<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Truyện ngắn</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/category/sangtac/truy%e1%bb%87n-ng%e1%ba%afn/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Thu, 24 May 2012 07:01:00 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.3.1</generator>
		<item>
		<title>C&#225;i chết đầu ti&#234;n trong đời c&#244;</title>
		<link>http://damau.org/archives/24352</link>
		<comments>http://damau.org/archives/24352#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 23 May 2012 07:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Elizabeth Taylor</dc:creator>
				<category><![CDATA[Dịch Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Sang Việt ngữ]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện ngắn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=24352</guid>
		<description><![CDATA[Bỗng nhiên nước mắt trào ra từ mắt cô. Cô áp trán lên bàn tay mẹ và để nước mắt đầm đìa khăn trải giường.
Thưa ông Wilcox, cô bắt đầu; bởi tâm trí cô luôn luôn soạn thảo những tờ thư.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<blockquote><p><em>Elizabeth Taylor (1912-1975). Sinh ra và sống trọn cuộc đời tại Anh Quốc. Bà bắt đầu viết từ khi còn rất trẻ, đề tài của bà xoay quanh đời sống gia đình của giới trung lưu Anh Quốc.</em></p>
</blockquote>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>Bỗng nhiên nước mắt trào ra từ mắt cô. Cô áp trán lên bàn tay mẹ và để nước mắt đầm đìa khăn trải giường.</p>
<p>Thưa ông Wilcox, cô bắt đầu; bởi tâm trí cô luôn luôn soạn thảo những tờ thư. Tôi sẽ không thể có mặt ở cửa tiệm trong vòng bốn ngày sắp tới, vì mẹ tôi mới mất và tôi sẽ chỉ đi làm trở lại sau đám tang. Mẹ tôi qua đời một cách êm ả…</p>
<p>Cô y tá bước vào. Cô ta cầm cổ tay người bệnh một lát, rồi đặt xuống, dời một bình tử đinh hương nở ép ở bên cạnh giường đi như thể chúng không còn cần thiết nữa, và bước ra ngoài.</p>
<p>Quỳ bên giường, cô gái ngẩng lên.</p>
<p>Thưa ông Wilcox, cô tiếp tục, mặt cô cúi xuống khăn trải giường. Mẹ tôi mới mất Tôi sẽ trở lại làm ngày kia. Thành thật cám ơn, Lucy Mayhew.</p>
<p>Cha cô đến muộn. Cô tưởng tượng ông vội vã rời chỗ làm, khom lưng đạp xe luồn lách, xuyên qua những con đường tối tăm, bùn lầy văng lên từ hai bánh xe. Mẹ cô nằm bất động. Cô gõ nhẹ bàn tay có chiếc nhẫn vàng lỏng lẻo, có lòng bàn tay chai sạn, có những ngón thuôn dài của mẹ. Rồi cô gượng gạo đứng lên, đầu gối cô bầm tím vì quỳ trên nền nhà chùi xi bóng, và đi về phía cửa sổ.</p>
<p>Bông tuyết rơi uể oải, dạt xuống những mảnh vườn bệnh viện, Bốn giờ chiều, mà ngày như sắp tàn. Có thật ít những âm thanh đến từ cái thế giới mất màu và bị bưng bít này. Trong bệnh viện là sự yên lặng sâu thẳm.</p>
<p>Ý nghĩ đến với cô thành lời, như thể đầu óc cô nói ra trước, rồi mới hiểu ý nghĩa của chúng sau. Cô cố nghĩ tới tuổi thơ của mình: những khung cảnh nhỏ bé cô chọn lựa để chứng tỏ bố mẹ yêu thương nhau như thế nào. Những cảnh khác, nhất là trận cãi cọ tuần trước, cô chọn để quên, không hay biết rằng trong phút giây này cô xua chúng đi mãi mãi. Chỉ còn lại sự tử tế thân yêu.</p>
<p>Nhưng chẳng thay đổi được gì, những hình ảnh không thể dung thứ vẫn lọt qua &#8211; mẹ cô bên chậu rửa chén bát; mẹ cô ủi quần áo; mẹ cô đứng giữa những tấm màn ren, nhìn đăm đăm ra con đường ảm đạm bằng cái nhìn đầy tổn thương trong mắt; mẹ cô buộc cũng những tấm màn ấy bằng dây băng màu vàng; mọi cố gắng tạo sự linh hoạt, vui tươi, chẳng đi đến đâu; mẹ cô ôm con mèo đen to xù của bà vào ngưòi, vùi mặt bà vào bộ lông của nó, và bà buông ra một tiếng thở dài não nuột &#8211; của nỗi tuyệt vọng, của sự nhàm chán.</p>
<p>Bà không còn thở dài nữa. Bà nằm thật yên tĩnh và thỉnh thoảng hớp một ngụm không khí. Hai cánh tay xếp ngay ngắn hai bên thân người. Suốt ngày dài đôi mắt bà đổi qua màu tử đinh hương trắng, và đã khép lại. Xương gò má nhô lên nhọn hoắt từ khuôn mặt tím bầm, kiệt sức. Người bà thoang thoảng tỏa ra mùi rượu.</p>
<p>Một cánh tử đinh hương nhỏ trôi bồng bềnh trong ly sâm banh, bỏ trên mặt bàn bên cạnh gường bà.</p>
<p>Rượu sâm banh, thứ mà người ta hy vọng kéo dãn sợi chỉ cuộc sống bà từng phút một; hoa tử đinh hương; căn phòng của riêng bà, đến với bà ở cuối một cuộc đời đầy sự buồn tẻ và sự phủ nhận, như thể, dọc con phố tồi tàn nơi họ sống, cái chết và người chết có thể lấy đi cả một đời tằn tiện của tang quyến.</p>
<p>Lúc đứng bên giường, Lucy nghĩ, Bà không còn đó nữa.</p>
<p>Suốt ngày mẹ cô đã nhìn chằm chặp những bông hoa tử đinh hương trắng; bây giờ bà đã ra đi. Bên ngoài, xa hơn những khu vườn bệnh viện, sương đục giăng mờ thị trấn, nhòe ánh đèn đường.</p>
<p>Cô y tá trở lại với bà quản lý bệnh viện. Lucy đứng thẳng lên, cho ra vẻ đàng hoàng tử tế. Trong thâm tâm cô tin mẹ cô chết mà không làm cô hoảng sợ, và khi người quản lý bệnh viện, khéo léo xoay đầu Lucy qua để tựa trên vai bà, nói bằng giọng điềm tĩnh, “Bà ấy đi rồi,” cô cảm thấy mình đã đi được một nửa đoạn đường khốn khó.</p>
<p>Một chút hối hả dấy lên, những bước chân vội vã dọc những hành lang trống, và trong khoảnh khắc người ta bỏ cô lại lẻ loi với người mẹ quá cố của cô. Cô rụt rè đặt bàn tay lên mớ tóc đen mềm của mẹ, vẫn thường được mầy mò, chơi với khi cô còn là bé gái nhỏ đứng trên chiếc ghế sau lưng mẹ, lúc bà may vá.</p>
<p>Vẫn còn mùi rượu và mùi bệnh viện. Căn phòng bắt đầu tối. Cô bước về phía bàn trang điểm và lấy chiếc túi xách tay của mẹ cô, cũ mòn, bóng loáng, và một cuốn sách, cuốn sách của thư viện mà cô đã chọn thật cẩn thận cho mẹ, tin là bà sẽ đọc nó.</p>
<p>Rồi cô uống vội một ngụm đầy sâm banh tử chiếc ly thủy tinh trên bàn, thứ mà trước đây chưa bao giờ cô nếm qua, rồi mang cái vẻ bị tổn thương và xa vắng, cô đi xuôi giữa hành lang, cảm giác như những người y tá đang ngã dạt sang hai bên.</p>
<p>Đẩy những cánh cửa kính mở ra những khu vườn ngập tuyết, cô nghĩ nó giống đoạn cuối một cuốn phim. Nhưng không có âm nhạc dâng lên nuốt trửng lấy cô. Thay vào đó là cha cô bước qua những cánh cổng. Ông dựng xe đạp vào tường và bắt đầu lính quýnh chạy băng qua lớp sỏi ướt.</p>
<p>&#160;</p>
<p><em>Nguồn: <strong>The First Death of Her Life</strong> trong <strong>The Storyteller: Short Stories from Around the World</strong>. Nelson Canada xuất bản 1992.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/24352/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>n&#224;ng v&#224; t&#244;i</title>
		<link>http://damau.org/archives/24345</link>
		<comments>http://damau.org/archives/24345#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 22 May 2012 07:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Phùng Nguyễn</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện ngắn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=24345</guid>
