con sông Mekong qua 7 quốc gia do có một khúc sông không lưu thông được qua các hẻm núi từ Tây Tạng xuống Vân Nam nhưng đây vẫn sẽ là một cuộc du lịch sinh thái / Ecotour 2,900 km đường sông qua 6 nước vô cùng hấp dẫn: du khách còn hy vọng được thấy những con cá Pla Beuk và Irrawady Dolphin cuối cùng còn sống sót trên sông Mekong trước khi trở thành những hình ảnh của quá khứ. Nhưng đó là chuyện của tương lai năm 2002. Bây giờ là tháng 12 của năm đầu thế kỷ 21. Không với tính cách du lịch mà là một du khảo/ fieldtrip tới với một khúc đoạn khác của con sông Mekong, khúc sông đã từng loang máu và nổi trôi những chùm xác không đầu của người Việt. Cáp Duồn luôn luôn như một mối ám ảnh. Người Việt người Khmer nói chung vẫn có cách nhìn mang dấu ấn tiêu cực về nhau bắt nguồn từ mối thù hận lịch sử. Cao Xuân Huy tác giả Tháng Ba Gẫy Súng nói với tôi: – Anh không sợ bị Cáp Duồn à? Người Lào dầu sao cũng hiền lành hơn người Miên. Huy muốn so sánh chuyến đi Lào suông sẻ của tôi và chuyến đi Cam Bốt sắp tới. Hoàng Khởi Phong Người Trăm Năm Cũ cũng đưa ra một ý kiến không thuận lợi: – Cuốn sách xong rồi anh còn đi Cam Bốt làm gì, anh vẫn còn thời gian để thay đổi ý kiến. Tuy không phải là một lời can ngăn nhưng chắc chắn đó không phải là một phát biểu đồng tình. Anh Đỗ Hải Minh/Dohamide người bạn Chăm lâu năm của báo Bách Khoa trước 1975 có lời khuyên tôi chưa nên đi ở một thời điểm quá gần biến cố 911 &#8211; nhất là khi tôi tỏ ý định đi thăm cộng đồng người Chăm Islam gần 500,000 người trong số 11 triệu dân Khmer theo Đạo Phật. Mấy người bạn Mỹ nơi bệnh viện tôi làm việc, có người gốc Green Beret từng qua Cam Bốt, cũng ngạc nhiên về “nơi đến nghỉ hè” của tôi. Thêm một thay đổi bất ngờ nữa là người bạn đồng hành Nguyễn Kỳ Hùng, vào giờ chót phải hủy bỏ chuyến đi theo dự kiến vì một dự án cuối năm của hãng Điện Toán Gateway mà anh là kỹ sư kế hoạch phải ở lại để hoàn tất. Anh là một phóng viên nhiếp ảnh trẻ tài hoa đã cùng đi với tôi trong chuyến về thăm ĐBSCL cách đây 2 năm. Tôi hiểu rằng là một phóng viên, cho dù không ra chiến trường nhưng cũng có những mặt trận khác. Hiệp Hội Phóng Viên Không Biên Giới cho biết trong năm 2001 đã có 31 nhà báo thiệt mạng trong khi hành nghề, tương đương với con số của năm 2000, đó là chưa kể số ký giả bị cầm giữ. Ý thức những bất trắc chứ không phải chối bỏ nhưng nếu có gặp trắc trở thì cũng là chuyện đương nhiên của nghề nghiệp phải vượt qua và tận cùng xa hơn nữa, ở một thời điểm nào đó – là cái chết, có ích hay không, vẫn là điều mà mỗi chúng ta phải đối diện hàng ngày, như điểm hẹn cuối cùng của mọi cuộc hành trình. Đến với con sông Mekong với tôi đã như một tiếng gọi quyến rũ – như một cuộc trở về, để tìm tới với Biển Hồ, con sông Tonlé Sap cùng với khúc đoạn khác của con sông Mekong. Điều mà thế hệ sắp tới có thể không còn cơ hội để thấy được sinh cảnh phong phú nhưng quá mong manh của một dòng sông sẽ trở thành <i>“Con Sông của Quá Khứ.”</i></p>
<p><strong>VÀI HÀNG TIN MỚI TRƯỚC CHUYẾN ĐI</strong></p>