		<description><![CDATA[Nếu nàng lấy chồng, nàng sẽ lấy bác sĩ, nha sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ, văn sĩ, thi sĩ, ... nhân sĩ. Hoặc nàng sẽ lấy kỹ sư, giáo sư, võ sư, vũ sư, ... thiền sư. Hoặc nàng sẽ lấy chủ hãng, chủ tiệm, chủ nhiệm, chủ bút, ... chủ tịch. Nghĩa là nàng sẽ không bao giờ lấy tôi.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/Barber-Shop-400.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="Barber-Shop-400" border="0" alt="Barber-Shop-400" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/Barber-Shop-400_thumb.jpg" width="400" height="300" /></a></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>Tôi sinh ra đời dưới một ngôi sao xấu (1). Mồ côi cha mẹ từ lúc còn nhỏ, tôi được một người chú họ mang về nuôi dưỡng. Ông chú giao cho tôi mấy con trâu. Cả làng đều gọi tôi là thằng&#8230; chăn trâu. Sau này mấy con trâu của chú tôi đạp phải mìn bẫy của mấy ông giải phóng chết hết, tôi chả còn trâu để chăn, buồn tình đi phá làng phá xóm, trộm ổi trộm xoài, người ta bèn gọi tôi là thằng&#8230; mất dạy. Khi vào lính, tính ngổ nghịch vẫn còn, bạn bè cùng đơn vị thấy tôi cứ ở mãi trong chuồng cọp làm bằng kẽm gai bèn đua nhau gọi tôi thằng. .. ba gai. Năm bảy mươi lăm mấy ông giải phóng đưa tôi vào tù, gọi tôi là thằng&#8230; ngụy. Đến được Mỹ, người ta gọi tôi bằng cái tước vị nghề nghiệp — tạm bợ và nhiều vô kể — của tôi. Thằng&#8230; bồi, thằng&#8230; cu li, thằng&#8230; cắt cỏ, vân vân và vân vân. Có một thời gian ngắn tôi sống chung với một người đàn bà, chả hiểu tôi đã làm gì nên tội mà một hôm cô ấy gọi tôi là thằng &#8230; phản bội rồi đuổi tôi ra khỏi nhà. Từ đó, tôi trở thành thằng&#8230; ma cà bông.</p>
<p>Rồi một hôm tôi gặp nàng. Nàng trẻ trung, xinh đẹp, ăn mặc hợp thời trang, nói năng dịu dàng. Nàng gọi tôi bằng&#8230; anh. Ôi chao là ôi chao (2). Nàng đã gọi tôi bằng anh. Không những vậy, nàng còn bỏ công săn sóc cho tôi nữa. “Anh vào đây gội đầu,” nàng bảo. Tôi theo nàng đi vào phía trong, nằm lên chiếc ghế dài mà phần tựa lưng có thể bật ngửa ra, lại có cả đồ gác chân. Tôi nằm duỗi dài trên đó, đầu lọt thỏm vào cái chậu sứ đựng nước, mắt mở trừng trừng nhìn lên trần nhà. Cả thân hình tôi run như run thần tử thấy long nhan (3) khi những ngón tay nuột nà có những chiếc móng dài sơn đỏ rực rỡ chà xát đầu tóc tôi. Nàng bỗng cất tiếng trách móc tôi một cách âu yếm, “Đã bao lâu rồi anh chưa gội đầu?” Tôi thật tình không nhớ rõ đã mấy ngày rồi mình chưa tắm gội. Tôi chỉ biết đầu tóc mình hiện đang chứa khoảng nửa kí lô hợp chất gồm bụi, đất, và đủ thứ keo xịt tóc.</p>
<p>Gội đầu xong, nàng nâng tôi dậy, dìu tôi ra phía trước. Tôi bước những bước nhẹ tênh, đầu óc lâng lâng như người đi trên mây (4). Chả gì thì đầu tóc tôi cũng đã mất đi một khối lượng không nhỏ bụi và rác (5). Nàng choàng lên người tôi một tấm khăn lớn làm bằng những mảnh vải đỏ tím vàng sặc sỡ. Trông tôi oai vệ như một vị hoàng đế vừa đăng đàn. Tôi hỏi nàng có phải đây là lá cờ của một quốc gia mới thành lập hay không. Nàng chỉ cười, không trả lời. Tôi thích nụ cười rạng rỡ của nàng quá đi nên tôi tiếp tục hỏi nàng những câu hỏi ngu xuẩn khác để nàng có dịp cười mãi. Tôi hỏi nàng về những đồ vật trong tầm mắt tôi: những chiếc lược đủ kiểu, chiếc “tông đơ” nhỏ xíu, chiếc kéo sáng loáng, chiếc máy sấy tóc xinh xắn, chiếc áo dễ thương, mái tóc dài óng ả, chiếc mũi thanh tú, đôi mắt long lanh, cặp môi mọng đỏ, bộ ngực nhỏ xinh đẹp. Ồ không! Tôi không dám hỏi nàng điều đó, tôi chỉ nghĩ như thế thôi, tôi xin thề. Tôi ngồi cứng đơ trên ghế, nhìn nàng đôi chân thon bước những bước ngắn nhún nhẩy, hai cánh tay trần múa lượn chung quanh tôi như đang biểu diễn một vũ điệu của loài công (6). Những vụn tóc đen, tóc bạc, tóc muối tiêu lả tả rụng xuống, và ngắn dần trong tôi những sợi muộn phiền.</p>
<p>Cuối cùng rồi nàng cũng làm xong phần việc của mình. Tôi nhìn tôi trên vách (7), nơi có tấm gương lớn. Trong gương là một gã đàn ông mày râu nhẵn nhụi, áo quần&#8230; lôi thôi (8). Nàng cầm một chiếc gương nhỏ đặt vào phía sau gáy tôi rồi hỏi, “Anh xem có được không?” Tôi không buồn nhìn tôi nữa, tôi thì chả có gì để mà nhìn ngắm cả. Tôi thấy nàng trong gương, xinh đẹp, dịu dàng, âu yếm tựa vào chiếc ghế tôi đang ngồi. Tôi tươi cười và nàng cũng tươi cười như trong một bức ảnh&#8230; cưới. Tôi muốn nàng mãi đứng đó, mãi tươi cười, mãi tựa vào tôi. Trong đầu tôi bỗng dưng nảy ra một ước muốn kỳ quặc. Tôi mong một cơn băng giá khủng khiếp ập đến, ngay tại đây, ngay vào lúc này, làm đông cứng mọi thứ ở đây, người ngợm, chó mèo, cây cối, xe cộ, âm thanh. Nhưng lạnh bao nhiêu thì mới đủ? Mười độ dưới không? Chưa nhằm gì. Năm mươi độ dưới không? Có thể, nhưng chưa chắc ăn! Một trăm độ dưới không? Phải rồi, cơn lạnh một trăm độ âm sẽ làm đông cứng mấy người khách ở dãy ghế bên kia và những người thợ làm tóc, kể cả cái anh chàng thấp lùn tự nãy giờ vẫn nói oang oang như ở chỗ không người. Tôi lại mong trước đó những bông tuyết trắng nõn, phù phiếm sẽ bay vào, đậu lên áo nàng, biến nó thành chiếc áo cưới lộng lẫy; như vậy, chúng tôi sẽ có một tấm ảnh cưới tuyệt đẹp.</p>
<p>Chẳng có cơn băng giá nào cả. Ngoài kia trời vẫn nắng chang chang, người ta vẫn đi lại rộn rịp, tiếng nhạc xập xình vẫn vọng lại từ cửa hàng âm nhạc bên cạnh, và anh chàng thấp lùn vẫn nói oang oang. Nàng lại hỏi tôi, “Anh thấy thế nào?” “Đẹp lắm. Đẹp tuyệt vời,” tôi trả lời. Tôi chắc cả hai chúng tôi đều cảm thấy thích thú. Tôi chắc nàng nghĩ là tôi khen nàng cắt tóc đẹp. Tôi chắc là nàng không nghĩ tôi khen nàng đẹp. Tôi không chắc. Tôi bước ra khỏi tiệm hớt tóc, chuệnh choạng như người say nắng. Mà có lẽ tôi say nắng thật. Trời đang nắng chói chang, và trong tôi cũng&#8230; bừng nắng hạ (9).</p>
<p>Sau lần ấy, tháng tháng tôi lại đến tìm nàng. Đúng vậy, tháng tháng. Bởi vì tôi chỉ cắt tóc mỗi tháng một lần. Cái ngân khoản chật hẹp mà tôi có được hàng tháng không cho phép tôi hoang phí hơn. Trước khi đến gặp nàng, tôi cẩn thận vuốt thẳng những tờ giấy bạc nhàu nát tôi kiếm được bằng những công việc cũng&#8230; nhàu nát không kém. Lúc trả tiền ở quầy, tôi luôn luôn kèm theo một món tiền “típ” nhỏ xíu (bữa ăn trưa hoặc gói thuốc lá hàng ngày của tôi đấy nàng ạ), sung sướng và cảm động khi nàng mỉm cười dịu dàng cám ơn tôi.</p>
<p>Và cứ thế giòng đời trôi lặng lẽ (10). Tôi bây giờ đã trở thành khách quen của nàng. Tôi biết cả tên nàng, Châu. Tên nàng tiên của tôi chỉ có mỗi chữ Châu cụt lủn vậy thôi sao? Tôi tưởng tượng ra đủ thứ tên có kèm “Châu” trong đó để gọi nàng. Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ&#8230; La Tinh, Châu&#8230; Đốc? Tầm bậy! Hỏa Châu, Trân Châu, Bảo Châu, Ngọc Châu? Cải lương! Minh Châu? Phải rồi, Minh Châu. Hạt dạ minh châu tỏa ra những tia sáng rực rỡ, lấp lánh soi đời tôi u ẩn.</p>
<p>Tôi còn biết được một số chi tiết về nàng. Nàng đến Mỹ từ một hòn đảo ở vùng cực Nam nước Việt, đảo Phú Quốc. Phú Quốc, nơi sản xuất loại nước mắm nhĩ độc đáo, chỉ cần nếm vào một chút đã muốn quên hết tên tuổi, nơi có những vườn tiêu xanh mướt làm tôi nhớ đến món cua lột xào tiêu xanh ngon đến nghẹn&#8230; ngào tôi đã có lần thưởng thức. Những hạt tiêu tròn trĩnh, xanh mướt, thơm tho và Minh Châu mảnh mai, trắng trẻo, thơm tho. Tôi những muốn làm con cua lột để được&#8230; xào chung với nàng, nhưng chắc không xong! Tôi chỉ là con cua đá sần sùi suốt ngày lẩn trốn trong hang hốc, đưa ra những càng những ngoe lởm chởm. Hay giỏi lắm tôi cũng chỉ làm được con dã tràng. Con dã tràng tôi kềnh càng thô kệch cũng học đòi xây hư tình trên cát.</p>
<p>Nàng chưa lập gia đình. Tôi vái van cầu nguyện Trời, Phật, Chúa, Satan, và tất cả các đấng toàn năng khác mà tôi có thể nghĩ ra đừng cho nàng đi&#8230; lấy chồng. Nếu nàng lấy chồng, nàng sẽ lấy bác sĩ, nha sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ, văn sĩ, thi sĩ, &#8230; nhân sĩ. Hoặc nàng sẽ lấy kỹ sư, giáo sư, võ sư, vũ sư, &#8230; thiền sư. Hoặc nàng sẽ lấy chủ hãng, chủ tiệm, chủ nhiệm, chủ bút, &#8230; chủ tịch. Nghĩa là nàng sẽ không bao giờ lấy tôi. Tại sao nàng phải lấy tôi? Ngày thành hôn của nàng sẽ là ngày buồn thảm nhất đời tôi bởi vì những tia sáng rực rỡ của hạt dạ minh châu sẽ không bao giờ còn chiếu rọi đến tôi, và rồi chỉ còn lại trong tôi đêm dài một đời (11).</p>