<p>Cam Bốt vừa được Tổng thống Bush loại ra khỏi danh sách những nước được coi là vận chuyển ma túy lớn nhất thế giới. Vẫn còn 23 nước có tên trong sổ đen của Cơ Quan Bài Trừ Ma Túy Mỹ/DEA trong đó có Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan, Lào và dĩ nhiên có cả Việt Nam. Cam Bốt đang có kế hoạch cho giải ngũ khá tốn kém cho khoảng trên 30,000 quân nhân (bao gồm cả sĩ quan và hàng tướng lãnh) trước cuối năm 2002, trả họ về đời sống dân sự. Kế hoạch chủ yếu được tài trợ bởi Ngân Hàng Thế Giới, với hy vọng giảm thiểu số lượng súng đạn đang còn tràn ngập trên đất nước Cam Bốt tạo thuận cho hòa bình, “cải thiện nhân quyền” đồng thời tiết kiệm được 10 triệu đôla mỗi năm dùng cho các kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế. Nhưng tham nhũng vẫn là trở ngại lớn nhất trong việc sử dụng số tiền 42 triệu tài trợ ấy. Thủ tướng Hun Sen vừa ban hành sắc luật đóng cửa tất cả các phòng trà ca nhạc karaoke trên toàn quốc với lý do tệ nạn xã hội: tội ác bạo động, đĩ điếm lan tràn, dịch HIV phát triển ở các tỉnh miền quê do các cô gái karaoke trở về gieo rắc. Các tổ chức du lịch thì lại coi đây như <i>“một đòn giáng khác”</i> sau biến cố 911 vì số lượng du khách đã giảm tới 20% chủ yếu thành phần từ Âu Châu và Bắc Mỹ, chỉ còn trông vào khách Á Châu lại rất thích giải trí trong các hộp đêm. Trùng hợp với chuyến viếng thăm của Chủ Tịch Nhà Nước Việt Nam Trần Đức Lương, đã xảy ra hai vụ cháy lớn tại các khu xóm nhà lá ở Nam Vang mà cư dân phần đông là người gốc Việt. Hai khu này vốn nằm trong kế hoạch giải tỏa của chính quyền Nam Vang. Trong khi mối bang giao giữa Việt Nam và Cam Bốt ngày một thêm căng thẳng vì tranh chấp biên giới như một vấn đề tồn tại lịch sử. Chính quyền và không ít người Cam Bốt vẫn coi ĐBSCL với hàng triệu người Việt gốc Khmer là thuộc Cam Bốt mà người Việt mới xâm chiếm bằng cuộc Nam Tiến từ mấy thế kỷ sau này.</p>
<p><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/12/Chm_-Gia-nh-Chm-Tonlesap.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="Chăm_ Gia đình Chăm Tonlesap" border="0" alt="Chăm_ Gia đình Chăm Tonlesap" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/12/Chm_-Gia-nh-Chm-Tonlesap_thumb.jpg" width="660" height="439" /></a></p>
<p align="center"><em>Gia Đình Chăm Tonlesap &#8211; Ảnh: Ngô Thế Vinh</em></p>
<p><strong>ĐƯỜNG VÀO SIEM REAP</strong></p>
<p>Trong cuộc chiến giữa Thái và Pháp (1941), Nhật đã ép Pháp phải cắt một phần đất của Cam Bốt nhượng cho Thái. Nhưng sau khi Nhật thất trận (1946), Thái phải trả lại đất. Có lẽ vì vậy mà có tên Siem Reap có nghĩa là “Xiêm bại trận.” Là một tỉnh nhỏ đồng quê nằm phía tây bắc Biển Hồ, cảnh trí xanh tươi với những bóng dừa, cây cau, cây me và đủ các loại cây trái nhiệt đới – giống như ở ĐBSCL. Nguyên là vị trí trọng yếu với các ngọn đồi chiến lược, các vua Khmer đã dựng nên khu đền đài Angkor như kinh đô từ thế kỷ thứ 9 tới thế kỷ 13, nơi đây cũng từng là bãi chiến trường trong suốt những năm nội chiến của mấy thập niên qua. Thời kỳ “sau Khmer Đỏ”, Siem Reap là một thị trấn đang thức dậy vì là điểm hẹn xuất phát cho những đoàn du khách tới thăm kỳ quan Angkor – nhất là từ khi có đường bay trực tiếp đổ du khách ngoại quốc từ Bangkok vào Siem Reap mà không cần vòng qua ngả Nam Vang. Những chuyến bay tới Nam Vang thì càng ngày càng trống trải, du khách thì đổ dồn về Siem Reap, nhà khách phi trường quá tải và đang được các đội xây cất mở rộng. Các khách sạn tiện nghi kể cả Sofitel 5 sao mau chóng mọc lên bao gồm cả sân golf, phải kể cả dự án đầy tham vọng của các doanh nhân Mã Lai lập các màn Shows “âm thanh và ánh sáng” kỳ vĩ ngay trên khu đền đài Angkor Wat nhưng kế hoạch bị khựng lại do cuộc khủng hoảng kinh tế Á Châu vừa qua. Dấu mốc 911 cũng thay đổi thành phần du khách: thưa thớt đến từ Bắc Mỹ và Âu Châu, đa số là du khách tới từ các nước Á Châu: Nhật bản, Đài Loan, Đại Hàn, Trung Quốc&#8230;Chỉ cần giấy thông hành khi tới – Visas on arrival. Đội cảnh sát phi cảng Siem Reap có vẻ chuyên nghiệp làm việc lối dây chuyền: những người đàn ông Khmer vạm vỡ da sậm đen tóc quăn y phục thẳng nếp. Cho dù với thông hành Mỹ, tôi vẫn được giữ lại khá lâu với người đại úy trưởng toán với cặp mắt thật sáng nhưng lạnh. Khi trao lại sổ thông hành cho tôi, rất nhiều ngụ ý anh nói với tôi bằng tiếng Việt rất ngắn gọn hai tiếng cám ơn. Và tôi hiểu rằng những ngày trên xứ Chùa Tháp với giấy tờ tùy thân gì đi nữa thì tôi vẫn thực sự mang căn cước một Người Việt. Tôi đang tìm tới với cộng đồng người Khmer, cộng đồng người Chăm mang theo cả gánh nặng quá khứ của gần ba thế kỷ. Liệu đến bao giờ thì mới rũ sạch được món nợ lịch sử này.</p>
<p><strong>ĐẾN VỚI ĐẾ THIÊN ĐẾ THÍCH</strong></p>
<p>Để thăm hết các khu đền đài phế tích Angkor trải rộng trên một chu vi trên 35 km, có lẽ du khách phải cần ít nhất từ 3 ngày tới một tuần lễ. Vì không phải là một cuộc du lịch tới Angkor, tôi chỉ có một ngày để đến thăm một nền văn minh rực rỡ nhưng đã suy tàn của con sông Mekong. Năm 1943, chàng thanh niên 31 tuổi Nguyễn Hiến Lê trong dịp đi công tác cho Sở Công Chánh ở Siem Reap, đã có dịp đi thăm Đế Thiên Đế Thích và ông đã viết một du ký ngắn về chuyến đi này. Hơn nửa thế kỷ sau ông, tôi đến với Angkor, đến với những khối đá khổng lồ và vô tri của Angkor nhưng được kết hợp thành một tổng thể kiến trúc hài hòa lại được tô điểm bởi vô số những tác phẩm điêu khắc hết sức tinh vi. Toàn cảnh thì đây là công trình vĩ đại của các kiến trúc sư bậc thầy, của một đội ngũ điêu khắc gia tài hoa và rất giỏi về cơ thể học. Bao nhiêu bút mực để vinh danh Michelangelo thời Phục Sinh của Phương Tây nhưng du khách đến với Đế Thiên Đế Thích chỉ biết âm thầm ngưỡng mộ những nghệ sĩ lớn khuyết danh và không thể không tự hỏi họ từ đâu tới và hồn họ ở đâu bây giờ. Tác phẩm của họ hoàn tất trước Michelangelo ít nhất là hàng 5 thế kỷ. Bình minh trên Angkor Wat là một cảnh quan tuyệt đẹp, một khúc giao hưởng tĩnh lặng kết hợp giữa thiên nhiên và kỳ tích của con người. Năm ngọn tháp vươn lên trên một nền trời từ màu xám đang dần ửng đỏ. Mặt trời lên, hàng cây thốt nốt cao đứng soi bóng như nhân chứng của ngàn năm (cây thốt nốt vẫn được coi là biểu tượng của đất nước Cam Bốt). Sương đêm còn đọng long lanh trên những tàu lá súng bông súng trên mặt hồ. Bước lên những bực thang, đi vào khu đền đài với hàng ngàn thước đá chạm trổ như một pho sử đá cảnh trần gian, vươn lên là các tượng đá hùng vĩ uy nghi gây cảm giác choáng ngợp, để tưởng như thời gian ngưng lại cho phút trầm tư về nỗi phù du của các triều đại và kiếp người. Hướng lên những tượng Phật ánh mắt từ bi và nụ cười bí ẩn mà thanh thoát – với nụ cười La Joconde, cô chỉ là một phó bản mờ nhạt không sao sánh được. Bây giờ là bình minh của trời đất nhưng lại là hoàng hôn của một nền văn minh. Không, hoàng hôn của hai nền văn minh: Angkor-Khmer và Champa. Gặp gỡ những người Khmer bây giờ, người ta cũng không tránh được cảm nghĩ của Henri Mouhot – người tái phát hiện đền đài Angkor cách đây hơn một thế kỷ, và cách đây một năm (2000) tôi đã ngồi bên ngôi mộ ông bên bờ hoang vắng của con sông Nam Khan một phụ lưu của con sông Mekong trên Thượng Lào, rằng khó mà tin họ có cùng dòng dõi và có liên hệ gì tới thế hệ đã qua xây dựng nên kỳ quan Angkor. Cảm giác thật kỳ lạ vương vất khó tả khi chứng kiến đám bà sơ ngồi trên bệ đá cao của một khu thư viện hoang phế, hướng về phía mặt trời mọc cùng hát bản thánh ca hồn nhiên vô tư với thanh âm thoảng xa trong gió và trong nắng mai.</p>