<p>Tôi mải lo sợ, mải nguyện cầu. Cứ thế, mỗi tháng tôi có ba mươi phút hạnh phúc và ba mươi ngày lo âu. Nhưng tôi cũng đã mãn nguyện lắm rồi. Nếu tôi không lạc loài đến chốn này vào một ngày nắng trong, có lẽ sẽ chẳng bao giờ tôi gặp được nàng. Sẽ chẳng bao giờ còn nhớ đến món cua lột xào tiêu xanh. Sẽ chẳng bao giờ nếm được mùi hạnh phúc âm thầm. Và sẽ chẳng bao giờ dám mơ làm con dã tràng xấu xí. Cho nên, tôi cũng đã mãn nguyện lắm rồi. <i>Who could ask for anything more?</i> (12)</p>
<p><i>Tháng Tư 1995 </i></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>________________________________________</strong></p>
<p><strong>Ghi chú</strong></p>
<p><i>1. Vũ Trọng Phụng, Giông Tố, Tiểu thuyết </i></p>
<p><i>2. Phạm thị Hoài, Chín Bỏ Làm Mười, Truyện ngắn </i></p>
<p><i>3. Hàn Mạc Tử, Đêm Xuân Cầu Nguyện, Thơ </i></p>
<p><i>4. Nguyễn Xuân Hoàng, Người Đi Trên Mây, Tiểu thuyết</i></p>
<p><i>5. Nguyễn Xuân Hoàng, Bụi và Rác, Tiểu thuyết</i></p>
<p><i>6. Trần Diệu Hằng, Vũ Điệu của Loài Công, Truyện ngắn</i></p>
<p><i>7. Túy Hồng, Tôi Nhìn Tôi Trên Vách, Tiểu thuyết </i></p>
<p><i>8. Tập Kiều </i></p>
<p><i>9. Tố Hữu,Từ Ấy, Thơ </i></p>
<p><i>10. Nguyễn Bính, Ông Lái Đò, Thơ </i></p>
<p><i>11. Lê Tất Điều, Đêm Dài Một Đời, Tiểu thuyết </i></p>
<p><i>12. Toyota Corp., TV com­mercial </i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/24345/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Victoria</title>
		<link>http://damau.org/archives/24291</link>
		<comments>http://damau.org/archives/24291#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 16 May 2012 07:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Christine G. Richardson</dc:creator>
				<category><![CDATA[Dịch Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Sang Việt ngữ]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện ngắn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=24291</guid>
		<description><![CDATA[Jennifer cảm thấy thân thể mình phình lên khi dung dịch nước biển ứa theo sợi dây truyền tĩnh mạch vào lưng bàn tay cô. Từ lúc Annette đưa cô vào phòng cấp cứu đến giờ đã ba tiếng rưỡi đồng hồ. Cô đã gần như hoảng kinh không biết chuyện gì sẽ xảy ra.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Jennifer cảm thấy thân thể mình phình lên khi dung dịch nước biển ứa theo sợi dây truyền tĩnh mạch vào lưng bàn tay cô. Từ lúc Annette đưa cô vào phòng cấp cứu đến giờ đã ba tiếng rưỡi đồng hồ. Cô đã gần như hoảng kinh không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Cái đám xun xoe nhũng nhiễu vây quanh cô bung ra những câu hỏi không thể trả lời. Cô ký mẫu đơn người ta giúi cho cô mà chẳng bận tâm đọc nó. Cô bị lột trần, cạo lông, xuyên thấu, và bảo hãy chờ đấy. Cứ mỗi tiếng đồng hồ, một người y tá lại xuất hiện để kiểm những dấu hiệu sinh tồn của cô và hỏi cô về tình trạng xuất huyết. Ngoài ra, người ta bỏ mặc cô một mình.</p>
<p>Chiếc giường bên cạnh trong phòng chưa được dọn dẹp, nhưng không có dấu hiệu gì cho thấy có người nằm chung phòng với cô. Có thể người đó đã chết hoặc đã được xuất viện. Cũng có thể chị ta đã lấy thang máy xuống tầng dưới để hút thuốc ở lối vào.</p>
<p>Jennifer ước gì mình có thể hút thuốc. Nhưng như vậy có nghĩa phải dời phòng bệnh với chiếc áo khoác bệnh viện hở lưng, người bù xù và sưng phồng, rồi phải đẩy cây trụ móc chai nước biển mắc dịch kia theo. Mà chắc người ta cũng chẳng cho phép cô đi. Người ta muốn cô ở ngay chỗ đó để chờ, đến khi có chỗ trống trong lịch trình phòng mổ.</p>
<p>Cô ngồi dậy, chuồi mình khỏi chiếc giường quá cao đối với cô để có thể chạm chân xuống nền nhà mà không cần tuột theo bờ tấm nệm. Tới giờ cô đã thực tập phương thức này nhiều lần rồi. Cô quyết định không bận tâm với đôi dép hay chiếc áo khoác bệnh viện cấp cho vì sẽ chẳng ai nhìn thấy cô. Cô cũng chẳng khoác nó lên người được vì vướng sợi dây truyền nước biển.</p>
<p>Cô cố không nhìn máu trong bồn cầu khi cô giật nước mà không được. Cô thắc mắc không biết bào thai lớn cỡ nào và trông nó giống cái gì nếu nó ra bây giờ. Người ta đã nói với cô rằng tất cả sẽ được trục ra trong lúc cô ngủ. Nếu không có gì khác thường cô sẽ không phải ở lại qua đêm. Nhưng giả như người ta quên mất cô, để cô chờ và chờ, và nó ra, và cô phải nhìn nó trôi lềnh bềnh trong bồn cầu thì sao?</p>
<p>Bây giờ Jennifer cảm thấy hối hận đã thúc giục Annette trở về lớp học. Thực ra Jennifer chỉ muốn trấn an cô bạn rằng mọi sự rồi sẽ đâu vào đấy. Cô đã gây quá nhiều phiền toái. Bộ ghế sa lông mắc tiền của Annette, món quà Giáng Sinh của mẹ cô ta, có một vệt máu to đặm màu trên ấy.</p>
<p>Khi Jennifer mới phát hiện ra mình có thai, cô đã đồng ý với Charles rằng đó là giải pháp hợp lý duy nhất. Dù sao cả hai còn là sinh viên. Charles thu thập mọi tin tức cần thiết và ngay cả đề nghị gọi lấy hẹn cho cô. Ngày qua ngày, Charles nài nỉ và nài nỉ, trong khi cô tìm kiếm những lý lẽ có thể chấp nhận được để trì hoãn. Cuộc giằng co đã bùng nổ thành một trận cãi cọ lớn tiếng mãnh liệt, và cô phải chạy qua ở nhờ nhà Annette. Sáng ra, máu me khắp mọi chỗ.</p>
<p>Charles chắc đang trong lớp học, hoàn toàn không hay biết gì về chuyện một mạng người anh ta góp công tác tạo vừa mới bị hủy hoại. Cô không muốn cho hắn ta biết vội. Hắn muốn phá thai, bây giờ chuyện ấy lại tự nhiên xảy ra. Cho hắn ta một lối thoát dễ dàng như thế đâu có được.</p>
<p>Jennifer chà hai bàn tay vào nhau một cách hung hăng và lau khô chúng bằng một chiếc khăn giấy. Cô khẽ đẩy hé cánh cửa nặng nề và khám phá ra rằng cô không chỉ có một mình. Một người đàn bà tóc đen trong đồng phục mầu hồng đang tháo khăn trải chiếc giường kia và nhét những tấm trải vào trong cái túi treo ở phía sau chiếc xe đẩy của người y công. Bà ta ngước lên mỉm cười với Jennifer.</p>
<p>Jennifer khoác chiếc áo bệnh viện lên cánh tay phải và choàng nó qua vai trái của mình. Cô đẩy chiếc cái trụ treo dịch truyền về phía người đàn bà, trong lúc bà ta đang mạnh tay phủi tấm nệm. Mùi thuốc sát trùng làm cay mắt Jennifer. Người đàn bà nở một nụ cười và tiếp tục làm việc. Bà ta có cái vẻ khỏe mạnh và đầy khả năng, như mẹ của Jennifer. Những bắp thịt cánh tay bà ta gồng lên khi bà ta lật tấm nệm trở lại, để nó đổ xuống giường vang ra một tiếng động trầm đục. Khi bà ta đứng thẳng người, Jennifer thấy cái tên Victoria trên miếng bảng tên bằng nhựa.</p>
<p>“Chào bà,” Jennifer nói một cách ngượng ngùng. “Bà có nghĩ là… Tôi hút trộm một điếu thuốc trong nhà vệ sinh có được không?”</p>
<p>Cô đã đưa cái ví cho Annette giữ hộ, nhưng túi xách còn để trên chiếc bàn ở đầu giường. Nửa gói thuốc lá và hộp diêm nhét trong đó.</p>
<p>Victoria mỉm cười với cô một cách đầy cảm thông. “Bây giờ người ta gắn máy báo khói trong nhà vệ sinh. Nó sẽ làm cô mắc cỡ chết.”</p>
<p>Giọng nói của bà ta có âm hưởng tiếng Đức, chứ không phải Ý hay Tây Ban Nha như Jennifer trông đợi.</p>
<p>“Ồ,” Jennifer nói. Cô đứng đó nhìn Victoria làm việc. “Tôi cai thuốc cho cái thai, nhưng bây giờ thì đâu có cần nữa,” cô nói. “Tụi tôi mới biết cách đây ba tuần.”</p>
<p>Victoria làm xong phía bên kia tấm nệm và bắt đầu lau chùi cái bàn ngủ. “Tôi thấy tội nghiệp cô,” bà nói. “Cô còn trẻ quá. Bằng tuổi tôi lúc tôi mới đến Canada.”</p>
<p>“Có con lúc này thì sớm quá,” Jennifer nói. “Tôi uống thuốc ngừa thai đấy chứ, vậy mà không hiểu sao.”</p>
<p>“Thuốc trụ sinh đấy,” Victoria buột miệng nói và tiếp tục chùi tới khung cửa sổ và khung máy tán nhiệt.</p>
<p>“Trụ sinh?”</p>
<p>“Nếu cô uống vài loại trụ sinh nào đó, thuốc ngừa thai sẽ mất tác dụng.”</p>
<p>“Vậy sao?” Jennifer nhớ cái lần cô bị đau cổ họng và sốt ngay trước kỳ thi giữa khóa. Không có thời gian đi bác sĩ, không có tiền mua thuốc. Annette cho cô vài viên thuốc còn sót lại, và chúng đã giúp cô trì hoãn chứng nhiễm trùng lại cho đến qua kỳ thi.</p>
<p>Bây giờ Victoria đang lặng lẽ sắp xếp giường gối thật tươm tất. Jennifer ước gì Victoria có thể làm chậm hơn. Cô không muốn ở một mình nữa.</p>
<p>“Chồng cô sắp tới chưa?” Victoria hỏi.</p>
<p>“Anh ấy không biết.” Câu trả lời của cô cụt ngủn. “Chúng tôi mới chỉ sống chung với nhau thôi.”</p>
<p>“Cậu ta không muốn có con à?”</p>
<p>“Không. Và tôi cũng vậy. Nhưng tôi không muốn giết nó.” Những giọt nước mắt không thể ứa ra làm cổ họng cô thắt lại.</p>
<p>“Thế còn mẹ cô?”</p>
<p>“Mẹ tôi không biết.”</p>
<p>Ít ra thì Jennifer cũng không phải báo cho mẹ biết là cô có thai. Bỏ nhà đi ở với Charles đã là tệ lắm rồi.</p>
<p>“Tôi thấy tội nghiệp cô quá,” Victoria lại nói. Giọng cảm thông hơn là thương hại.</p>
<p>“Bà có con không?” Jennifer vừa hỏi vừa loay hoay đi về phía giường của mình trong lúc Victoria sửa soạn đẩy chiếc xe ra khỏi phòng.</p>
<p>Victoria mỉm cười. “Một con trai. Bây giờ nó mười sáu tuổi rồi.” Bà ta đẩy chiếc xe ra hành lang.</p>
<p>“Chào tạm biệt,” Jennifer gọi với theo.</p>
<p>Cô ngủ thiếp đi và bị đánh thức dậy khi người y tá đo huyết áp cho cô. Sau khi cô ta ghi nhận những chỉ số sinh tồn, cô ta bảo Jennifer nằm nghiêng qua để chích thuốc. “Không lâu nữa đâu,” cô ta vui vẻ thông báo. “Ngậm viên thuốc này dưới lưỡi cho nó tan.”</p>
<p>“Liệu có đau không?” Jennifer hỏi.</p>
<p>Cô y tá cười. “Không. Cô đã trải qua cái phần khó khăn nhất – chích kim để truyền nước biển và cạo lông. Cô sẽ thở vào cái mặt nạ và khi cô tỉnh dậy thì mọi chuyện đã xong xuôi. Sau đó thì cũng giống như một kỳ có kinh thông thường vậy thôi.”</p>
<p>Đã được trấn an rồi mà Jennifer cũng bắt đầu run rẩy. Cô nhắm nghiền hai mắt và cố không bật khóc.</p>
<p>Một bàn tay chạm vào vai cô. Đã tới lúc rồi sao?</p>
<p>“Victoria!”</p>
<p>Bây giờ bà ấy đã mặc áo khoác, và mang cái túi đeo vai của cô.</p>
<p>“Tôi làm xong ca của tôi rồi,” bà ta nói. “Cô muốn tôi ở đây với cô một lúc không?”</p>
<p>Nước mắt Jennifer ngập mi. “Vâng. Vâng, làm ơn.”</p>
<p>Cô kể cho Victoria nghe về Charles và niềm hối tiếc đã không nghe lời mẹ dặn dò. Ngay lúc mà cô cần Charles nhất thì hắn lại biến thành một tên vô lại, chỉ nghĩ đến điều lợi cho hắn mà thôi.</p>
<p>“Tôi ngỡ anh ấy là tình yêu lớn nhất đời tôi, nhưng bây giờ… tôi nghĩ chắc tôi sẽ về nhà. Mẹ sẽ đau khổ nhưng mẹ sẽ không bỏ rơi tôi. Mẹ tôi trả tiền học phí cho tôi, cho dù bà không chấp nhận việc tôi làm.”</p>
<p>“Cô nên cho bà biết về đứa bé. Dù sao bà ấy cũng là bà ngoại mà.”</p>
<p>“Mẹ tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho tôi.”</p>
<p>“Cô là con gái bà ấy. Bà ấy sẽ chấp nhận.”</p>
<p>Jennifer đổi đề tài một cách gượng gạo và hỏi về âm giọng của Victoria.</p>
<p>“Bố mẹ tôi là người Ý,” bà trả lời, “nhưng tôi sinh ra ở Đức. Người Ý không mấy được ưa thích ở nước Đức. Ông Dieter nhà tôi và tôi sang Canada, bởi vì ở đây ít bị kỳ thị hơn.”</p>
<p>“Sao cơ?” Jennifer tò mò hỏi.</p>
<p>“Chúng tôi phải làm việc trong một nông trại hai năm. Thật là vất vả. Mình có phải là nông dân đâu.” Bà nhìn chăm chăm vào vách tường. “Chúng tôi sống trong một cái chuồng gà. Ấy là chỗ tôi mất đứa con đầu lòng.”</p>
<p>“Không có bác sĩ à?” Jennifer hỏi.</p>
<p>“Họ không đưa chúng tôi lên tỉnh. Họ than phiền là tôi đã không làm việc suốt hai ngày rồi.”</p>
<p>“Ô, Trời!” Jennifer buột miệng. Cô cố hình dung mình băng huyết trong một cái chuồng gà không được chăm sóc thuốc thang.</p>
<p>“Thường thì rất khó khăn cho di dân,” Victoria nói. “Khi ra khỏi nông trại, đời sống có khá hơn. Dieter làm thợ cơ khí xây dựng. Chúng tôi có một đứa con mạnh khỏe. Nó cũng trên là Dieter. Chúng tôi có cố thêm hai lần nữa nhưng các cháu đều chết. Rồi xảy ra tai nạn ở chỗ làm. Chồng tôi mất. Công ty trả tiền cho tôi. Tôi để dành cho Dieter học đại học.”</p>
<p>“Nhưng nếu anh ấy không thích vào đại học thì sao?” Jennifer hỏi.</p>
<p>Victoria ngồi thẳng người lên. “Thì tôi học. Bây giờ tôi đang học, lớp đêm. Có điều hơi chậm.”</p>
<p>“Phải chi mẹ tôi cũng làm gì đó cho khỏi phí cái đời bà ấy,” Jennifer nói. “Bà ấy lúc nào cũng rầu rĩ phát sợ, và luôn luôn tìm cách chi phối đời sống của người khác.”</p>
<p>Victoria mỉm cười. “Mẹ tôi cũng vậy. Nhưng tôi qua Canada rồi.” Bà vỗ nhẹ chân Jennifer. “Cô vẫn còn mẹ. Cô may mắn.”</p>
<p>Jennifer nghĩ ngợi. Cuối cùng cô nói, “Có phải đứa bé chết vì tôi không muốn có nó không?”</p>
<p>Victoria lắc đầu. “Nếu ước muốn làm cho đứa bé chết được thì các bác sĩ phá thai đâu có bận rộn đến như thế.”</p>
<p>“Lẽ ra tôi phải muốn có nó nhiều hơn thế nữa,” Jennifer nói. Victoria cầm lấy bàn tay không có kim đâm của cô.</p>
<p>“Cô đã sửa soạn tiền-giải-phẫu rồi,” Victoria nói. “Mọi chuyện sẽ ổn thỏa.”</p>
<p>Họ cầm tay nhau cho đến khi những người y công đẩy chiếc giường băng ca vào tới. Một người trong đám nhướng mày.</p>
<p>“Làm thêm giờ à, Victoria?”</p>
<p>“Tôi sắp về đây,” Victoria nói một cách chững chạc.</p>
<p>“Đừng!” Jennifer nói. “Làm ơn!”</p>
<p>“Tôi sẽ đi theo cô tới thang máy,” Victoria nhượng bộ.</p>
<p>Những người y công giúp chuyển Jennifer lên chiếc giường đẩy. Một người đẩy xe, một người kéo ống dây chuyền nước biển theo. Victoria đi phía bên kia, cầm tay cô. Họ ngừng và chờ trước cửa thang máy.</p>
<p>Victoria nghiêng người xuống cô. “Tôi sẽ cầu nguyện cho đứa bé,” bà thì thầm. “Thiên thần sẽ đem nó về trời.”</p>
<p>“Cám ơn bà,” Jennifer đáp lời. “Làm ơn cầu nguyện cho tôi với. Tôi không biết phải làm sao bây giờ.”</p>
<p>“Đừng nghe ai bảo rằng đấy là chuyện nhỏ,” Victoria dặn dò cô một cách quyết liệt. “Báo tin cho Charles. Báo tin cho mẹ cô. Báo tin cho mọi người.”</p>
<p>Cửa thang máy mở ra. Những người y công xoay xở đẩy chiếc giường bánh xe vào lồng thang máy. Jennifer vẫy tay chào Victoria khi cánh cửa khép lại.</p>
<p>“Cái bà Victoria ấy &#8211; một công nhân tốt,” người y công nhướng mày ban nãy nói, “nhưng bà ta không chuyên nghiệp cho lắm. Gặp ai bà ấy cũng nói chuyện.”</p>
<p>“Loại người ấy thì như thế thôi,” người kia tán đồng. “Bà ta sẽ làm mức lương tối thiểu tới mãn đời thôi.”</p>
<p>Một cơn lửa giận xuyên qua cái đầu đờ đẫn vì thấm thuốc của Jennifer. “Quân khốn nạn!” lời tru tréo thoát qua đôi môi khô của cô. “Mấy người thì biết gì? Mấy người chỉ bận tâm đến tiền lương và cú đụ sắp tới!”</p>
<p>Cô còn tiếp tục lải nhải tận đến khi vào phòng mổ.</p>
<p>“Dường như cô ta bị phản ứng ngược của thuốc tiền giải phẫu,” một người y công nói với chuyên viên gây mê bằng giọng khôi hài.</p>
<p>“Cám ơn – tôi sẽ ghi chú điều đó vào hồ sơ bệnh lý.” Ông ta trả lời một cách lơ đãng. “Đừng quên trại mình tối nay có tiệc. Sinh nhật thứ sáu mươi của Westerhaven đấy.”</p>
<p>Cô bắt đầu khóc khi người ta chuyển cô sang bàn mổ. “Tôi không muốn phá thai!” Cô thông báo cho cả thế giới. “Tôi đã không muốn từ đầu!”</p>
<p>Một bà y tá cúi xuống cô. “Đừng lo. Lúc này kích thích tố của cô đang không được thăng bằng, nhưng cô sẽ thấy dễ chịu rất nhanh. Cứ thư giãn.”</p>
<p>“Tôi muốn mẹ tôi,” cô rên rỉ trong lúc người ta áp cái mặt nạ lên mặt cô.</p>
<p>*****</p>
<p>Khi Jennifer được đẩy về phòng, mẹ cô đang ngồi trên chiếc ghế bên giường bệnh, tay nắm xấp giấy chùi tay. Victoria đứng bên cạnh, chạm nhẹ lên tóc bà.</p>
<p>Họ lặng yên nhìn những y công chuyển Jennifer qua giường bệnh. Khi chỉ còn lại ba người, một phút kéo dài tới vô hạn khi người này chờ người kia nói trước.</p>
<p>Sau cùng, Victoria bước tới, cúi xuống Jennifer. “Tôi nhìn trong túi xách của cô,” bà nói, giọng rạn nứt. “Tôi tìm thấy số điện thoại mẹ cô trong cuốn sổ địa chỉ. Tôi xin lỗi… Tôi phải làm điều gì đó…”</p>