<p><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/12/Bin-H_-Vit-Min-Khmer-Chung-Sng.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="Biển Hồ_ Việt Miên Khmer Chung Sống" border="0" alt="Biển Hồ_ Việt Miên Khmer Chung Sống" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/12/Bin-H_-Vit-Min-Khmer-Chung-Sng_thumb.jpg" width="660" height="425" /></a></p>
<p align="center"><em>Biển Hồ &#8211; Việt Miên Khmer Chung Sống <i>- </i>Ảnh: Ngô Thế Vinh</em></p>
<p><strong>TỪ LÀNG NỔI VIỆT NAM</strong></p>
<p>Từ Siem Reap bằng thuyền máy về hướng nam ra tới khu Chong Khneas hay còn được gọi là Khu Làng Nổi Người Việt phía tây bắc Biển Hồ, với sinh cảnh phong phú của đám cư dân sống trên sông nước. Nguồn tài nguyên phong phú của Biển Hồ đã thu hút đủ sắc dân từ các nơi đổ tới và hình thành những khu làng nổi trong vùng đồng lũ và trên Biển Hồ. Nếp sống ấy hầu như ít thay đổi từ hàng trăm năm nay. Họ chủ ý sống bằng nghề chài lưới và cá vẫn là nguồn lợi tức chính – ngoài cá lưới được từ Biển Hồ còn phải kể tới nghề nuôi cá lồng, trại nuôi cá sấu, nuôi rắn, nuôi vịt, đốn củi, săn chim thú và cả vớt các loài rong tảo. Tới với khu làng nổi là tới với vẻ đẹp của một sinh cảnh thiên nhiên đồng lầy còn hoang dã. Những khu làng nổi này cũng di chuyển theo mùa, theo mực nước lên xuống. Bình minh hay hoàng hôn trên khu làng nổi là một trong những cảnh quan tuyệt đẹp của Biển Hồ.</p>
<p><strong>TỚI TRÀM CHIM VÙNG SINH THÁI PREK TOAL</strong></p>
<p>Từ Chong Khneas, khoảng hai tiếng đồng hồ bằng thuyền máy chạy băng băng trên mặt Biển Hồ gió mạnh sóng khá lớn trên trời mây vần vũ có cảm tưởng như đang trên mặt biển. Từng đợt nước hắt vào trong ghe, người ướt thì không kể gì nhưng phải bảo vệ chiếc máy chụp hình Canon – không waterproof đã một lần bị ướt ống kính khi tôi đang nhắm chụp hình một chú chim lạ chắc là mỏi cánh tạm ghé đỗ trên một cụm lục bình trổ bông tím đang nổi trôi giữa biển nước chẳng thấy đâu là bờ. Băng qua Biển Hồ đi về hướng nam để tới được Prek Toal thuộc tỉnh Battambang, là khu làng nổi khác của người Khmer, nơi đây có đặt văn phòng Sở Bảo Tồn Biển Hồ (Environmental Research Station for Tonle Sap Biosphere Reserve). Vùng Sinh Thái Prek Toal với Tràm Chim là một trong ba khu sinh thái của Biển Hồ. Đây là nơi tụ hội đông đảo của một số loài chim hiếm quý. Từ xa trên Biển Hồ, đã thấy bay lượn những đàn chim nước lớn nhỏ đủ loại. Như một hiện tượng thiên nhiên kỳ diệu, diện tích Biển Hồ co giãn theo mùa. Là hồ cạn với 2,500 km2 mùa khô, tới mùa mưa bắt đầu từ tháng 6 tháng 7, do nước con sông Mekong dâng cao tạo sức ép khiến con sông Tonle Sap phải đổi chiều, chảy ngược vào Biển Hồ, khiến nước hồ dâng cao từ 8 tới 10 mét và tràn bờ làm tăng diện tích Biển Hồ lớn gấp 5 lần khoảng hơn 12,000 km2. Chính con sông Mekong và Biển Hồ đã từng là cái nôi của nền văn minh Angkor. Do một sắc lệnh của Hoàng gia Cam Bốt từ tháng 11/1993 quy định Biển Hồ Tonlé Sap là Khu Đa Dụng Bảo Tồn (Multiple Use Protected Areas). Tiếp sau đó qua bao vận động của Sihanouk, mãi tới tháng 10 năm 1997 Biển Hồ mới được UNESCO công nhận là Khu Bảo Tồn Sinh Thái (Biosphere Reserve). Để quản lý Khu Bảo Tồn Sinh Thái, Biển Hồ được chia làm 3 khu: khu trung tâm (core), khu đệm (buffer zones), và khu chuyển tiếp (transition zones). Mục đích lâu dài là bảo vệ các khu trung tâm để tương lai sẽ trở thành công viên quốc gia. Ba khu trung tâm có giá trị bảo tồn cao là: _ Prek Toal rộng 31,282 ha _ Boeng Tole Chhmar hay Moat Kla rộng 32,969 ha _ Stung Sen 6,586 haVới hệ sinh thái hết sức đa dạng bao gồm những con suối, những hồ, các cánh đồng lũ, các loại thảo mộc đất sũng. Tất cả kết hợp