<p>Jennifer lại khóc. Nhưng đó là những giọt nước mắt vui mừng. Cô không còn lẻ loi.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>Trích từ <strong>Winners’ Circle 6,</strong></em> <em>tuyển tập những tác phẩm trúng giải thưởng truyện ngắn thường niên kỳ 6, do Hiệp Hội Các Tác Giả</em> <em>Canada bảo trợ năm 1999. <strong>Victoria</strong> là một trong những truyện ngắn đoạt giải 5. Tác giả <strong>Christine G. Richardson</strong> sinh năm 1944 tại Đức, di dân đến Canada năm 1953 và viết truyện khoa học giả tưởng.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/24291/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Chờ</title>
		<link>http://damau.org/archives/24260</link>
		<comments>http://damau.org/archives/24260#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 14 May 2012 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Cổ Ngư</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện ngắn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=24260</guid>
		<description><![CDATA[Sau này, ông mới biết, bài hát phản chiến ấy, như vết dầu loang, đem tên ngôi làng heo hút của ông gieo khắp đất nước, truyền miệng rỉ tai từ binh đoàn này sang sắc lính nọ. Hôm ấy, nghe Pierre hát chưa hết bài, ông phải bỏ nó nằm lại cong queo trong giao thông hào...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/20120226-Lac-dAilette12-Aisne.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="20120226-Lac d&#39;Ailette(12)-Aisne" border="0" alt="20120226-Lac d&#39;Ailette(12)-Aisne" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/20120226-Lac-dAilette12-Aisne_thumb.jpg" width="270" height="360" /></a></p>
<p align="right"><i>Mùa trăng vỡ      <br /></i><i>Tan tành      <br /></i><i>Ngàn sao băng      <br /></i><i>Thời gian đứng      <br /></i><i>Im lìm      <br /></i><i>Từ trăm năm&#8230; </i></p>
<p>&#160;</p>
<p>Ông ngồi xuống tảng đá thấp loang từng vệt rêu xanh. Nước lấp xấp quanh chiếc giày đã mòn vẹt đế. Giữa trời, những tia nắng xiên khoai cuối ngày cố sức nắm nuối hoàng hôn, đâm thủng màn chiều, làm ửng vàng lên từng chân mây xám. Ông đợi chim về giữa giờ bảng lảng. Trước tiên, một dải hải âu lướt trắng mặt hồ. Mùa đông, chúng trốn biển hung hãn, về tạm trú sâu trong đất liền. Những ngày hồ đóng băng, sương mỏng, màu trắng xám lông hải âu tiệp lẫn vào băng vào sương, chỉ có tiếng kêu sắc nhọn của chúng thỉnh thoảng xé toạc sự yên tĩnh đang đông cứng của vùng đất trũng này. Hải âu thanh mảnh, rụt rè, ngơ ngác như bọn gái tơ lại hàng ngày phải chung đụng với lũ quạ đen bóng dềnh dàng, lực lưỡng và táo tợn. Ông không hiểu vì sao, cứ tảng sáng, quạ ồn ào hàng trăm con ở rặng cây bên này hồ, rồi tản mác tìm mồi, moi rác, đôi khi phóng mỏ tấn công cả thỏ sóc, để chiều về, gọi nhau tụ thành cơn trốt đen quần đảo mãi một lúc, chờ khi hải âu kéo nhau trốn hết, thiên nga, vịt trời, gà nước rúc cả vào bụi lau bờ lách, mới tao tác đậu xuống kín cả chòm cây bên kia hồ. Thỉnh thoảng, gió lớn, một nhúm quạ bị rứt tung, xoáy tròn, toẻ ra rồi tụm lại chúm chụm vào nhau, truyền hơi ấm. Ông chợt rùng mình. Chiếc áo ngự hàn nặng trịch đang mặc trên người chẳng thể nào ngăn được hơi lạnh đang từ lòng ông bốc ra cuồn cuộn. Ngôi nhà nhỏ ở góc hồ đã lên đèn. Ngôi nhà mới xây, tường ốp đá trắng mái lợp đá đen, tiện nghi, vững chãi, có ánh đèn vàng ấm áp, tròn trịa, hắt bóng xuống mặt nước đã sậm màu. Hai đứa trẻ, sau khi đùa nghịch chán chê, sau khi vãi bánh vụn cho bầy chim nước, đã vào nhà. Thằng anh tóc loăn xoăn, vàng ươm. Con bé em má phúng phính, chạy lũn cũn theo anh, vang tiếng cười nắc nẻ. Đôi mắt nhập nhoè của ông chỉ nhận<b> </b>được chừng ấy chi tiết. Chúng làm ông nhớ thời thơ dại. Trước khi đi ngủ, hai đứa bé có quỳ bên thành giường nghiêm cẩn đọc kinh Kính Mừng như ông ngày xưa không ? Có tiếng gầm gừ. Ông ngẩng nhìn. Con chó to vẫn nhẩy quẫng quanh chân hai đứa bé hôm nay lang thang đến tận đây. Mỗi lần bị chủ đóng cửa bỏ quên, nó lại chạy đến chỗ này, thủ thế đe doạ, nhưng chỉ đợi ông đưa tay xua nhẹ, vội cúp đuôi lỉnh mất.</p>
<p>Quạ đã im hẳn. Giữa tiếng gió xô nhau chạy đuổi quanh những thân cây trơ nhánh của cánh rừng thưa sau lưng ông, thoảng có tiếng vó ngựa phi nước đại, tiếng bánh gỗ đai sắt nghiến xuống đá rải trên đường mòn, tiếng phụ nữ xôn xao cười nói. Tiếng của hội hè, đình đám, nhã nhạc, truy hoan. Những cỗ xe lao nhanh vào bóng đêm, cho kịp giờ hẹn với tình quân, toả lan khắp không gian mùi hương phấn của các nàng vương phi, công chúa. Này bộ tóc giả mượt mà, nọ ngấn cổ mảnh mai, trắng muốt, kia bờ ngực phập phồng xúc cảm dưới lớp xiêm áo rộng cổ kín tay. Những người đàn bà đem trọn cái xa hoa phù phiếm của kinh đô ánh sáng về gieo rắc trên con đường này mỗi kỳ trăng vẹn. Tiếng ngựa xe chưa dứt, ông đã giật mình nghe đạn pháo nổ vang trời. Không, giọng gào thét, lời van rên chỉ bật ra từ óc não ông, quanh đây vẫn yên bình tĩnh lặng. Chiến tranh, như loài đỉa đói, cắm ngập chiếc miệng đầy răng nhọn vào ký ức, bám dính ở đó và hút đến kiệt quệ thần trí ông. Cứ nhắm mắt lại, thấy ngay lửa rực, thây đổ, hầm hào lầy lội, đói, lạnh, chấy rận, máu xương. Cứ mở mắt ra, bên tai lại văng vẳng tiếng hát đứt đoạn, rời rạc trong nhịp thở ngắn dần của thằng bạn thân cùng làng :</p>
<p><i>Vĩnh biệt cuộc đời,      <br /></i><i>Vĩnh biệt tình yêu,      <br /></i><i>Vĩnh biệt em,      <br /></i><i>Ơi nàng kiều nữ,      <br /></i><i>Thôi hết thật rồi,      <br /></i><i>Này hồi chuông báo tử      <br /></i><i>Của cuộc chiến hung tàn,      <br /></i><i>Nơi dải đất này,      <br /></i><i>Ta sẽ phơi thây.      <br /></i><i>Ôi lũ chúng ta,      <br /></i><i>Bọn đầu xanh phải hy sinh!      <br /></i><i>Ôi lũ chúng ta,      <br /></i><i>Bọn thơ ngây chịu khổ hình(*)</i></p>
<p>Sau này, ông mới biết, bài hát phản chiến ấy, như vết dầu loang, đem tên ngôi làng heo hút của ông gieo khắp đất nước, truyền miệng rỉ tai từ binh đoàn này sang sắc lính nọ. Hôm ấy, nghe Pierre hát chưa hết bài, ông phải bỏ nó nằm lại cong queo trong giao thông hào, bán sống bán chết rút theo lệnh chỉ huy. Bọn Boche (**) lợi dụng sương mù, tấn công chớp nhoáng. Rồi đến phiên chính ông bị bỏ rơi, bị bắt, bị cưa đi phần chân trái ung thối đến gần đầu gối, được thả, được gắn huy chương, được tuyên dương công trạng. Ông lần mò tìm về làng cũ. Chẳng còn gì cả. Bình địa. Mấy mùa xuân qua chưa đủ để hoa dại về khoe sắc. Ngôi làng hình tam giác thoai thoải nương theo sườn đồi xanh ngắt màu rau cỏ ngày nào giờ trơ ra kèo cột, giơ từng khúc đen đủi chĩa thẳng vào trời đòi trả oán. Mỗi ngôi nhà mất dấu dưới một hố bom. Xương thịt, gạch ngói, cỏ cây, sắt đá trộn đều, cháy tiêu, nát bấy trong hầm thiêu Địa Ngục. Louise, vợ ông, người thân yêu duy nhất còn sót lại trên đời, ở đâu, sống hay chết, lành lặn hay tật nguyền ? Ông tần ngần tiếc nuối. Thế là giấc mơ cuối cùng cũng tan vỡ. Những giấc mơ của ông, khi trở thành hiện thực, còn đen đúa hơn cả cơn mộng dữ. Thằng bé con ngày nào ước mình được cuốn theo vó ngựa trường chinh của các hiệp sĩ thời Thánh Chiến. Ừ, thì nó đã được toại nguyện : thời cuộc ném nó vào lò lửa chiến tranh, như cách đây đúng một trăm năm, cũng tại nơi này, đã thiêu rụi tuổi thanh xuân hơn năm ngàn tân binh của Napoléon Đại Đế. Lớn thêm vài tuổi, chú nhóc choai thả hồn hải hồ cùng tiếng còi rúc dài khi đoàn xe lửa rời sân ga gần làng. Ừ, thì chú cũng được hài lòng : chất chồng trong những toa tàu tối tăm, hôi hám, ngột ngạt, người phế binh nhiều lần thấy cái chết đã gần kề giữa tiếng xình xịch, giật lắc trên đường ray những lần chuyển từ trại giam này sang nhà tù khác. Hoà bình, lại thêm những chuyến tàu hồi hương, thêm những xứ sở, cảnh trí vừa vụt đến đã bị bỏ lại sau lưng, nhưng ở đâu, cũng đầy dấu tích điêu tàn, đổ nát. Bây giờ, ở đây, nơi cha sinh mẹ đẻ, cũng thế, chẳng còn gì. Chẳng còn gì cả!</p>
<p>Ông tập tễnh về ngồi bên hồ. Cây mất ngọn, ngả nghiêng bật gốc, bờ hồ lở lói từng vùng đất thô cỏ chưa kịp phủ, xác xe xác pháo đây đó, nhưng nước đã phẳng mặt từ khi nào. Ông nhớ Louise da diết. Cái nhớ đeo đẳng suốt mấy năm xa cách đôi lúc bị chìm lấp, bị dìm sâu dưới những sự kiện cấp bách, cần kíp cho việc sống còn của kiếp người, giờ đây khoan thai trỗi dậy khiến cả hồn xác ông rúng động. Vợ chồng mới cưới, họ chưa đủ thì giờ để yêu nhau, đã phải vội vã chia xa. Nơi ân ái của Louise và ông, lúc ấm êm chăn nệm, khi giản dị đụn rơm, bụi rậm, đêm này mượt cỏ ven hồ. Họ yêu nhau như thú hoang giữa thiên nhiên, gào thét, rên rỉ, lăn lộn, ngả nghiêng giữa trời, trăng, rừng, nước. Và họ khóc như chưa từng khóc trong đời, và họ yêu nhau như đây là lần trao tình cuối, cho đến khi kiệt lực, chết giấc. Chết như thế, bên nhau, trong nhau, không sướng hơn chết vùi, chết lấp vì bom đạn, đói lạnh hay vì cô đơn hay sao ? Bãi cỏ ven hồ vẫn còn kia, dù đã bị cày sới nát mặt, còn Louise dịu dàng, nồng nàn, Louise tóc dài mắt sáng của ông đâu ? Em ở đâu ? Cuối chiều, ông quyết định đứng dậy, cắp nạng dưới nách, bước đi. Ông vượt rừng, băng đồng, cứ thế, đi trong đêm chập choạng, không định hướng. Những oan hồn vướng vít, níu kéo, khiến ông vấp, chúi ngã mấy lần. Đây có phải bìa rừng ngã ba đường, nơi rậm rịt bụi dâu dại, điểm hẹn của lũ chim bạc má ? Giờ trơ trốc mốc thánh giá đá trắng đã cụt ngọn, lơ lửng trong sương.<b> </b>Đây có phải vùng đất của ngôi làng trù phú lân cận làng ông, mang cái tên định mệnh “Làng Thở Dài” ? Giờ chỉ còn gió hoang về quanh quẩn rú rít thê thiết như tiếng chó đói tru trăng. Khập khiễng đi như thế đã lâu, ông thấy mù mờ hiện ra trước mắt vài đốm sáng. Chẳng lẽ sao trên trời rơi cả xuống đây chờ giờ tận thế ? Hay là đom đóm ? Đâu đã đến mùa chúng kết bầy, tìm bạn ! Thêm vài chục bước, ông nhận ra được ánh sáng lập loè của lửa, nhận ra vài khung nhà tạm bợ, nhận ra sự sống đang rụt rè trở về trên vùng đất chết. Ngôi nhà thứ nhất, ông bà cụ Martin cúi đầu lầm rầm khấn nguyện bên đĩa súp lỏng. Ngôi nhà thứ hai, lão Laurent cắm cúi ăn, thỉnh thoảng lại nghiêng chai ngửa cổ tợp thẳng một hớp vang đỏ. Toàn người làng cũ cả ! Vẫn biết nhìn trộm vào nhà người là điều không phải phép, nhưng từ cửa sổ nhà này sang cửa sổ nhà nọ, ông thấy mình đang dần hồi sinh. Và hy vọng. Biết đâu ? Nhìn vào gian bếp ngôi nhà cuối cùng, tách xa một khoảng so với dãy nhà đã bước qua, ông suýt kêu thành tiếng : Pierrot ngồi nơi bàn ăn, một tay chuyền bánh mì cho thằng con lớn, tay kia vuốt tóc đứa bé em đang lọt thỏm trong lòng. Thằng bạn thân không chết mục xương như ông tưởng, nó còn sống nhăn, và sống hạnh phúc nữa là khác ! Người phụ nữ lúi húi nãy giờ bên bếp lò quay lại. Ông nghiêng người tránh tầm nhìn, nhưng vẫn kịp nhận ra khuôn mặt Louise. Tóc em đã cắt, dáng em hết thanh mảnh, nhưng mắt em vẫn ngời ngời niềm vui. Louise của ông, Pierrot và hai đứa bé. Ông ôm cứng lấy chiếc nạng, bấu víu vào nó để không bị quỵ ngã. Đứng sững như thế cho đến khi tiếng lao xao của bữa ăn gia đình dứt hẳn, cho đến khi lửa trong bếp lụi tàn, ông quày quả bước đi. Không, ông không có quyền đặt chân vào đó, để phá vỡ khung cảnh đẹp nhất mà ông thấy được từ mấy năm nay. Không, ông không thể để thằng bé có khuôn mặt giống ông như tạc, thằng bé khi nãy nhận mẩu bánh mì và tia nhìn trìu mến của Pierre, sẽ phải đặt những câu hỏi rối rắm về cội nguồn của nó. Không, chiến tranh đã dứt, ông không muốn làm quả bom cuối cùng nổ tung giữa nếp nhà yên ấm này.</p>
<p>Lại đêm. Trời trong veo, cao vút. Trăng rỡ ràng, sao nhấp nháy vạn mắt xanh, lạnh. Cả đời, chưa bao giờ ông thấy nhiều sao đến thế, có lẽ nhiều hơn cả đêm sao hai đứa nằm đây bên nhau chờ trời rạng, buổi sáng ngày ông lên đường nhập ngũ. Đêm cuối bên Louise. Ngỡ chỉ một thời. Bây giờ đành trọn cả đời. Ông cẩn thận thắt gút thật chặt đoạn thừng nhặt được gần cỗ pháo gãy nòng vào cổ, chảy nước mắt khi nghĩ đến Gris-Gris. Cha mẹ mất đi, ông thừa hưởng được nếp nhà nhỏ, khoảnh vườn rau. Gris-Gris giúp ông hàng tuần tải hoa màu ra ga, hay thỉnh thoảng, rong ruổi tận mấy thành phố lớn quanh vùng những hôm có chợ phiên, lễ hội. Mỗi lần tròng dây cột xe thồ vào cổ lừa, ông đều cẩn thận vỗ về nó và không quên cho một vốc lúa mạch, món khoái khẩu của Gris-Gris. Bây giờ đứng đây tròng dây vào cổ, ông tự hỏi mình đã để lại gì cho đời sau ? Chẳng có gì cả, hoạ chăng chỉ là sự tàn phá mà ông đã gián tiếp nhúng tay vào trong mấy năm ra trận. Còn thằng bé giống ông như tạc ngồi bên Pierre ? Có phải nó là mầm sống mà ông đã cấy lại trong thân thể Louise đêm cuồng hoan trối chết ? Nếu quả đúng như vậy, ít ra, mơ ước vơ vẩn của ông trong những giờ thấp thỏm bên chiến hào đã được thực hiện, dù không toàn vẹn như giấc mộng màu hồng vẽ vời trong trí tưởng. Ông lúi húi quấn hai vòng và buộc chặt đầu dây kia vào tảng đá xù xì, vừa một ôm tay, loang vết rêu xanh. Lần từng bước một, tay cắp nạng, tay khệ nệ đá, ông xuống hồ, hướng về nơi trăng sóng sánh in bóng. Nước rờn rợn thấm qua giày, qua quần, qua lớp áo ngự hàn, kéo trĩu ông vào lòng hồ buốt lạnh. Khi cảm thấy trái tim mỏi mệt của mình bắt đầu đông cứng, lấy hết sức tàn, ông buông nạng, hai tay ôm đá ném mạnh vào giữa bóng trăng lung linh sáng. Ông vút thẳng vào đáy hồ như vệt chim bói cá, xanh biếc. Loang từng đợt sóng trăng, giữa tiếng đập cánh hốt hoảng của lũ chim đêm bị quấy rối. Nhưng chỉ ít phút sau, nước đã vội thản nhiên phẳng mặt. Đêm yên như chưa từng.</p>
<p>Cúi nhìn chiếc giày mòn vẹt đế lơ lửng bên bờ cỏ lấp xấp nước, ông thở dài. Như thế, hết ngày này qua tháng nọ, từ suốt trăm năm nay, buổi chạng vạng nào ông cũng về đây, ngồi chờ giờ trăng vỡ.</p>
<p><b></b></p>
<p>&#160; <br /><em>NANTERRE &#8211; PARIS 05.2012</em></p>
<p>(*) phỏng dịch từ « Bài hát làng Craonne »</p>
<p>(**) tiếng lóng người Pháp gọi người Đức, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, phổ biến nhất trong thời Đệ nhất Thế chiến</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/24260/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>B&#234;n ni b&#234;n nớ</title>
		<link>http://damau.org/archives/24083</link>
		<comments>http://damau.org/archives/24083#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 01 May 2012 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Hồ Như</dc:creator>
				<category><![CDATA[Ngày 30 tháng Tư]]></category>
		<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện ngắn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=24083</guid>
		<description><![CDATA[Năm 1975, tôi 16 tuổi. Ngày miền Nam sụp đổ rơi đúng vào ngày sinh nhật của tôi. Trong góc tối của căn phòng ngủ, ba tôi ngồi như pho tượng, mắt nổi gân đỏ, uất ức và đau đớn. Mẹ tôi kéo nhẹ tay tôi, thì thầm bảo để cho ba tôi yên. Hai mẹ con lang thang ra đầu ngõ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/vietnamese-diaspora.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="vietnamese diaspora" border="0" alt="vietnamese diaspora" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/vietnamese-diaspora_thumb.jpg" width="467" height="351" /></a></p>