tạo thành một hệ thủy học duy nhất của Biển Hồ, nuôi dưỡng một quần thể sinh học phong phú bao gồm vô số loại cá, các loại chim nước, các loài bò sát, loài lưỡng cư (amphibians), các động vật có vú, các rong tảo và vi sinh vật. Trong những tháng lũ, gần 2/3 diện tích những cánh đồng lũ của Biển Hồ bao phủ bởi quần thể các loại cây sống dưới nước gồm hơn 190 chủng loại. Rừng lũ đóng một vai trò sinh tử để nuôi dưỡng và tái sinh các nguồn sinh vật, có tác dụng cộng sinh (symbiosis) hỗ tương như một chuỗi thực phẩm khổng lồ. Riêng về cá, có tới hơn 200 loại cá trong Biển Hồ trong đó bao gồm hơn 70 loại cá có giá trị dinh dưỡng và thương mại lớn. Cá đánh được chỉ riêng ở Biển Hồ đã chiếm hơn 60% tổng số cá nước ngọt của Cam Bốt.Mối e ngại hiện nay là số lượng cá ngày một sút giảm, số cá lớn cũng ngày một ít đi. Riêng về các loài chim, do nguồn thức ăn vô cùng phong phú, cộng thêm với sinh cảnh đồng lầy và rừng lũ rất biến thiên, tạo nên vùng cư trú lý tưởng cho vô số loài chim nước. Khảo sát sơ khởi cho thấy có hàng trăm loại chim trong số đó có 12 loại được coi là hiếm quý đối với thế giới.Rừng lũ Biển Hồ còn là sinh cảnh cho các loài bò sát, loài có vú: 23 loại rắn, 13 loại rùa, 1 loại cá sấu, vượn khỉ, mèo báo, rái cá&#8230;Tính đa dạng và biến thiên trong Biển Hồ cho tới nay chưa hoàn toàn được biết rõ nếu không muốn nói là thiếu sót. Cần có ngay một kế hoạch quy mô nghiên cứu, ghi nhận và theo dõi các loài cá chim, cây cỏ và rong tảo, phẩm chất biến thiên của nước và toàn cảnh hệ sinh thái nói chung. Bởi vì với tốc độ khai thác quá mức như hiện nay, một số chủng loại hiếm quý có khi đã bị tiêu diệt trước khi được biết tới, giống như tình trạng ở thác Khone Nam Lào. Bây giờ là giữa tháng 12, mực nước xuống thấp tới 1/3 thân cây mộc. Những búi rác khô vướng trên cành cao cho thấy mực nước đỉnh lũ cách đây 3 tháng phải cao hơn tới 3 mét. Giữa các chòm cây, không có lấy một đường nước quang đãng phía trước. Chỉ thấy nhấp nhô trên mặt nước là các bụi cây thấp. Có lẽ với một chiếc ghe tam bản nhỏ là thích hợp để di chuyển trong rừng lũ. Chiếc ghe thuê hiện giờ là một thuyền máy khá lớn để đi trên Biển Hồ. Chỉ có tôi là Việt Nam, với ba người Khmer trên một chiếc ghe giữa mênh mông khu rừng lũ. Cứ chạy được một đoạn chiếc ghe khựng lại do cánh quạt bị quấn đầy những dây nhợ và các bụi cây nhỏ. Mỗi lần như vậy thì tài công và người phụ máy lại phải nhảy xuống nước bì bõm loay hoay tháo gỡ. Họ có vẻ bực bội lớn tiếng như gây gổ nhau và nét mặt hiện vẻ hung dữ. Trong khi người hướng dẫn mới lên ghe từ Trạm Bảo Tồn thì vẫn cứ ngồi yên nơi mũi ghe, vẻ mặt khắc khổ đen sạm lắc đầu tỏ vẻ mất kiên nhẫn. Giữa rừng lũ không phương hướng, dưới bầu trời nắng gắt là những cánh chim bay lượn. Tiếp tục đi tới hay quay trở về, không biết quyết định nào là đúng và tôi cũng không thiếu tưởng tượng để một thoáng nghĩ rằng nếu có chuyện gì xảy ra ở một nơi xa xôi hẻo lánh – một thứ no man’s land như nơi đây thì tôi cũng ở một thế rất bị động. Tôi cũng hiểu rằng bản năng con người thì bao giờ cũng như một con thú đang im ngủ, mọi tỏ lộ nét sợ hãi chỉ có tác dụng đánh thức thú tính và tôi đã chọn thái độ thản nhiên gần như phó mặc. Nhưng rồi cuối cùng thì chiếc ghe máy cũng tới được trung tâm Tràm Chim. Do có điện đàm trước từ văn phòng Khu Bảo Tồn, Meas Rithy một thanh niên còn rất trẻ có ý chờ đó tôi từ khi nãy. Anh không nghĩ là với thuyền máy lại có thể đi chậm đến như vậy. Meas tốt nghiệp BS về Lâm Nghiệp (Forestry) Đại học Hoàng gia Phnom Penh, từ ngày ra trường được bổ nhiệm làm trưởng trạm Prek Toal – Tonle Sap Biosphere Reserve. Vì thường xuyên tiếp xúc làm việc với các viên chức UNESCO. Meas nói tiếng Anh lưu loát. Cũng do quen tiếp đón các đoàn khách, kể cả khách du lịch, Meas cũng dành cho tôi một briefing vừa đủ và ngắn gọn để hiểu hơn về Tràm Chim và Khu Bảo Tồn. Do tôi cũng có làm Home work trước chuyến đi nên những điều anh nói ra chỉ giúp hệ thống hóa những thông tin mà tôi có được và quan trọng hơn là sau đó Meas giúp tôi một chuyến quan sát thực địa có hướng dẫn.Bước đầu như một thách đố, Meas chỉ cho tôi một cái chòi buộc cheo leo trên ngọn cây cao như trạm quan sát. Phải leo lên bằng nhiều bực thang dây đu đưa. Với những năm lính tráng và cả ba năm tù đầy, thì đây chẳng phải là một thử thách. Tôi thoăn thoắt leo lên trước. Chòi nhỏ chỉ đủ treo một chiếc võng và sàn đứng là những thân cây xếp ngang buộc bằng dây trạo. Có lẽ đây là điểm cao nhất để có một cái nhìn toàn cảnh tràm chim. Từ đây bằng ống nhòm có thể nhìn ra từng lùm cây xa, với vô số chim lớn nhỏ đậu từng chùm trên đó. Meas giảng cho tôi đặc tính của một số loài chim. Meas nói thêm thời gian lý tưởng để thăm Tràm Chim là từ tháng Giêng tới tháng Ba cũng là mùa nước cạn [cùng thời gian với Tràm Chim Tam Nông Đồng Tháp Mười] rừng lũ trở thành vùng đất bùn với rất nhiều vũng và các hồ cạn với ê hề tôm cá, cũng là thời gian để các loài chim muông tụ về đây nhiều vô kể &#8211; sinh cảnh ấy chắc phải vượt xa cuốn phim kinh dị về chim của Hitchcock. Như một kỳ quan môi sinh – ecological wonder. Không ăn sáng mà cũng chưa có ăn trưa. Tôi được anh tài công chia cho nửa hộp cơm trắng với một khúc lạp xưởng rất nhiều mỡ. Bụng đói nên ngon miệng với từng miếng cơm thật ngọt. Sau đó tôi và Meas bước xuống chiếc xuồng tam bản nhỏ với một người chèo để tới gần hơn với từng vòm cây và đám chim muông. Con thuyền nhỏ lướt nhẹ trên mặt nước giữa vẻ đẹp hoang sơ và trinh nguyên của khu rừng lũ. Ghe dừng lại từng chặng để tôi có thể quan sát từng loại chim khác nhau trong số đó có chủng loại được coi là hiếm quý cần được bảo vệ như: Spot-billed Pelican / chim bồ nông mỏ đốm, Oriental Darter / bồ nông cổ rằn Đông phương, Lesser Adjutant, Greater Adjutant, Black Necked Stork / sếu cổ đen, Painted Stork / sếu vằn, Milky Stork / sếu sữa, Glossy Ibis / cò quăm, Grey-headed Fish Eagle / chim ưng đầu xám&#8230;Tôi cũng được biết từ buổi sáng sớm cùng ngày đã có mấy nhà điểu học người Pháp đi bằng thuyền nhỏ ra các vòng xa hơn để chụp hình và quay phim một loài vịt trời cánh trắng / White-winged Duck được coi như rất quý hiếm.Trên vòng về, tôi được biết thêm về cuộc sống Meas. Lương 15 đôla một tháng không đủ sống vẫn còn phụ thuộc bố mẹ nhưng anh vẫn say mê công việc đang làm là bảo vệ rừng lũ và đám chim muông. Anh không hay biết gì về chuỗi những con đập bậc thềm khổng lồ Vân Nam và cả tình huống nếu Biển Hồ xuống thấp 1 mét thì hậu quả tức thời là sẽ mất đi 2,000 km2 diện tích rừng lũ – dĩ nhiên có khu bảo tồn Prek Toal. Meas không có được tầm nhìn xa hơn Tràm Chim của anh và chỉ ôm ấp một giấc mộng con, mong ước sao có được mối quen biết – mà anh gọi là connections, để có cơ hội đi học thêm nhất là ở Mỹ. Trước khi rời Prek Toal trở về Siem Reap, chia tay anh, tôi không quên phần đóng góp tượng trưng 20 đôla như một hỗ trợ duy trì sinh hoạt Khu Bảo Tồn.</p>
<p><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/12/Sien-Reap_-Bnh-vin-Jayavarman.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="Sien Reap_ Bệnh viện Jayavarman" border="0" alt="Sien Reap_ Bệnh viện Jayavarman" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/12/Sien-Reap_-Bnh-vin-Jayavarman_thumb.jpg" width="579" height="402" /></a></p>