<p align="center"><em>Người Giết Quỷ: Hiến Dâng Tình Yêu</em> (<em>Demon Slayer: Give Love</em>)    <br />Một khoảng tranh tường của Dan Duy Nguyen and Mailan Thi Pham    <br /> (Nguồn: <a href="http://sweeney.ucr.edu/exhibitions/demonslayer/" target="_blank">UCR SweeneyArtGallery</a>)</p>
<p align="left">&#160;</p>
<p align="left">Ông nội tôi chết hồi kháng Pháp, không phải chết trong một trận đánh Pháp, mà bị Việt Minh thủ tiêu. Lý do: ông tôi thuộc Việt Nam Quốc Dân Ðảng. Lúc mất, ông nội mới lấy bà nội hai năm, ba tôi mới ra đời. Ông tôi đặt tên ba là Phục Quốc, giữa niềm hãnh diện có con trai đầu lòng kèm thêm chút mặc cảm phải ngược xuôi nhiều không phụ bà tôi bao nhiêu trong chuyện lo lắng nuôi con. Nghe tin ông chết, bà tôi bế ba tôi về bên nội, nhưng ông cố tôi không nhận dâu vì lẽ chưa hề có cưới xin nghi lễ, chỉ nhận ba tôi, chút máu mủ không quăng được ra đường sợ mất mặt với người ta. Bà tôi lủi thủi về quê, hình như qua đời trong trận đói 1945. Lớn lên, ba tôi biết chuyện, giận cả họ nội, khởi đầu là ông cố tôi làm quan cho Pháp, chấp nê chuyện môn đăng hộ đối, không dung nổi nàng dâu con gái quê như bà tôi. Ba tôi cũng hận cả chính quyền ngoài Bắc, tội giết ông tôi. Vừa đủ tuổi, xong tú tài, ba tôi đăng lính nhảy dù, thề đem thân hy sinh trừ Cộng trả thù và hoàn thành ước nguyện của ông nội. Ông cố tôi vừa giận vừa xót, năn nỉ ba tôi để ông chạy chọt cho về làm lính kiểng. Dĩ nhiên ba tôi không chịu, và không năm nào qua đi ông không phải vào nhà thương một lần, với những vết sẹo và những miểng đạn còn lại trong thân thể. Gần ba mươi, sau khi lấy được lon cao nhất của cấp úy và vài huy chương, ba tôi lấy mẹ tôi. Mẹ tôi kể lính nhảy dù thường rất hào hoa, suốt thời gian yêu nhau không có lần nào mẹ vào thăm ba trong nhà thương mà không bị đụng đầu những cô gái khác, xinh đẹp hơn, gia thế hơn. Thế thì ba chắc hẳn yêu mẹ lắm, vì ba lấy mẹ, tôi háo hức nói. Mẹ cười: ba lấy mẹ vì mẹ yêu ba nhất, vì mẹ đã lặn lội đi thăm ba mọi nơi, vì mẹ đã khóc hết nước mắt những lần ba bị thương. Tôi ra đời rất nhanh sau đám cưới, vì ba tôi nôn nóng sinh con trai nối nghiệp quân nhân, vì mẹ tôi nôn nóng có một chút gì của ba tôi lỡ ra có chuyện chẳng lành trong những cuộc hành quân của ông. Ba có thất vọng tôi là con gái không? Mẹ nói là không. Nhưng ba có thất vọng sau này, khi mẹ tôi nhất định không sanh thêm. Làm vợ lính, đời sống bấp bênh quá, xa nhau nhiều khi cả nửa năm mới gặp một lần, mẹ không muốn phải nuôi con một mình, không muốn cái cảnh nheo nhóc của những căn nhà lợp tôn trong trại gia binh, không muốn sinh con trai cho ba tôi hiến vào chiến tranh.</p>
<p>Như thế, điểm mâu thuẫn trong khuynh hướng chính trị của tôi bắt nguồn từ hai người tạo dựng ra tôi. Ba tôi mang ý thức chính trị và đấu tranh từ trong nôi, ném mình vào những hận thù không dứt của cuộc nội chiến. Mẹ tôi chỉ thấy chiến tranh qua những câu chuyện kể về người khác, gớm ghiếc và sợ hãi nó, thấy chính trị là chuyện đáng ghét. Mẹ cấm ba không được nói chuyện chiến tranh trước mặt tôi, cố sức che chở tôi khỏi những hiểu biết và suy nghĩ chính trị hay bạo động. Mẹ không phải lo nhiều. Giữa Saigon những năm 60 và 70, chuyện chiến tranh nghe như chuyện phiếm, chính trị cũng chỉ là cớ để cãi nhau. Cũng như mẹ tôi, tôi biết về chiến tranh và chính trị vừa đủ để thấy chúng đáng ghét. Cũng như mẹ tôi, tôi càng ghét chiến tranh và những chủ nghĩa người ta mê mải chạy theo khi bắt đầu hiểu rằng chúng có thể cướp ba tôi đi. Cũng như mẹ tôi, lời cầu nguyện của tôi mỗi sáng Chủ Nhật đi lễ rất đơn giản: mong sao chiến tranh chấm dứt. Phe Quốc Gia hay phe Cộng, có gì là đáng kể? Phe nào cũng là dân Việt.</p>
<p>Năm 1975, tôi 16 tuổi. Ngày miền Nam sụp đổ rơi đúng vào ngày sinh nhật của tôi. Trong góc tối của căn phòng ngủ, ba tôi ngồi như pho tượng, mắt nổi gân đỏ, uất ức và đau đớn. Mẹ tôi kéo nhẹ tay tôi, thì thầm bảo để cho ba tôi yên. Hai mẹ con lang thang ra đầu ngõ, có đoàn người đứng lơ ngơ ngóng xem xe tăng Cách Mạng có đi qua lối này không. Có người cầm cờ đỏ sao vàng, cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam vẫy vẫy. Mẹ tôi đứng nhìn hút phía cuối đường, thở dài: thôi thì ít nhất ba sẽ không phải đi xa, không gặp nguy hiểm nữa. Tôi nắm chặt tay mẹ, bàn tay mỏi mệt vì tiễn đưa, trông đợi, nghĩ thầm ngày sinh nhật tôi từ nay thành đáng nhớ.</p>
<p>Tuần sau, ba đi trình diện chính phủ Lâm Thời, rồi chuẩn bị đi học tập. Ðôi mắt đã thoáng lo âu vì thấy ba phải rời nhà, mẹ cố cười tươi nói với ba vài ngày đâu có bao lâu anh nhỉ. Ba không trả lời. Ông đã lặng lẽ nhiều từ ngày giải phóng. Buổi sáng khi ba tôi đi, ông đứng trước hiên nhà, vuốt mãi hai bên vai tôi, không nói lời nào. Mắt ông nổi gân đỏ, có lẽ vì mủi lòng muốn khóc. Tuần sau, tuần sau nữa, ba không về, có tin ông đã lên tàu ra Bắc. Mẹ tôi bắt đầu mất ngủ. Không có thư ba về, chỉ có vợ người bạn ba ghé sang nhà báo cho mẹ tôi biết ba đã mất. Giấy báo tử không bao giờ đến. Mẹ tôi đi theo người vợ bạn ba ra Bắc, hỏi cho được tại sao ba chết và thăm mộ, nấm mộ vùi nông cạnh mé rừng của trại học tập. Câu chuyện kể lại mập mờ, bí hiểm trong những lời ra vẻ bâng quơ che mắt lính canh, nên mẹ tôi trở về vẫn chưa hiểu rõ cái chết của ba tôi. Bà ôm tôi vào lòng, hai mẹ con tấm tức khóc.</p>
<p>Lúc đó mẹ tôi vẫn là cô giáo tiểu học, nhưng lương không còn đủ nuôi hai mẹ con. Họ nội đi ngoại quốc hết, họ ngoại ở tỉnh, mẹ bơ vơ chẳng còn ai. Những chiếc áo hoa, mẹ không dám mặc nữa, đem cất đi hoặc nhuộm nâu. Cơm sơ sài tiện tặn, đôi khi độn khoai. Chuyện thiếu thốn tôi không buồn lắm, vì chung quanh hình như ai cũng khổ hơn xưa. Cái lý lịch ngụy làm tôi bận lòng hơn, vì tôi chắc rằng có phần vì nó mà tôi trượt kỳ thi vào đại học Tổng Hợp hai năm liền. Sau hai kỳ thi, mẹ tôi thôi dục tôi chờ thi năm tới, lẳng lặng nhìn tôi đi kiếm việc làm. Ðang lúc nhà nước lùa dân về miền kinh tế mới, kiếm được việc làm ở Saigon thật không dễ. Anh bạn hàng xóm cũng là bạn học giúp tôi xin chân bán hàng ở tiệm Bách Hoá quận. Anh tên Huy, hay trêu tôi lúc nhỏ, nhưng lớn rồi lại chiều tôi hết mức. Tôi mến anh lắm, nhưng không rõ có yêu anh chưa. Xin xong việc làm cho tôi, anh đương nhiên lọt vào cặp mắt chấm rể của mẹ, tha hồ xin cho tôi đi chơi, tha hồ nán lại trò chuyện tới khuya trước hiên nhà tôi. Cuối năm đó, anh đi vượt biên. Lúc từ giã, anh nài nỉ xin tấm hình của tôi, nhưng tôi mắc cỡ không cho. Hai tháng sau, tôi đánh bạo vào nhà anh hỏi tin. Không có tin. Hai năm sau, vẫn chưa có tin. Lần cuối cùng tôi ghé hỏi thăm, mẹ anh không trả lời, nhìn lên bàn thờ màu đỏ tươi có tấm ảnh anh mỉm cười.</p>
<p>Năm 1981 tôi làm giấy đi xuất ngoại. Mẹ tôi chạy chọt làm giả giấy tờ sao đó để biến hai mẹ con thành gốc Hoa, rồi cạy cục nhờ bên nội bảo lãnh. Năm sau tôi rời Việt Nam, đến Mỹ. Mẹ tôi bán hàng cho tiệm 7-11 rồi học thi vào sở Xã Hội. Tôi vừa học vừa làm.</p>
<p>Ra trường, đi làm đã lâu, tôi vẫn chưa kiếm được người ưng ý. Mẹ lại bắt đầu thở dài như dạo còn ở Việt Nam, cộng vào thêm nỗi lo trong lòng tôi. Năm ba mươi tuổi, tôi gặp Huân, và yêu anh lập tức, không những vì tôi đã đợi quá lâu để yêu một người, mà còn vì Huân đáp ứng nhiều điều mong đợi của tôi. Anh đi du học từ trước 1975, mới từ Pháp sang Mỹ làm việc. Lịch sự, nhã nhặn, rất biết cách nịnh đầm, có kiến thức và sành nghệ thuật, thêm bề ngoài lịch lãm tự tin, anh quyến rũ tôi ngay từ giây phút đầu. Tôi vui như con sáo sổ lồng, tíu tít lo chuyện đám cưới. Mẹ làu nhàu bảo tôi ham lấy chồng quá rồi, tôi cười lơ đi, biết rằng mẹ ghét Huân cái tội là đàn ông ly dị, với câu hỏi: lỗi ai? treo trên đầu. Tôi tự nghĩ dần dà mẹ sẽ nhận ra Huân là người tốt, rất mực yêu tôi, và sẽ thay đổi thái độ. Phần tôi, tôi chưa bao giờ hạnh phúc như thế. Lần đầu tiên tôi cảm thấy mình không có gì để lo lắng, và chân trời riêng tôi đêm ngày vẫn ửng màu bình minh không gợn chút mây đen.</p>