<p align="center"><em>Bệnh viện Jayavarman <i>- </i>Ảnh: Ngô Thế Vinh</em></p>
<p><strong>JAYAVARMAN VII SIEM REAP</strong></p>
<p>Thời gian còn lại ở Siem Reap, tôi tới thăm bệnh viện Nhi đồng Jayavarman VII được Sihanouk và Hun Sen cùng cắt băng khánh thành năm 1999. Đây là bệnh viện thứ ba, hai bệnh viện kia là Kantha Bopha I và II ở Nam Vang. Beat Richner là một khuôn mặt huyền thoại – giám đốc cả ba bệnh viện không chỉ là một bác sĩ Nhi khoa, ông còn là nhạc sĩ cello chơi nhạc Bach có hạng. Gốc Thụy Sĩ, từng là bác sĩ điều trị trong trong một bệnh viện nhi đồng ở Nam Vang từ 1974 &#8211; 1975 cho tới khi Khmer Đỏ tiến chiếm thủ đô. Năm 1991, Richner được Sihanouk yêu cầu giúp phục hồi bệnh viện nhi đồng này. Năm 1992, bệnh viện Kantha Bopha bắt đầu hoạt động. Năm 1996, thêm một bệnh viện kantha Bopha II được khánh thành cũng ở Nam Vang. Ba năm sau khánh thành thêm một bệnh viện ở Siem Reap-Angkor: bệnh viện Jayavarman VII, với cái tên chọn đặt bao hàm một nội dung lịch sử. Jayavarman là tên vị vua anh hùng cuối cùng của triều đại Khmer-Angkor thế kỷ 12, có công mở mang bờ cõi vương quốc rộng lớn nhất, không chỉ xây dựng các khu đền đài kỳ vĩ nổi tiếng như Bayon, ông còn quan tâm tới các công trình công ích như mở mang đường xá, xây cất nhiều dưỡng đường và các bệnh viện. Mọi điều trị trong bệnh viện Jayavarman VII rất tiêu chuẩn, tất cả đều miễn phí cho mọi trẻ em nghèo Cam Bốt. Bệnh viện còn là nơi giảng dạy thực tập cho sinh viên y khoa và các nội trú. Để điều hành cả ba bệnh viện, mỗi năm cần tới 9 triệu đôla do tặng dữ của tư nhân chủ yếu từ dân chúng Thụy Sĩ. Bác sĩ Richner cứ 3 ngày ở Nam Vang, 3 ngày cuối tuần ở Siem Reap. Cho dù vô cùng bận rộn nhưng mỗi tối ngày thứ bảy bao giờ cũng có một buổi hòa nhạc Bach ở bệnh viện. Beatocello in Concert do chính Richner trình diễn để gây quỹ nhưng vào cửa thì tự do. Tới tham dự phần đông là du khách ngoại quốc đang tới viếng thăm khu đền đài Angkor. Giữa một thị trấn nhỏ, không xa Đế Thiên Đế Thích, trong khí hậu của lục địa Á Châu Gió Mùa, cảm giác thật kỳ lạ khi thả mình trong dòng nhạc J.S.Bach qua tiếng đàn cello của người bác sĩ nhi khoa tên Richner để thấy rằng không còn giới hạn Đông và Tây như Kipling thường nói, bây giờ thì con sông Mekong như đã hòa lẫn vào con sông Danube. Người thầy thuốc nghệ sĩ ấy đã đưa nhạc Bach đầy tiết tấu và trí tuệ vào các khu đền đài của Châu Á. <em>Bach At The Pagoda</em> với những nốt nhạc còn vang xa, vươn xa tới cả Những Cánh Đồng Chết để xoa dịu vỗ về và là nguồn an ủi. Rời bệnh viện Siem Reap sạch sẽ khang trang với hình ảnh những bà mẹ Khmer tin tưởng ôm con từ ngoài cửa đi vào, cùng một lúc hừng lên trong nắng mai trên cao nơi mái ngói đỏ là tượng Jayavarman VII hao giống đầu tượng Phật với cạnh đó là một câu trích dẫn có lẽ do chính Richner chọn, với ẩn dụ đầy ý nghĩa: <i>Les souffrances des peuples sont les souffrances des rois / Nỗi thống khổ của thần dân cũng chính là nỗi đau của đấng quân vương – </i>Jayavarman VII. Vua Sihanouk của một thời sắp qua, Vua Hun Sen của thời đại mới có cảm nhận được niềm đau nào không của những người Khmer sống sót đi ra từ Những Cánh Đồng Chết. Richner gợi nhớ hình ảnh một Schweitzer chăm sóc những người bệnh Hansen / phong cùi ở Lambaréné Phi Châu, cũng là một nhạc sĩ nhưng trước Richner hơn nửa thế kỷ. Phần ngày còn lại, tôi cũng tới thăm trại nuôi cá sấu cách trung tâm thị trấn 2 km. Trại nuôi cá sấu thì đâu có gì lạ nhưng do chuyện kể kinh hoàng không thể tin là có thật, thời Pol Pot lính Khmer Đỏ đã ném các nạn nhân còn sống xuống hồ cho đàn cá sấu xúm vào ăn thịt. Bây giờ trại chủ yếu nuôi sấu bán sang Thái Lan với giá 2,000 đôla/ con để lấy da. Cảnh cá sấu ăn thịt người thì không thấy nhưng chỉ riêng cảnh cho cá sấu ăn bình thường hàng tuần mỗi thứ sáu cũng đã khiến cho người xem phải lên ruột.</p>
<p><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/12/Cu-Lc-B-K-Gi-Ngoi-Quc.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="Câu Lạc Bộ Ký Giả Ngoại Quốc" border="0" alt="Câu Lạc Bộ Ký Giả Ngoại Quốc" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/12/Cu-Lc-B-K-Gi-Ngoi-Quc_thumb.jpg" width="345" height="500" /></a></p>
<p align="center"><em>Câu Lạc Bộ Ký Giả Ngoại Quốc <i>- </i>Ảnh: Ngô Thế Vinh</em></p>
<p>NAM VANG: CÂU LẠC BÔ KÝ GIẢ NGOẠI QUỐC &#8211; FCCC / Foreign Correspondents’ Club of Cambodia, rất quen thuộc với các nhà báo trong những năm chiến tranh, nằm trên đường bờ sông Preah Sosovath, là một khu nhà lầu 3 tầng kiến trúc từ thời Pháp, có buồng với balcon nhìn xuống con sông Tonle Sap, nơi cho các nhà báo ngoại quốc tạm ghé qua và có dịp gặp gỡ nhau. Cho dù 3 ngày trước đó từ Siem Reap đã điện thoại giữ chỗ trước và được hứa hẹn có xe ra đón tại phi trường, nhưng rồi đã không có xe đón phải thuê taxi về câu lạc bộ và rốt cuộc cũng không có buồng trống. Không quá giàu tưởng tượng nhưng tôi hiểu rằng Nam Vang không phải là một nơi 100% an toàn đối với khách ngoại quốc. Chọn leo lên lưng một chiếc Honda ôm hay bước vào một chiếc taxi-chui không bảng hiệu là không biết được đưa về đâu. Bởi vì cướp có vũ trang vẫn thường xảy ra. Cũng đã có lời khuyến cáo cho du khách là ở tình huống nào thì cũng không bao giờ nên chống cự, chỉ nên giơ tay đầu hàng để bọn cướp muốn lấy gì thì lấy, chủ yếu là tiền và đồ trang sức có giá. Thẻ tín dụng hay passport thường được ném trả lại sau đó. Cũng có lời đồn đãi rằng chính một số cảnh sát Cam Bốt đã tham dự vào đám tội phạm ấy. Trước cửa FCCC lúc này là đám lái xe ôm và cả taxi-chui, hỗn hào tranh giành khách như một bầy kên kên: tên giành máy hình, tên khác kéo hành lý với nhao nhao những câu hỏi như chỉ để đánh giá con mồi: you are Chinese, you are Thai, you are Japanese? Muốn hiểu sao thì hiểu, nhưng quả thật thiếu khôn ngoan để cho bọn chúng biết mình là người Việt. Thấy bên cạnh FCCC là quán Cafe Internet, tôi trả lời là đang cần vào internet và đã có phòng ở khách sạn. Vấn đề là làm sao thoát được bọn chúng, để từ đó có thể mượn phone liên lạc với người tài xế taxi vừa đón tôi từ phi trường Pochentong về. Với một chiếc taxi có bảng hiệu đăng ký, tài xế có tên và số hand phone lại biết chút tiếng Anh, thì cũng là một chọn lựa tương đối an toàn. Sok Thon tên người tài xế, qua điện thoại anh ta nhận ra tôi ngay, đáp ngắn gọn: No Problem và hứa trở lại đón tôi thay vì ra phi trường. Thở phào nhẹ nhõm, tạm quên đi cái hỗn độn và nóng bức bên ngoài cánh cửa kính để vừa thưởng thức ly capuccino trong căn phòng máy lạnh vừa vào Internet gửi Email cho Người Họa Sĩ Vỉa Hè New York, một biệt danh Mai Thảo đặt cho Khánh Trường, để chúc mừng cuộc triển lãm hơn 100 bức tranh và kỷ niệm báo Hợp Lưu 12 năm mà vì ở xa tôi không thể tham dự.</p>
<p>&#160;</p>
<p>(trích từ tác phẩm “<em>Cửu Long Giòng Sông Nghẽn Mạch</em>”)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/22913/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