<p>Trước ngày cưới một tuần, anh ruột và vài người bạn thân của Huân từ Pháp đến dự đám cưới. Họ thân nhau đến nỗi sợ đến gần ngày cưới quá Huân sẽ bận rộn không có dịp hàn huyên. Buổi tối đầu tiên Huân gặp họ một mình. Tối thứ nhì anh nài nỉ tôi đi cùng ra mắt anh và bạn. Tôi bận trăm thứ chuyện lỉnh kỉnh của đám cưới, chống chế bảo họ thấy mặt em rồi, còn ra mắt gì nữa. Huân nói họ muốn biết rõ em hơn. Còn em, em không muốn biết rõ gia đình, bè bạn của anh hơn sao? Tôi nghĩ thầm mai này họ về Pháp, mấy khi gặp một lần mà cần thân mật. Nghĩ thế thôi, nhưng dĩ nhiên yêu Huân tôi chiều Huân, có gì mà không được. Tôi diện áo đẹp tươi tắn chào mừng họ. Cuối bữa ăn, mọi người rủ nhau về căn chung cư tôi và Huân mới thuê còn trống một nửa, vừa tán gẫu vừa làm liên hoan. Hết hai tuần rượu vang, họ bắt đầu nhắc lại những kỷ niệm cũ thời trẻ tuổi, thời học trò. Tôi im lặng như thóc, còn họ thân nhau từ nhỏ, có bao nhiêu chuyện để nói. Hóa ra Huân nghịch quá lắm, hồi còn học trường dòng chuyên môn giả vờ ngủ buổi trưa rồi lẻn ra ngoài sân chơi. Chưa hết tiểu học đã tập xe đạp xe gắn máy. Thời Trung Học lượn qua mấy trường nữ nhiều hơn học bài. Dần dà đến chuyện đi du học, những cô đầm Huân tán tỉnh được. Ðôi khi Huân liếc tôi như sợ tôi bực mình. Thoạt tiên tôi cười cười, nhưng khi đến cuộc tình lớn của bà vợ cũ của Huân thì tôi cười hết nổi. Huân vội vã chuyển đề tài. Hội sinh viên, hội Việt Kiều yêu nước, những buổi Văn Nghệ, những cái chống cái theo.</p>
<p>Chúng tôi chưa bao giờ nói chuyện chính trị với nhau. Lý lịch của Huân như tờ giấy trắng. Nhà buôn bán, khá giả vừa đủ để con cái đi du học ngoại quốc nhưng không đủ để bị đánh tư sản. Cả gia đình sang Pháp vài năm sau giải phóng. Lý lịch ngụy của tôi chỉ được nhắc đến sơ sài. Có lẽ tôi đã quen né tránh cái lý lịch đó, nên ngay với Huân, mười năm sau khi rời Việt Nam tôi vẫn không muốn kể lể về nó. Huân chỉ biết ba tôi xưa là lính, đã qua đời. Cả hai chúng tôi chỉ biết đến chiến tranh qua tin thời sự, nhạc Trịnh Công Sơn và vài ngày Tết hoang mang năm 1968. Tôi giống mẹ, chăm lo cho cuộc sống riêng và ứng phó với thời cuộc, cho rằng dính dáng hoặc bàn cãi về chuyện chính trị là viễn vông. Có lẽ tại tôi và mẹ là đàn bà. Huân không hay nói chuyện chính trị, không tham gia hội đoàn, không biểu tình cũng không thấy chống đối ai.</p>
<p>Ðêm đó, ngồi bên cạnh Huân và những người thân của anh, tôi lọt vào giữa cuộc mạn đàm chính trị. Những sai lầm của ông Diệm, của Mỹ, thối nát của ông Thiệu, sai lầm của chính quyền hiện thời ở Việt Nam, những thứ hủ hoá sẽ không đẩy Việt Nam tiến lên được về mặt kinh tế. Họ nhắc đến niềm vui nhẹ nhõm khi chiến tranh chấm dứt năm 1975, khi tinh thần dân tộc qua cuộc kháng Pháp và nội chiến đã thắng bằng sự thống nhất của hai miền Việt Nam. Họ nhắc đến sự đấu tranh gian khổ của miền Bắc, cái giận Mỹ nhúng tay vào Việt Nam, cái hả hê khi phong trào chống chiến tranh có kết quả, phong trào họ đã từng là thành viên. Tôi quay nhìn Huân. Mắt anh sáng rỡ những hồi ức của tuổi trẻ đầy ắp lý tưởng. Ngày 30 tháng Tư 1975, anh cùng bạn bè đến Tòa Lãnh Sự Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà chào mừng chiến thắng, hội Việt Kiều yêu nước tổ chức ăn mừng.</p>
<p>Tôi chưa bao giờ thấy Huân vui như thế, chưa bao giờ thấy Huân lạ như thế. Tôi chợt nhận ra giữa bao giòng cuốn khác nhau của chủ nghĩa, ý thức chính trị, phe phái ở Việt Nam, qua bao thay đổi của thời cuộc, qua bao trôi dạt của cuộc đời riêng, tôi chưa bao giờ ra khỏi giòng cuốn của mình, giòng cuốn tôi đã được đặt vào từ sự kết hợp của ba mẹ. Những người tôi quen hoặc là quốc gia đủ chiều hướng và mức độ hay ít nhất thuộc về đa số trầm lặng và khá thờ ơ, như mẹ và tôi chẳng hạn. Tôi chưa bao giờ gặp một người ở phe &quot;bên kia&quot;. Hai chữ &quot;bên kia&quot; đến trong ý tưởng làm tôi thấy Huân xa lạ và chính mình cũng xa lạ. Tôi đã thuộc về phe &quot;bên này&quot; từ bao giờ?</p>
<p>Khi một người bạn của Huân cao hứng hát với vẻ say sưa: cây lúa non chờ từng cơn mưa nhỏ(1), một cảm giác đen tối cuộn lên trong lòng tôi. Tôi chen vào giữa nụ cười của Huân, đòi về. Anh quàng vai tôi lúc mở cửa xe, thì thầm: Chắc là em mệt? Anh xin lỗi. Mắt anh vẫn lấp lánh những hồi ức xưa cũ.</p>
<p>Mẹ tôi đã đi ngủ lúc Huân chở tôi về nhà. Phòng khách chìm trong bóng tối, nhưng tôi vẫn thấy được lờ mờ nhờ ngọn đèn trên bàn thờ ba. Ngang qua bàn thờ, tôi dừng lại, mò mẫm thắp nhang. Nhón chân cắm nhang vào bình hương, tôi nhìn thẳng vào tấm hình của ông. Trong bóng tối, tôi mường tượng đôi mắt ông, cái nhìn lạnh, cương quyết, liều lĩnh, cái nhìn của một người biết rõ sứ mạng cuộc đời mình. Bên cạnh, hình ông nội đã phóng và sửa sang, đôi mắt không còn bao nhiêu anh linh, mờ đục một vẻ trầm tĩnh chịu đựng. Tôi thắp thêm nén nhang nữa, không hiểu cho ai. Trong lòng tôi, mang máng cặp mắt của Huy, tha thiết khẩn nài buổi tối chia tay.</p>
<p>Hai ngày trước đám cưới, tôi để lại phong thư báo cho Huân biết tôi hồi hôn, kèm theo nhẫn, rồi trốn biệt một tháng trời. Mẹ tôi ngơ ngác không hiểu, Huân giận điên lên chờ tôi về hỏi cho ra lẽ. Nhìn thấy Huân, tôi khóc như mưa. Tại sao? Huân hỏi. Tôi khóc cho đến khi Huân mệt mỏi bỏ về. Mẹ thở dài.</p>
<p>Tôi không giải thích với Huân vì tôi chắc Huân sẽ không hiểu. Tôi còn chưa hiểu nữa là. Tôi chỉ biết rằng tôi căm ghét chính trị, chủ nghĩa, chiến tranh, nhưng trong tôi có những gốc rễ, những mối dây chằng chịt tôi không nhận rõ, nhưng ràng buộc hơn cả tình yêu, cả những hứa hẹn tôi có với Huân. Tôi chỉ biết rằng tôi và Huân không thể dứt bỏ hay quên đi những phần đời đã qua, những góc cạnh thường không biểu lộ. Tôi cứ nghĩ tôi và mẹ nằm trong số những người đứng giữa hai chủ nghĩa, đứng giữa hai phe của cuộc chiến. Chỉ đến khi vị trí của Huân trong tầm nhìn của tôi chuyển về &quot;bên kia&quot;, tôi mới thấy mình đứng cạnh, đứng sau cái cột mốc vô hình của &quot;bên này&quot;.</p>
<p>Năm sau tôi gặp lại Thụy, người tôi từng chê tầm thường. Anh không ưa chính trị như tôi không ưa chính trị, ba mẹ Bắc Kỳ chính cống khá cổ hủ. Ðã biết nhau lâu, đám cưới diễn ra nhanh chóng. Thụy có đầu óc gia đình kiểu xưa, nên thuận ở chung với mẹ tôi. Anh chưa bao giờ có vợ, trông lù đù nên mẹ tôi ưa lắm. Anh yêu tôi cũng theo kiểu xưa, yêu vì những đứa con tôi sẽ sinh ra nhiều hơn yêu tôi. Ngày cưới, mẹ đích tay chải tóc cho tôi. Mắt bà rạng lên những niềm vui. Còn tôi, trong gương đôi mắt tôi bình thản, chịu đựng như đôi mắt ông nội trên bàn thờ. Ngoài cửa sổ, chân trời nằm trên hàng giậu lá xanh, có nửa đám mây trắng, và tiếng Thụy gọi tôi từ dưới lầu.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/installation1.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 8px 10px 7px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="installation" border="0" alt="installation" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/installation_thumb1.jpg" width="527" height="352" /></a></p>
<p align="center">Toàn diện bức tranh tường <em>Người Giết Quỷ</em> của Dan Duy Nguyen và Mailan thi Pham (24 ft.)     <br />(Nguồn: <a href="http://sweeney.ucr.edu/exhibitions/demonslayer/" target="_blank">UCR SweeneyArtGallery</a>)</p>
<p>(1) Tình đất đỏ miền đông – Tác giả: Trọng Tấn</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/24083/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

